HỌC VIỆN CHÍNH TRI QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
HOÀNG VĂN LUÂN
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ LĨNH VỰC Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2015-2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Hà Nội, tháng 04 năm 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRI QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỀ ÁN
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
LĨNH VỰC Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2015-2020
Người thưc hiện: Hoàng Văn Luân
Lớp: Cao cấp lý luận Chính trị Khóa 14, tỉnh Lạng Sơn
Chức vụ: Trưởng Phòng
Đơn vị công tác: Phòng y tế huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
An toàn thực phẩm
2
VSATTP
An toàn vệ sinh thực phẩm
3
CB
Cán bộ
4
CCVC
Công chức viên chức
5
DS-KHHGĐ
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
6
KHHGĐ
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề án
Công tác chăm sức khỏe nhân dân là một trong những nhiệm vụ
hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta vì sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi
con người, sức khỏe đó là trạng thái thoải mãi cả về vật chất lẫn tinh
thần, có sức khỏe là có tất cả Do đó ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào thì vấn
đề chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn là vấn đề cốt lõi của mỗi quốc gia,
nó trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm
và đầu tư nhiều nguồn lực cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân từ
khâu phòng bệnh đến chữa bệnh, chủ động trong công tác phòng chống
các dịch bệnh nguy hiểm mới nổi mang tính toàn cầu như CúmA H5N1,
dịch Ebola… do đó đã không để sảy ra các dịch bệnh lớn trên phạm vi cả
nước nói chung, tỉnh Lạng Sơn và huyện Văn Quan nói riêng, Nhà nước
đã phối hợp cùng các quốc gia trên thể giới và khu vực thực hiện tốt
công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không để các vụ ngộ độc
thực phẩm lớn và các dịch bệnh lây qua đường thực phẩm ảnh hưởng lâu
dài đến sức khỏe nhân dân và vấn đến an sinh xã hội, làm tốt được
những điều căn bản ấy các chỉ số về sức khỏe nhân dân không ngừng cải
thiện, nhiều căn bệnh hiểm nghèo dần được đẩy lùi, phát triển được
nhiều kỹ thuật lâm sàng hiện đại như mổ Tim, ghép Thận, ghép Gan…
nền Y học Việt Nam đã có vị thế trên trường quốc tế. Cùng với sự phát
triển chung của ngành y tế, huyện Văn Quan trong những năm qua đã có
nhiều cố gắng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, chất lượng
công tác phòng bệnh, khám chữa bệnh từng bước được nâng lên, đã có
nhiều cơ sở hành nghề y, dược tư nhân được thành lập góp phần xã hội
hóa trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác vệ sinh an toàn thực
3
sức khỏe nhân dân, là tiền đề quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, với lý do đó đồng thời gắn với vị trí, chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn đang công tác của mình do vậy tôi chọn đề tài
“Tăng cường Quản lý Nhà nước về lĩnh vực y tế trên địa bàn huyện Văn
Quan tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 - 2020” làm đề án tốt nghiệp cao cấp
lý luận chính trị.
2. Mục tiêu của đề án
2.1. Mục tiêu chung
Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực y tế trên địa bàn huyện Văn
Quan được tăng cường nhằm xây dựng hệ thống y tế trên địa bàn huyện
từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về phòng bệnh, khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; góp phần cải thiện chất lượng
cuộc sống của nhân dân, thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2015- 2020 đề ra về lĩnh
vực Y tế.
2.2. Mục tiêu cụ thể
2.2.1. Công tác quản lý nhà nước về Khám bệnh, chữa bệnh
- Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác khám, chữa bệnh,
cấp thẻ Bảo hiểm Y tế và khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế đảm bảo đúng
các qui định của pháp luật. Thường xuyên quán triệt, triển khai các qui
định của Pháp luật về khám chữa bệnh đến toàn thể cán bộ công chức,
công nhân viên chức trong toàn ngành Y tế và nhân dân.
- Nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu cho công tác khám bệnh, chữa
bệnh, việc tuyển dụng cán bộ đảm bảo theo yêu cầu vị trí việc làm, nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt chú trọng đến đào tạo trình độ
cao đẳng, đại học; phấn đấu đến năm 2020 trình độ đại học đạt 40 % (Hiện
tại 21,9%), cao đẳng 60 % đối với các vị trí chuyên môn nghiệp vụ Y.
xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn (30 người mắc/vụ).
