SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT 4 THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC
TẾ TRONG DẠY HỌC PHẦN KHÚC XẠ ÁNH SÁNG Ở
CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 11
Người thực hiện: Trịnh Văn Toàn
Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Vật lý
THANH HOÁ NĂM 2017
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ
1.
ĐẦU...........................................................................................................2
1.1.
Lý
do
chọn
đề
tài...........................................................................................2
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................3
thực
2.1.3. Các hình thức thể hiện bài tập có nội dung thực tế................................4
2.1.4. Định hướng
tế................................5
trả
lời
các
bài
tập
có
nội
dung
thực
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.................7
2.2.1. Thực trạng về vấn đề vận dụng kiến thức vật lý vào thực tế đời sống
của
học
sinh
2
3.1.
luận........................................................................................................19
Kết
3.2.
nghị......................................................................................................19
Kiến
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, việc đổi mới giáo dục diễn ra rất sôi động trên
thế giới và ở nước ta. Để đáp ứng tốt sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung,
phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học.
Xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là nhằm mục đích phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, trong đó giáo viên đóng vai trò là
người tổ chức, điều khiển sự học tập của học sinh. Còn học sinh tự tìm tòi, tìm
kiếm kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Có thể nói, trong cách dạy học
hiện nay các phương pháp dạy học tích cực đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Thực trạng ở nhiều trường trung học phổ thông hiện nay việc giảng dạy các
kiến thức khoa học nói chung và kiến thức vật lý nói riêng, còn đang nặng về
việc truyền thụ lý thuyết trong sách giáo khoa, nhiều khi học sinh ghi nhớ kiến
thức một cách máy móc theo kiểu học thuộc lòng. Việc dạy học chủ yếu là vì
mục tiêu làm sao để học sinh có thể giải nhanh và giải được nhiều các câu trong
đề thi. Cách học và cách dạy đó dẫn tới một hệ quả là học sinh rất thụ động
chất lượng dạy học vật lý ở trường trung học phổ thông.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Do điều kiện hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu:
Khai thác và sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong dạy học phần khúc
xạ ánh sáng ở chương trình vật lý 11 .
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp lý thuyết.
2. Phương pháp thực tiễn.
3. Phương pháp điều tra.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Hiện nay trong sách giáo khoa vật lý đã đưa các bài tập thực tế vào nội
dung chương trình, song do nhiều hạn chế và phải đảm bảo yêu cầu nội dung
của sách giáo khoa nên số lượng bài tập thực tế chưa được nhiều, nội dung và
hình thức chưa thật phong phú, dẫn đến việc sử dụng bài tập thực tế của giáo
viên trong dạy học còn rất ít. Đề tài sáng kiến kinh nghiệm này giúp cho giáo
viên và học sinh có thêm nhiều bài tập thực tế phong phú để tham khảo, sử dụng
trong việc giảng dạy và học tập phần khúc xạ ánh sáng.
- Nhiều tác giả đã đề cập đến các bài tập thực tế trong tài liệu, nhưng chưa
tập trung khai thác xây dựng bộ bài tập thực tế và chưa định hướng cách sử
dụng, chưa nêu ra các biện pháp sử dụng cụ thể giúp giáo viên sử dụng chúng
một cách có hiệu quả trong hoạt động nhận thức của học sinh trong giờ lên lớp
môn vật lý. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần khắc phục những vấn đề
trên.
4
- Đề tài góp phần xây dựng được tài liệu về bài tập thực tế trong dạy học
phần quang hình học ở trường trung học phổ thông.
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
- Bài tập thực tế sáng tạo là loại câu hỏi mà khi giải, học sinh phải dựa vào
vốn kiến thức của mình về sự hiểu biết của các quy tắc, định luật, trên cơ sở các
phép suy luận logic tự lực tìm ra những phương án kỹ thuật tốt nhất để giải
quyết yêu cầu đặt ra của câu hỏi.
