MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................2
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu ..........................................................2
4. Giả thuyết khoa học .....................................................................................................2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................................3
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu .................................................................................3
7. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................3
8. Những đóng góp của đề tài ..........................................................................................5
9. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................................5
Chương 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀ
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁC QUAN CỦA TRẺ 3 – 4 TUỔI ..............................6
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ........................................................................................6
1.2. Cơ sở lý luận .............................................................................................................9
1.2.1. Lý luận chung về phương pháp Montessori ..........................................................9
1.2.2. Giác quan và đặc điểm phát triển giác quan cho trẻ 3 - 4 tuổi ở Trường Mầm non
.......................................................................................................................................25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ................................................................................................ 29
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
MONTESSORI NHẰM PHÁT TRIỂN GIÁC QUAN CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM
NON...............................................................................................................................30
2.1 Tổng quan về khách thể và địa bàn nghiên cứu ......................................................30
2.2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu việc vận dụng phương pháp Montessoi vào
quá trình phát triển giác quan cho trẻ 3 - 4 tuổi ở Trường Mầm non ............................32
2.3. Xây dựng các tiêu chí đánh giá và thang đánh giá s ự phát triển giác
quan của trẻ 3 - 4 tuổi .............................................................................................34
2.4. Kết quả khảo sát thực trạng ....................................................................................36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ................................................................................................ 43
Chương 3. QUY TRÌNH TỔ CHỨC PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀ BƯỚC
ĐẦU THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM .................................................................................44
Bảng 3.3 .........................................................................................................................58
Bảng 3.4 .........................................................................................................................60
Bảng 3.5 .........................................................................................................................61
Bảng 3.6 .........................................................................................................................62
Bảng 3.7 .........................................................................................................................63
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Mức độ biểu hiện trung bình các tiêu chí .................................................56
Biểu đồ 3.2: Khả năng phát triển thị giác của trẻ ..........................................................57
Biểu đồ 3.3: Khả năng phát triển thính giác của trẻ ......................................................59
Biểu đồ 3.4: Khả năng phát triển xúc giác của trẻ ........................................................60
Biểu đồ 3.5: Khả năng phát triển vị giác của trẻ ...........................................................61
Biểu đồ 3.6: Khả năng phát triển khứu giác của trẻ ......................................................62
Biểu đồ 3.7: Mức độ biểu hiện trung bình các tiêu chí .................................................64
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Giác quan có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển toàn diện nhân
cách của trẻ.
Thế giới xung quanh vô cùng phong phú, đa dạng, có biết bao điều mới lạ, bí
ẩn và đầy hấp dẫn đối với trẻ thơ. Thế giới xung quanh sinh động là vậy, thích thú
là vậy, vì thế trẻ tò mò muốn biết, khát khao được khám phá, tìm hiểu về chúng.
Một trong những hình thức đáp ứng nhu cầu muốn tìm tòi, khám phá của trẻ đó là
thông qua các giác quan.
Thông qua các giác quan trẻ có thể nắm được các đặc điểm về hình dáng, màu
sắc, hình khối, chất liệu, to – nhỏ, dài – ngắn, mùi vị, âm thanh,…của các sự vật
hiện tượng xung quanh. Vì vậy, phát triển các giác quan cho trẻ chính là tạo nền
tảng và điều kiện thuận lợi để trẻ khám phá, tìm hiểu và thu nhận những hiểu biết về
lớn càng tạo điều kiện để trẻ được vận động, hoạt động một cách tối đa thì tâm lý
của trẻ càng phát triển.
1.4. Cùng với yêu cầu ngày càng cao trong việc đổi mới phương pháp giảng
dạy theo chương trình giáo dục mầm non mới của Bộ giáo dục và đào tạo thì thực tế
hiện nay cho thấy, việc vận dụng phương pháp Montessori nhằm phát triển giác
quan cho trẻ vẫn chưa được chú trọng và thực hiện hiệu quả. Chính vì vậy, cần phải
có sự nghiên cứu thật kĩ lưỡng, vận dụng phương pháp Montessori theo một quy
trình hợp lí với quy trình phát triển sinh lí của trẻ thì sẽ phát triển giác quan cho trẻ,
từ đó nâng cao chất lượng giáo dục trẻ ở Trường mầm non. Xuất phát những lí do
trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp Montessori vào
quá trình phát triển giác quan cho trẻ 3 - 4 tuổi ở Trường mầm non”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và vận dụng phương pháp Montessori vào quá trình phát triển giác
quan cho trẻ 3 - 4 tuổi ở Trường mầm non, góp phần tích cực vào việc thực hiện
mục tiêu giáo dục mầm non hiện nay.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi ở Trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quy trình tổ chức phương pháp Montessori vào quá trình phát triển giác quan
cho trẻ 3 - 4 tuổi ở Trường mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu trong quá trình giáo dục trí tuệ cho trẻ, giáo viên biết cách vận dụng
phương pháp Montessori theo một quy trình hợp lí phù hợp với quy trình phát triển
2
sinh lí của trẻ thì sẽ giúp trẻ phát triển các giác quan, từ đó nâng cao chất lượng
nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ ở Trường Mầm non.