5
- Thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện cho 100% chủ cơ sở
sản xuất, kính doanh, chế biến thực phẩm theo quy định của pháp luật.
3. Giới hạn của đề án
* Đối tượng: Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế, đặc
biệt chú trọng về công tác Khám bệnh, chữa bệnh, An toàn vệ sinh thực
phẩm, Hành nghề Y - Dược tư nhân, Công tác dân số - KHHGĐ.
* Không gian: Đề án được thực hiện trên địa bàn huyện Văn Quan.
*Thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2020.
6
B. NỘI DUNG ĐỀ ÁN
1. Căn cứ xây dựng đề án
1.1. Cơ sở khoa học
Đề án xây dựng trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong
văn kiện Đại hội Đảng các cấp, các văn bản Nhà nước về công tác chăm
sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân và công tác Dân số - KHHGĐ.
* Quan niệm về quản lý nhà nước: Theo lý luận, quản lý là sự
tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt
mục tiêu, kế hoạch đã đặt ra; trên thực tế có nhiều cách tiếp cân khác
nhau về quản lý, song thông thường quản lý đồng nhất với các hoạt động
tổ chức triển khai, lãnh đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra giám sát của
chủ thể quản lý.
Quản lý Nhà nước là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối
tượng nhằm đạt mục tiêu, kế hoạch đề ra thông qua các văn bản pháp
sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân thông qua hệ
thống pháp luật và chính sách; điều tiết, phân bổ nguồn lực; quản lý chất
lượng dịch vụ y tế và giá dịch vụ y tế.
- Quản lý nhà nước về dân số, kế hoạch hóa gia đình: Thông qua
các thể chế để duy trì mức sinh hợp lý, duy trì tỷ lệ phát triển dân số tự
nhiên, khống chế tốc độ chênh lệch giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng
dân số, đáp ứng đủ nhu cầu dịch vụ kế hoạch hóa gia đình của người dân,
tăng khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng.
Vấn đề dân số có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội
của một quốc gia. Qua các kỳ điều tra dân số cho thấy những vận động
thay đổi về vấn đề dân số như: quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân
cư, biến động về dân số… Từ những số liệu thực tế có được, nhà quản lí
có thể thấy hiện trạng dân số của quốc gia nói chung và của địa phương
nói riêng, để có những định hướng phát triển dân số phù hợp, đảm bảo
8
vừa phát triển kinh tế - xã hội bền vững vừa đảm bảo an sinh xã hội. Các
kết quả này dựa trên số liệu của các cuộc tổng điều tra dân số của cả nước
và là một trong các kết quả phân tích dân số quan trọng nhất đối với mỗi
quốc gia và từng địa phương, các dự báo dân số trong tương lai có ý nghĩa
quyết định tới mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong việc hoạch định các chính
sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội do đó cần tăng cường lồng
ghép các yếu tố về dân số vào hoạch định chính sách, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội ở các cấp, các ngành.
Tuy nhiên, việc dự báo dân số trong tương lai phụ thuộc rất nhiều
vào sự chính xác của các số liệu biến động dân số trong quá khứ và hiện
tại cũng như sự thay đổi cơ cấu tuổi, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, tỷ lệ di dân…
Số liệu dân số đầy đủ, chính xác, kịp thời sẽ giúp mỗi quốc gia đánh giá
đúng tiến độ các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời giúp mỗi
trang thiết bị hợp lý, an toàn và hiệu quả.
Nâng cao năng lực quản lý và năng lực thực hiện chính sách y tế,
đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển hệ thống thông tin y tế đáp ứng
nhu cầu đổi mới và phát triển ngành y tế.