Ví dụ: Người ta muốn tháo ra ngoài một cái đinh ốc làm bằng thép đã được
vặn rất chặt vào đai ốc làm bằng đồng. Hãy tìm một phương án đơn giản để việc
tháo đinh ốc ra trở nên dễ dàng hơn.
2.1.3. Các hình thức thể hiện bài tập có nội dung thực tế
Do đặc điểm bài tập thực tế là nội dung của chúng gắn liền với những
hiện tượng, sự vật gần gũi với thực tế đời sống và chú trọng đến những ứng
dụng kĩ thuật đơn giản tương ứng nên phần lớn các câu hỏi thường được thể
hiện bằng lời, một số câu hỏi mà nội dung chứa đựng nhiều thông tin có thể
dùng hình vẽ, hình ảnh, hay các đoạn phim video clip ngắn để minh hoạ.
Thể hiện bài tập thực tế bằng lời
Cách thể hiện bài tập thực tế bằng lời chỉ sử dụng khi sự vật, hiện tượng
hay các thao tác kĩ thuật được đề cập đến hoàn toàn có thể mô tả một cách ngắn
gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ tưởng tượng. Khi nghe xong câu hỏi học sinh có thể
hiểu và tưởng tượng ngay một cách chính xác những thông tin về vấn đề mà các
em cần phải giải thích.
Ví dụ: Tại sao khi xe đang chạy trên đường, nếu hãm phanh đột ngột thì ta
ngã về phía trước?
Thể hiện bài tập thực tế bằng cách dùng hình vẽ, ảnh chụp minh họa
Cách thể hiện bài tập thực tế thông qua hình vẽ, hình ảnh minh họa được sử
dụng trong những trường hợp có nhiều thao tác kỹ thuật phải trải qua nhiều giai
đoạn khác nhau, nên chỉ mô tả bằng lời thì sẽ rất dài dòng, khó hiểu, học sinh
khó tưởng tượng.
Thể hiện bài tập thực tế bằng các đoạn phim video clip ngắn minh họa
Trong những điều kiện cho phép, việc thể hiện bài tập thực tế thông qua
những đoạn phim video clip ngắn minh họa có tác dụng rất cao vì khi quan sát,
học sinh có cái nhìn khái quát, theo dõi được trình tự thực của hiện tượng xảy
giữa đặc tính của sự vật và cách làm cụ thể nêu trong câu hỏi với một số hiện
tượng hay định luật vật lí, tức là phải thực hiện các phép suy luận logic, trong đó
cơ sở kiến thức phải là một đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí có
tính tổng quát áp dụng vào những điều kiện cụ thể của đề bài mà kết quả cuối
cùng là việc nêu bật tính ứng dụng của kiến thức vật lí vào hiện tượng hay cách
làm đã được nêu trong đề bài.
Thực tế cho thấy, các bài tập thực tế thường rất đa dạng vì nó phản ánh
chân thực những công việc cụ thể thường diễn ra trong cuộc sống, nên đối với
học sinh trung học phổ thông, thoạt nhìn thì khó có thể phát hiện ngay được mối
quan hệ giữa hiện tượng, sự việc đã cho với những định luật vật lí đã biết. Trong
những trường hợp như thế, cũng cần phân tích hiện tượng phức tạp ra các hiện
tượng đơn giản sao cho mỗi hiện tượng đơn giản chỉ tuân theo một định luật hay
một quy tắc nhất định.