3
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
- Mục đích: Trao đổi với giáo viên về việc vận dụng phương pháp Montessori
nhằm phát triển giác quan cho trẻ 3 - 4 tuổi ở Trường mầm non.Trò chuyện với trẻ 3 - 4
tuổi thông qua các hoạt động hàng ngày để tìm hiểu mức độ nhận thức và sự phát triển
giác quan của trẻ. Đồng thời tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển
giác quan của trẻ.
- Biện pháp: Để thực hiện được điều đó, chúng tôi đã đàm thoại, trao đổi với
nhà quản lý, giáo viên và trẻ trong các hoạt động giúp trẻ phát triển giác quan.
7.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Nhằm thu thập các thông tin về thực trạng sử dụng phương pháp
Montessori của giáo viên, thực trạng phát triển giác quan của trẻ ở Trường mầm non.
- Biện pháp: Để thực hiện được điều đó, chúng tôi xây dựng phiếu điều tra và
tiến hành trên đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên mầm non.
7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Mục đích: Nhằm thu thập kinh nghiệm quý báu của các nhà chuyên môn để
đưa ra kết luận chính xác hơn và khoa học hơn.
- Biện pháp: Dự giờ, trao đổi với các giáo viên.
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Mục đích: Đánh giá khả năng phát triển giác quan của trẻ 3 – 4 tuổi ở
Trường mầm non.
- Biện pháp: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu sản phẩm hoạt động, phân tích
kết quả thử nghiệm.
7.2.6. Phương pháp thử nghiệm sư phạm
- Mục đích: Thử nghiệm quy trình tổ chức nhằm minh chứng cho giả thuyết
đưa ra ban đầu.
- Biện pháp: Thử nghiệm sư phạm để áp dụng cách thức và quy trình tổ chức
5
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI
VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁC QUAN CỦA TRẺ 3 – 4 TUỔI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
* Trên thế giới
Phương pháp Giáo dục Montessori là một phương pháp sư phạm giáo dục trẻ
em dựa trên nghiên cứu và kinh nghiệm của bác sĩ và nhà giáo dục Ý Maria
Montessori (1870 –1952) [4]. Đây là phương pháp dạy học mang lại giá trị, hiệu
quả và giáo dục dục rất cáo, đặc biệt là quá trình giáo dục trẻ từ 0 – 6 tuổi. Chính vì
vậy, phương pháp dạy học Montessori đã được rất nhiều nhà giáo dục trẻ thế giới
quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều gốc độ khác nhau:
Maria Montessori cho rằng: “Tiền đề của sự pháp triển là tôn trọng đặc thù của
trẻ, trẻ có thể đạt được hiệu quả học tập cao nhất khi được tự do hoạt động trong
môi trường xã hội” [4]. Môi trường mà bà Maria Montessori nhắc đến đó phải là nơi
được chuẩn bị dựa trên chính nhu cầu của trẻ em trong từng thời kỳ phát triển của
trẻ, để hỗ trợ trẻ phát triển thuận theo tự nhiên. Bởi không phải người lớn là người
thầy vĩ đại sẽ truyền thụ cho trẻ mọi điều có thể giúp trẻ xây dựng con người mình,
mà chính là người thầy bên trong trẻ thúc đẩy trẻ tìm kiếm những bài học từ môi
trường xung quanh để định hình cá nhân mình.