1.2. Cơ sở chính trị
Đề án được xây dựng dựa trên cơ sở về Chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước; tăng cường, đẩy mạnh
các hoạt động thiết thực trên cơ sở của các Chỉ thị, Nghị quyết đã được
ban hành;
- Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 5 năm 2005 của Bộ
chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
trong tình hình mới; Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 29/6/2011 của Ban
Thường vụ Tỉnh uỷ Lạng Sơn về tiếp tục củng cố, hoàn thiện mạng lưới
y tế; nâng cao năng lực và chất lượng khám, chữa bệnh của hệ thống y tế
các cấp giai đoạn 2011-2015
- Nghị quyết số 47-NQ /TW ngày 25 tháng 5 năm 2005 của Bộ
chính trị về tiêp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ;
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 47-NQ/TW về tiếp tục đẩy mạnh
10
thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, với sự chỉ đạo sâu
sát của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự tham gia tích cực của Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể và sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhân dân, chính
sách dân số và kế hoạch hóa gia đình đã thực sự đi vào cuộc sống và đạt
được những kết quả quan trọng, nhận thức của toàn xã hội đã có bước
chuyển biến rõ rệt, quy mô gia đình có một hoặc hai con được chấp nhận
ngày càng rộng rãi; nhịp độ gia tăng dân số nhanh đã được khống chế, số
con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ trên 3,5 con
năm 1992, xuống 2,28 con năm 2002, tỉ lệ tăng dân số giảm tương ứng
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh;
- Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của
Chính Phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn
thực phẩm;
- Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của
Chính Phủ, Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Thông tư số 47/2014/TT-BYT ngày 10 tháng 12 năm 2014 của
Bộ Y tế về việc hướng dẫn quản lý an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh
doanh dịch vụ ăn uống;
- Quyết định số 20/QĐ-TTg ngày 04 tháng 01 năm 2012 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược Quốc gia an toàn thực
phẩm giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn 2030;
- Chỉ thị số 34/CT-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ
về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác đảm bảo an toàn thực phẩm và phòng
chống ngộ độc thực phẩm trong tình hình mới;
1.4. Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua cùng với sự phát triển chung của nền kinh
tế - xã hội và hội nhập quốc tế, ngành y tế nước ta nói chung cũng như
trên địa bàn huyện Văn Quan nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng góp phần nâng cao và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tuy
12
nhiên trong quá trình phát triển đó cũng còn nhiều hạn chế bất cập, nhất
là về công tác quản lý Nhà nước đó là: Công tác khám, chữa bệnh cho
nhân dân tại các cơ sở công lập chưa được quan tâm đầu tư, cơ sở vật
chất thiếu thốn, tình trạng quá tải bệnh viện luôn sảy ra, trình độ chuyên
môn ở tuyến cơ sở hạn chế, thái độ ứng xử, đạo đức nghề nghiệp một bộ
phận cán bộ ngành y tế xuống cấp; các hoạt động hành nghề y, dược tư
nhân không được quản lý, kiểm tra chặt chẽ do đó đã sảy ra nhiều tai
thôn; tổng dân số là 54.912 người, hơn 12 nghìn hộ gia đình, thành phần
các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện gồm: Nùng chiếm 63,3%, Tày
35,4%; Kinh, Hoa và số ít là dân tộc khác chiếm 1,3% mỗi dân tộc có nét
văn hóa riêng của mình thể hiện trong tâm lý, ngôn ngữ, phong tục, tập
quán, nếp sống trong đó nét văn hóa đặc sắc nhất, thể hiện rõ nhất trong
đám cưới, các ngày lễ tết và đám tang. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, canh tác,
sinh hoạt chưa thực sự được đổi mới, an ninh trật tự trên địa bàn còn
tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, phong tục tập quán lạc hậu, cưới tảo hôn
và tỷ lệ sinh con thứ 3 tại một số thôn, bản còn cao; nhận thức về vấn đề
sức khỏe, công tác Dân số - KHHGĐ của người dân còn hạn chế; triển
khai công tác khám bệnh, chữa bệnh còn gặp nhiều khó khăn, các cơ sở
hành nghề y, dược tư nhân, Mỹ phẩm; cơ sở sản xuất, chế biến, kinh
doanh thực phẩm trên địa bàn huyện chưa chấp hành tốt các quy định
của Nhà nước.
Đề án được xây dựng trong bối cảnh hiện nay, Toàn đảng, toàn
dân đang phấn khởi thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng các cấp, với
những khí thế mới, kinh tế - xã hội trên đà tiếp tục phát triển theo hướng
tích cực. Tuy nhiên vẫn còn nhũng hạn chế nhất định, nguồn thu ngân
sách trên địa bàn còn hạn hẹp và chưa bền vững( Đạt 10,5 tỷ
đồng/2015); tích lũy kinh tế từ nội địa trong huyện còn thấp, quy mô sản
xuất nhỏ lẻ.
Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 8,2 triệu đồng/2010 lên
15,5 triệu triệu đồng/năm 2015; Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông lâm
14
nghiệp; tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2015 đạt 27.000 tấn đạt
mục tiêu Nghị quyết của đại hội đảng bộ huyện. Các sản phẩm từ chăn
nuôi, trồng trọt đã từng bước đáp ứng được nhu cầu thị trường tiêu dùng
của nhân dân trong huyện. Sản xuất lâm nghiệp được coi trọng và phát
Kết cấu hạ tầng của huyện chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển,
hệ thống giao thông từ trung tâm huyện đến các xã và từ trung tâm xã
đến các thôn bản chưa hoàn thiện. Trình độ nhận thức của người dân còn
nhiều hạn chế, bất cập; tình hình dân số đang trên đà gia tăng, tỷ lệ sinh
con thứ 3 tăng cao so với 5 năm về trước, còn tồn tại có những cặp đôi
tảo hôn ở các thôn bản thuộc các xã vùng sâu, vùng xa kinh tế khó khăn
dẫn đến việc nuôi dạy, chăm sóc con cái hạn chế, ảnh hưởng đến sự phát
triển của trẻ cả về thể chất và trí tuệ.
Nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân ngày càng cao, nhưng
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thầy thuốc, các y Bác sỹ có phần bị
hạn chế, cơ sở vật chất khám, chữa bệnh chưa đảm bảo đáp ứng nhu cầu
của nhân dân, do đó xuất hiện các cơ sở hành nghề Y - Dược tư nhân
được mở ra nhưng có nhiều cơ sở không tuân thủ đúng các quy định của
nhà nước như: Cơ sở mở ra chưa qua thẩm định cấp phép của cơ quan
chức năng, thực hiện quá khả năng chuyên môn, hoặc thực hiện vượt các
kỹ thuật cho phép, không mở sổ cập nhật …
Kinh tế - xã hội xã hội phát triển kéo theo nhu cầu về hàng hóa
tiêu dùng, trong đó có các mặt hàng về thực phẩm, hàng ăn uống, đặc
biệt là các cơ sở kinh doanh chế biến hàng ăn uống được mở ra ở nhiều
nơi; nhiều địa phương nhằm phục vụ đáp ứng nhu cầu của người dân, tuy
nhiên do mục đích lợi nhuận dẫn đến vấn đề chất lượng sản phẩm có
nhiều hạn chế, qua kiểm tra của các cơ quan chức năng đã phát hiện
nhiều của hàng ăn uống hoạt động không đảm bảo đúng quy định của
pháp luật, bảo quản thực phẩm không đạt yêu cầu, cơ sở không đủ điều
kiện kinh doanh theo quy định, không có giấy phép kinh doanh, chủ cơ
sở và nhân viên không được cập nhật kiến thức về vệ sinh an toàn thực
phẩm và khám sức khỏe định kỳ theo quy định.