Bước 4. Kiểm tra tính chính xác của bài tập
Đối với loại bài tập thực tế tập dượt, vì trong đề bài nêu rõ sự kiện và các
thao tác kĩ thuật (cách làm) tương ứng nên cũng có trường hợp lời giải thích có
chỗ bị sai mà không xác định được mình sai ở điểm nào. Nên hết sức thận trọng
khi phát biểu các định luật, các quy tắc làm cơ sở lập luận, chú ý các điều kiện
áp dụng các quy tắc, các định luật bởi vì nhiều quy tắc, định luật vật lý chỉ được
áp dụng trong một phạm vi hẹp nào đó, trong khi đó các sự kiện diễn ra trong
thực tế đời sống chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau có thể vượt ra
ngoài phạm vi vận dụng của các quy tắc, định luật đã vận dụng trong quá trình
lập luận. Thông thường để có thể kiểm tra tính hợp lí của các câu trả lời cần đối
7
chiếu phạm vi áp dụng các quy tắc hay định luật vật lý đã sử dụng với các yếu
tố tác động sự kiện được nêu trong câu hỏi xem chúng có tương đồng và có thể
chấp nhận hay không. Trong nhiều trường hợp có thể làm những thí nghiệm, mô
hình đơn giản (có tính tương đồng với sự kiện đã nêu trong bài tập) để kiểm
Bên cạnh việc dùng lí thuyết (kiến thức vật lí) để kiểm tra thì một trong các
biện pháp có hiệu quả nhất để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của phương án
đã lựa chọn là tiến hành thực nghiệm. Ở các trường THPT hiện nay, do những
khó khăn về cơ sở vật chất nên biện pháp này khó có thể thực hiện được một
cách triệt để, trong những điều kiện như thế nên tận dụng những thí nghiệm đơn
giản có thể tự làm bằng những vật dụng thông thường (có sẵn trong gia đình).
8
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thực trạng về vấn đề vận dụng kiến thức vật lý vào thực tế đời sống
của học sinh trung học phổ thông hiện nay
Chương trình vật lí trung học phổ thông hiện nay bao gồm nhiều phần khác
nhau như cơ học, nhiệt học, quang học, điện học… Mỗi phần lại bao gồm nhiều
đơn vị kiến thức khác nhau tương ứng với các cách tiếp cận kiến thức khác
nhau. Với một khối lượng kiến thức lớn như vậy, lẽ ra việc vận dụng kiến thức
vào đời sống, việc vận dụng những kiến thức vào đời sống, việc giải thích các
hiện tượng xảy ra hằng ngày xung quanh các em không phải là vấn đề khó khăn.
Nhưng điều đó đã không diễn ra trên thực tế như những gì chúng ta mong đợi.
Những câu hỏi kiểu như “Vào những trưa nắng khi đi trên đường cao tốc ta
có cảm giác dường như có vũng nước trên đường ở phía trước mặt đó là do hiện
tượng vật lý nào? ” hay “Công tơ điện dùng để đo đại lượng vật lý nào? ” khiến
nhiều học sinh không thể trả lời được. Ngay cả với các em học sinh giỏi, khi làm
những làm những bài toán có liên quan tới kiến thức thực tế chẳng hạn như loại
bài tập về phương án thực hành thì các em cũng rất khó khăn trong việc tìm
hướng giải quyết.
Trong quá trình giảng dạy môn vật lý tại đơn vị, kết hợp với việc khảo sát ở
các đối tượng học sinh trung học phổ thông của các trường lân cận, tôi nhận
thấy thực trạng về vấn đề vận dụng kiến thức vật lí vào đời sống thực tế của học
sinh trung học phổ thông hiện nay còn rất nhiều hạn chế. Những biểu hiện phổ
phong phú và dành thời gian cho học sinh suy nghĩ, thảo luận, liên hệ với thực
tế, giúp cho học sinh giải quyết được các tình huống theo hướng tích cực hoá
hoạt động nhận thức, học sinh có điều kiện được suy nghĩ nhiều hơn, làm việc
nhiều hơn và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cũng linh hoạt hơn.
Theo tôi, để đạt được mục tiêu này cần phải thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cần có những đổi mới tích cực trong việc soạn bài dạy trên lớp
của giáo viên.
Theo tôi, đây là giải pháp có thể thực hiện được ngay ở các trường phổ
thông. Khi soạn bài dạy, giáo viên cần lưu tâm nhiều đến việc làm sao cho học
sinh có thể vận dụng tốt các nội dung kiến thức trong bài dạy vào thực tế, muốn
vậy giáo viên phải lồng ghép vào bài dạy nhiều câu hỏi thực tế có liên quan trực
tiếp đến bài học, qua đó giúp học sinh có thể liên hệ từ kiến thức đã học với thực
tiễn cuộc sống của mình. Nó sẽ có tác dụng rất lớn trong nhận thức và phương
pháp học tập của học sinh. Đồng thời, giáo viên có thể tăng thêm hiệu quả của
câu hỏi thực tế bằng cách sử dụng thêm câu hỏi thực tế ở phần cuối của đề kiểm
tra hay đề thi. Như thế, với tỉ lệ điểm số không cần lớn lắm trong bài kiểm tra ta
vẫn có thể đưa việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn thành một trong những
mục tiêu của quá trình học tập của học sinh.
Thứ hai, việc đổi mới phương pháp dạy học cần phải được tiến hành rộng
khắp, các hình thức dạy học theo lối “thông báo - tái hiện”, “dạy chay” cần phải
từng bước xoá bỏ, thay vào đó là các phương pháp dạy học mới, hiện đại hơn.
Xu hướng dạy học mới hiện nay là dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực nhận thức của học sinh. Theo đó:
- Nội dung dạy học phải mới, cái mới ở đây không phải là quá xa lạ với học
sinh, cái mới phải liên hệ và phát triển từ cái cũ, kiến thức phải có tính thực tiễn,
gần gũi với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày, thoả mãn nhu cầu nhận thức của
học sinh.
- Cần phối hợp tốt nhiều phương pháp như nêu vấn đề, thí nghiệm, thực
hành, so sánh... kiến thức phải được trình bày trong dạng động.
- Sử dụng phối hợp tốt các phương tiện dạy học. Sử dụng nhiều hình thức
Bài 1: Nhúng một chiếc thìa vào trong nước, ta
thấy chiếc thìa đó như bị gãy tại mặt nước như
hình 1. Hãy giải thích tại sao?
(Hình 1)
Nhận xét: Đây là dạng bài tập thực tế loại tập dượt.
Phân tích bài tập: sau khi đọc kỹ đầu bài, ta rút ra một số thông tin như
sau:
- Sự kiện nêu ra trong bài tập là: nhúng chiếc thìa vào ly nước.
- Thao tác tiến hành: sau khi nhúng chiếc thìa vào ly nước, quan sát chiếc
thìa đó và đưa ra nhận xét.
- Vấn đề cần giải quyết: ta thấy chiếc thìa đó như bị gãy ở mặt nước. Hãy
giải thích tại sao?
11
Định hướng trả lời bài tập
- Từ điều kiện nhìn thấy ảnh của một vật: tia sáng phải xuất phát từ vật
truyền đến mắt.
- Chiếc thìa như “bị gãy” ở mặt nước nguyên nhân do tia sáng từ đầu dưới
của chiếc thìa đến mắt ta không theo một đường thẳng. Tức là tia sáng bị lệch
phương khi đi từ môi trường nước ra môi trường không khí và truyền đến mắt
ta.
- Sử dụng định luật khúc xạ ánh sáng để giải quyết bài tập này.
Xây dựng câu trả lời cho bài tập
Sở dĩ ta thấy chiếc thìa như “bị gãy” ở mặt nước là do hiện tượng khúc xạ
ánh sáng. Tia sáng đi từ đầu dưới của chiếc thìa (đầu ngập trong nước) bị khúc xạ
từ nước vào không khí trước khi đến mắt ta. Vì vậy hình ảnh đầu dưới của chiếc
thìa như được nâng lên, trong lúc đó điểm chiếc thìa cắt mặt nước có ảnh trùng
khi chiếu đến chúng ta là đồng đều.
Hiện tượng lấp lánh trên ta càng thấy rõ hơn khi nhìn các ngôi sao càng gần
phía chân trời, với các ngôi sao đó, góc nhìn tương ứng với các vị trí đó là lớn
nên ta càng quan sát rõ hơn. Còn các ngôi sao ngay ở trên đỉnh đầu thì ta không
thể quan sát thấy hiện tượng đó.