16
2012
129,3
98,8
2013
143,2
113
2014
120
112
2015
157,6
120,7
+ Cơ sở, vật chất đã được quan tâm đầu tư xây dựng về cơ sở hạ
tầng hoàn thành từ giai đoan 2000 – 2007 trên địa bàn huyện có 01
Trung tâm y tế huyện với tổng số 90 giường bệnh, có 03 Phòng khám đa
17
khoa khu vực, có 24 Trạm y tế xã, thị trấn đã được đầu tư xây dựng đảm
bảo cho công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân. Có 04/24 trạm Y tế
được đầu tư xây dựng năm 2000 đã xuống cấp nghiêm trọng chiếm
16,6%; có 17/24 trạm y tế, chiếm 70,8% đã được đầu tư xây dựng nhà
trạm theo mẫu định hình nhưng còn thiếu các hạng mục công trình phụ
trợ như: Tường rào bao quanh, nhà bếp cho bệnh nhân, nhà để xe, sân bê
tông, nhà vệ sinh ngoài trời, lò xử lý rác thải Y tế; có 03/24 nhà trạm,
chung và huyện Văn Quan nói riêng vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế
yếu kém. Hệ thống y tế chậm đổi mới, chưa thích ứng với sự phát triển
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự thay đổi
của cơ cấu, mô hình bệnh tật; Chất lượng khám bệnh, chữa bệnh đạt hiệu
quả chưa cao vẫn còn tình trạng chuyển tuyến bệnh nhân không đúng với
chỉ định và phân cấp kỹ thuật, trình độ, năng lực chuyên môn của cán bộ,
công chức, viên chức còn hạn chế, chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng
nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân; điều kiện chăm sóc y tế cho
người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó
khăn; năng lực cung ứng thuốc còn yếu, giá thuốc chữa bệnh còn cao so
với thu nhập của nhân dân. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất không đồng
bộ, không đảm bảo về chất lượng, nhiều cơ sở xây dựng xong và đưa vảo
sử dụng nhưng còn thiếu một số hạng mục công trình phụ trợ; đặc biệt là
không được đầu tư kinh phí duy tu sửa chữa hàng năm, dẫn đến nhiều
hạng mục công trình, trạm y tế xã xuống cấp nghiêm trọng không đảm
bảo cho công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân. Quá trình mua sắm
trang thiết bị y tế chưa phù hợp điều kiện thực tế tại các đơn vị khám,
chữa bệnh, chưa sát thực với trình độ chuyên môn được đào tạo. trước
khi đầu tư không rà soát kỹ dẫn đến tình trạng nhiều cơ sở khám, chữa
bệnh có loại trang thiết bị cần thì không được đầu tư nhưng có những
trang thiết bị thì đầu tư nhiều lần, hoặc đầu tư nhưng không sử dụng
được. Có đơn vị đã được đầu tư một số máy móc hiện đại phục vụ cho
việc khám và chẩn đoán, điều trị bệnh như: Máy khí dung, nồi hấp, tủ
19
sấy dụng cụ...nhưng trình độ chuyên môn và thuốc bất cấp cập nên sử
dụng thiết bị kém hiệu quả.
Nguyên nhân chính của những yếu kém trên là do quản lý nhà
nước trong lĩnh vực y tế còn nhiều bất cập, một số chính sách về y tế
định. Toàn huyện có 193 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực
phẩm, nhà hàng ăn uống trong đó có 02 cơ sở sản xuất bánh kẹo, nhiều
cơ sở kinh doanh bán buôn, bán lẻ các mặt hàng đóng bao gói, 80% là
các cơ sở nhỏ lẻ và hoạt động theo thời vụ, theo phiên chợ.
Công tác quản lý nhà nước về VSATTP được tăng cường, năng lực
quản lý của cán bộ chương trình và chủ các cơ sở sản xuất, chế biến,
kinh doanh thực phẩm được củng cố và ngày càng nâng cao. Công tác
thông tin giáo dục truyền thông được triển khai liên tục và được đẩy
mạnh, giúp xã hội cộng đồng quan tâm hơn đến vấn đề ATTP phần nào
đã nâng cao được nhận thức và thực hành của các nhóm đối tượng. Công
tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm pháp luật về VSATTP, từng bước đưa các hoạt động sản xuất, kinh
doanh thực phẩm đi vào khuôn khổ của pháp luật, nhiều năm liền không
có vụ ngộ độc thực phẩm lớn sảy ra trên địa bàn, các bệnh lây truyền qua
thực phẩm được giám sát chặt chẽ.
Tuy nhiên chúng ta vẫn đang phải đối mặt với những thách thức
rất lớn, đặc biệt là vấn đề bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm ở các cơ sở
kinh doanh dịch vụ ăn uống, dịch vụ làm cỗ cưới, kinh doanh thức ăn
đường phố, bếp ăn tập thể. các sự kiện tập trung ăn uống đông người, các
ngày lễ lớn... là nguy cơ dễ sảy ra ngộ độc thực phẩm.
Các hoạt động kinh doanh, chế biến thực phẩm chưa tuân thủ
đúng quy định của Nhà nước, Công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều hạn
chế, việc xử lý vi phạm an toàn thực phẩm của các cấp các ngành chức
năng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính chưa triệt để, tỷ lệ cơ
sở vi phạm bị xử lý còn thấp; việc quản lý, kiểm tra các cơ sở thực phẩm
do ngành nông nghiệp, ngành công thương quản lý chưa đầy đủ nên hiệu