13
Bài 4: Khi chiếu ánh sáng Mặt
Trời vào một bể cá, ta thấy dưới đáy
bể có những vệt sáng ngoằn ngoèo.
Hãy giải thích hiện tượng trên?
(Hình 4)
Gợi ý trả lời: Nếu bể nước hoàn toàn yên lặng thì sự khúc xạ của các tia
sáng Mặt Trời vào nước là như nhau, mọi điểm trên đáy bể đều có cường độ
sáng như nhau nên không có hiện tượng này xảy ra. Khi có cá bơi trong bể,
nước trong bể bị lay động, mặt nước xuất hiện những gợn sóng nhỏ mà mắt
thường có thể không nhìn thấy được những gợn sóng này. Chính vì lẽ đó mà sự
khúc xạ của các tia sáng Mặt Trời vào trong nước không đồng đều, có những
chỗ nhận được nhiều tia sáng khúc xạ làm cường độ sáng đó mạnh hơn, những
chỗ ít nhận được tia khúc xạ làm cường độ sáng chỗ đó yếu hơn. Kết quả là trên
đáy bể, ta thấy những vệt sáng ngoằn ngoèo.
Bài 5: Đôi khi chúng
ta thấy xung quanh Mặt
trời hay Mặt trăng xuất
hiện một vầng hào quang
mờ mờ, vầng sáng này được
(Hình 6)
Nhận xét: Đây là dạng bài tập thực tế loại tập dượt.
Phân tích bài tập: Sau khi đọc kỹ bài ta rút ra một số thông tin như sau:
- Sự kiện nêu ra trong đầu bài: vào những ngày mùa hè nóng nực, ít gió.
Khi đi trên xe ôtô, xe mô tô nhìn về phía trước đường nhựa. Nhận xét về hiện
tượng ta hay bắt gặp.
- Vấn đề cần giải quyết: khi nhìn về phía trước đường nhựa, ở đằng xa ta
thấy mặt đường loang loáng như có nước nhưng khi đến gần thì mặt đường khô
ráo. Hãy giải thích?
Định hướng các câu hỏi cho việc phân tích và xác lập câu trả lời cho bài
tập.
- Hiện tượng trên liên quan đến tính chất nào của ánh sáng?
- Vì sao những ngày nắng, ít gió ta mới nhìn thấy hiện tượng này? Thế còn
khi có gió thì sao?
- Hiện tượng này xảy ra ở mặt đường đất hay không?
- Tại sao ta lại có cảm giác như có nước chảy qua, nhưng khi đến gần thì
mặt đường khô ráo?
Xây dựng câu trả lời.
- Hiện tượng trên là do sự khúc xạ và hiện tượng phản xạ toàn phần của
ánh sáng qua các lớp không khí gây nên.
- Mặt đường trong những ngày nắng bị Mặt Trời nung nóng. Mặt đường
nhựa làm bằng hắc ín nên hấp thụ nhiệt tốt, do đó nhiệt độ mặt đường là rất
cao. Hiện tượng trên không xảy ra trên mặt đường đất vì mặt đường đất có
nhiệt độ không cao, và mặt đường đất không bằng phẳng như mặt đường
nhựa.
- Không khí tiếp xúc với mặt đường cũng được nung nóng, càng lên cao
nhiệt độ càng giảm nên chiết suất của không khí càng tăng. Ta có thể xem như là
15
-Thành phố ảo “hiện hình” trên biển
(Hình 8). Ngày 21 – 12 – 2006, hàng
nghìn người đã đổ về bờ biển Penglai
(Trung Quốc) để chứng kiến hiện tượng
ảo ảnh kỳ lạ: từ trong lớp sương mù dày
đặc, một thành phố hiện đại với những
tòa nhà chọc trời, đường sá thênh thang,
xe cộ tấp nập... dần dần lộ ra, thật và rõ
đến ngỡ ngàng.
(Hình 8)
16
- Một đoàn lữ hành rảo bước trên sa mạc nóng bỏng. Trời đã về chiều, họ
mong tới một hòn đảo khi màn đêm
buông xuống. Bỗng họ thấy từ xa một
vũng nước lấp loáng, trên đó in bóng
những cây cọ xanh mát (Hình 9). Họ
vội bước tới, nhưng khi đến nơi, họ
ngạc nhiên và thất vọng chỉ nhìn thấy
những cây cọ trên mặt cát khô, không
một giọt nước. Em hãy giải thích cho
đoàn lữ hành rõ tại sao lại như vậy nhỉ?
(Hình 9)
- Các thủy thủ thường quan sát thấy hiện tượng có con tàu chạy dưới các đám
mây và họ gọi đó là “tàu ma”. Liệu có một con tàu như vậy? Hãy giải thích?
Bài 2: Dựa vào hiện tượng phản
xạ toàn phần, người ta đã chế tạo ra
hoa lá cây cỏ có những hạt
sương. Dưới ánh sáng mặt
trời ta thấy chúng sáng lung
linh. Vì sao?
(Hình 12)
Gợi ý trả lời: Do hiện tượng phản xạ toàn phần.
Bài 4: Kim cương là tinh thể
trong suốt đối với ánh sáng nhìn thấy.
Như vậy lẽ ra kim cương phải không
màu như thủy tinh mới đúng, nhưng
trái lại viên kim cương lại có nhiều
màu lấp lánh. Tại sao?
(Hình 13)
Gợi ý trả lời: Sở dĩ kim cương có nhiều màu lấp lánh vì kim cương có chiết
suất lớn ( khoảng 2,4). Ánh sáng ban ngày có thể phản xạ toàn phần với góc giới
hạn phản xạ toàn phần nhỏ ( khoảng 24,60) và có thể phản xạ toàn phần nhiều
lần qua các mặt trong tinh thể kim cương rồi mới ló ra ngoài. Lúc đó do hiện
tượng tán sắc mà các màu của quang phổ ánh sáng trắng được phân tán, vì thế
trong kim cương ta thấy có nhiều màu sắc.
Bài 5: Hiện nay, người ta đang sử dụng một số biển báo hiệu giao thông,
biển số xe ôtô, biển số xe mô tô,... có tính chất phản quang. Khi gặp những biển
báo này, chỉ cần những ánh sáng nhỏ chiếu vào nó cũng đủ cho ta quan sát
được rất rõ. Chúng được chế tạo như thế nào mà có công dụng lớn như vậy
nhỉ?
Gợi ý trả lời: Kiểm tra kỹ về cấu tạo
tại đơn vị công tác, tôi nhận thấy trong giờ học các em học sinh đã có sự say mê
hơn, hứng thú hơn và đặc biệt là các em đã tích cực hoạt động hơn rất nhiều. Sự
tiếp thu kiến thức ở học sinh cũng có những chuyển biến rõ rệt. Đặc biệt khả
năng vận dụng kiến thức bài học vào thực tiễn cũng được cải thiện đáng kể.
Tôi đã chọn “ Bài 26 – Khúc xạ ánh sáng – Vật lý 11 cơ bản ” để tiến hành
kiểm chứng kết quả đạt được của đề tài, chọn lớp 11A 5 làm lớp thực nghiệm áp
dụng đề tài và lớp 11A6 là lớp không được áp dụng đề tài làm lớp đối chứng (hai
lớp có trình độ tương đương). Sau khi giảng dạy xong bài học ở hai lớp tôi đều
cho các học sinh làm một bài kiểm tra 15 phút với nội dung là các câu hỏi thực
tế liên quan tới bài học ( những câu hỏi này không có trong nội dung của bài dạy
tôi đã soạn). Nội dung câu hỏi như sau:
Câu 1: Một người nhìn thấy con cá ở trong nước. Nếu muốn đâm trúng
con cá thì người đó phải phóng mũi lao vào chỗ nào? Tại sao lại như vậy nhỉ?
19
Câu 2: Trong thực tế, người ta nhìn thấy Mặt Trời ló ra khi nó chưa mọc
thực sự ngang đường chân trời. Và tương tự, vào lúc hoàng hôn ta vẫn còn nhìn
thấy Mặt Trời khi nó thực sự lặn ở chân trời. Tại sao lại xảy ra như vậy nhỉ?
Với tiêu chí là đánh giá khả năng của học sinh trong việc vận dụng kiến thức đã
học vào thực tế, tôi thu được kết quả như sau:
Lớp
Sĩ số
Số học sinh đạt điểm ni
0 ≤ ni < 3,5
3,5 ≤ ni < 5
45,7%
32,6
15,2%
6,5%
(11A6)
Qua bảng kết quả thu được tôi nhận thấy việc vận dụng kiến thức bài học
vào thực tế của lớp thực nghiệm đạt kết quả rất tốt, các em học sinh được học
bài trong đó có sử dụng “ bài tập thực tế ” trong quá trình dạy học đã có thói
quen và sự chủ động trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, qua đó kĩ năng
sống của các em cũng được cải thiện đáng kể.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Xuất phát từ những yêu cầu hết sức cần thiết của việc cải thiện khả năng vận
dụng kiến thức vào thực tế của học sinh, đặc biệt là đối với môn vật lý, tôi đã
mạnh dạn xây dựng đề tài này mong muốn góp phần làm thay đổi thói quen học
tập thụ động, thiếu tính thực tế của học sinh, giúp tăng hiệu quả của quá trình
giảng dạy, và hơn hết là giúp học sinh tự tin hơn trong cuộc sống bằng chính
những kiến thức mình đã được học tập. Qua việc nghiên cứu tài liệu cũng như
hiểu biết từ thực tế giảng dạy ở đơn vị công tác, tôi nhận thấy đề tài này rất cần
thiết và có tính ứng dụng cao. Nó giúp cho học sinh khắc phục được sự yếu kém
trong việc vận dụng kiến thức vật lý vào thực tế, đồng thời phát huy tối đa tính
sáng tạo, gây hứng thú tìm tòi, phát hiện và giải thích các hiện tượng Vật lý của
học sinh. Về mặt tình cảm, học sinh cảm thấy yêu thích môn Vật lý hơn .
3.2. Kiến nghị
Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn, các tài liệu mới được cập nhật
chưa nhiều, những vấn đề nêu ra chỉ là sự tìm tòi riêng của bản thân trong quá
Thanh
ngàychế
20trong
thángđề5 tài.
sao thiện
chép và
nộiđược
dungáp
dụng rộng rãi trong ngành.
của người khác.
Trịnh Văn Toàn
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Vật lý 11, nhà xuất bản Giáo dục 2007.
[2]. Vật lý 11 Nâng cao, nhà xuất bản Giáo dục 2007.
[3]. Sách giáo viên Vật lý 11, NXB Giáo dục 2007.
[4]. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa, Môn
vật lý 11, NXB Giáo dục.
[5]. Bất ngờ và lý thú trong vật lý, NXB Đà Nẵng tác giả Mạnh Hùng – Việt
Thanh.
[6]. Xây dựng hệ thống bài tập định tính nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo trong hoạt động nhận thức của học sinh sau khi giảng dạy phần
quang hình học và tán sắc ánh sáng”, tác giả Trần Thế An, Khóa luận tốt
nghiệp 2007.
[7]
Vật lý vui, quyển 1 và quyển 2, NXB Giáo dục 2002 tác giả I.A.Ipê-RemMan.
[8]. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học Vật lý ở trường
trung học phổ thông, NXB đại học quốc gia Hà Nội, 2001 tác giả Nguyễn
lên lớp theo chủ đề sử dụng
năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả
C
2010
2.
Sử dụng các phép toán véc tơ Cấp tỉnh
trong bài toán liên quan tới
động lượng
C
2011
3.
Sử dụng vòng tròn để giải Cấp tỉnh
quyết bài toán liên quan đến
quãng đường đi trong dao
động điều hòa
C
2012
22