Maria Montessori trong cuốn “Phương pháp giáo dục Montessori - thời kỳ nhạy
cảm của trẻ” cho rằng: “Những đứa trẻ trải qua thời kì nhạy cảm đang nhận sự “chỉ
huy” từ một mệnh lệnh thần kì trong vô thức, ngay cả tâm hồn bé nhỏ của chúng
cũng nhận được sự khích lệ” [12]. Trong quá trình phát triển từ 0 - 6 tuổi, trẻ chịu sự
chi phối của sức sống nội tại, ở một giai đoạn nào đó sẽ vô cùng chú ý tới những đặc
trưng của sự vật trong một môi trường nào đó, đồng thời không ngừng lặp lại quá
trình thực tiễn. Sau khi thuận lợi vượt qua thời kì nhạy cảm, trí tuệ của trẻ sẽ được
“Khi nói đến vấn đề giáo dục trẻ em không thể không nhắc đến phương pháp
Montessori”; “Trong lịch sử nền giáo dục, những nhà giáo dục được mọi người biết
đến như Montessori là không nhiều, chỉ có duy nhất phương pháp Montessori có thể
vượt qua sự khác biệt về lãnh thổ, thế giới quan, tôn giáo để nhanh chống được phổ
biến trên thế giới” [12], [15].
Các tác giả Sagara Atsuko, Victor Seah,.. cũng tập trung nghiên cứu về
phương pháp dạy học Montessori và cho rằng: Trẻ em có một thời kỳ vô cùng quan
trọng gọi là “Thời kỳ mẫn cảm”. “Thời kỳ mẫn cảm” là chỉ một khoảng thời gian
ngắn trong thời thơ ấu của trẻ, khi mà tính nhạy cảm đối với một việc nhất định trở
nên đặc biệt nhạy bén. Vì vậy, việc ứng dụng thời kỳ mẫn cảm chính là tận dụng
“Sức mạnh của giai đoạn phát triển” - thứ năng lượng tự nhiên vô giá - vào giáo
7
dục. Tùy vào việc biết hay không biết sự thật về thời kỳ mẫn cảm này, mà con mắt
nhìn trẻ của chúng ta sẽ rất khác nhau. Nó trở thành chiếc chìa khóa giúp chúng ta mở
cánh cửa nuôi dạy trẻ hoặc “hết sức vui vẻ” hoặc “vô cùng chán ngắt” [1], [25].
Tờ nhật báo Brooklyn Eagle đã từng viết về bà như sau: “Bà là người đã cải
cách hệ thống giáo dục trên toàn thế giới, là người phụ nữ dạy cho những đứa con
chậm phát triển trí tuệ biết đọc - biết viết. Phương pháp giáo dục của Montessori đã
thành công đến nỗi nó được áp dụng ở khắp các nước trên thế giới, từ nơi xa xôi
nhất ở phía đông bán cầu như Hàn Quốc, cho đến nơi xa xôi nhất ở phía tây là
Honolulu và cả nơi xa nhất ở phía nam như Argentina...” [15].
Kể từ khi Montessori nổi tiếng đến nay, trẻ em trên khắp thế giới đã và đang
tiếp nhận phương pháp giáo dục tự chủ hoàn toàn khác với phương pháp truyền
thống. Hiện nay đã có hơn 25.000 trường học tại Mỹ, Anh, Pháp, Canada,… đã áp
dụng thành công phương pháp này.
* Ở Việt Nam
TS. Hồ Lam Hồng cho rằng: “Phương pháp Montessori góp phần hình thành
lại ở mức độ tham khảo hoặc áp dụng một phần ý tưởng và giáo cụ mà Montessori
sáng tạo. Trong khi đó, số lượng trường Montessori thực thụ ở Việt Nam đáp ứng
đầy đủ các tiêu chuẩn của cộng đồng Montessori Mỹ hay liên hiệp Montessori quốc
tế rất ít. Bởi yêu cầu về cơ sở vật chất, môi trường giáo dục và đội ngũ giáo viên
yêu cầu rất cao. Với cơ sở vật chất hiện đại của một Trường Mầm non quốc tế, bộ
giáo cụ đặt từ nước ngoài đúng theo tiêu chuẩn Montessori cùng với đội ngũ giáo
viên được đào tạo quy cách, có thể nói Trường Mầm non Việt Mỹ đã tạo ra môi
trường giáo dục Mầm non sát với tiêu chuẩn Montessori ngay tại Việt Nam.
Trên cơ sở tìm hiểu về phương pháp Montessori, chúng tôi đi đến nghiên cứu
việc vận dụng phương pháp Montessori vào quá trình phát triển giác quan cho trẻ 3 - 4
tuổi, chúng tôi có thể khẳng định rằng đề tài nghiên cứu này của chúng tôi đề cập tới là
hoàn toàn mới, không lặp lại nghiên cứu của các đề tài đã có trước đó với mong muốn
góp một phần công sức của mình vào việc phát triển giác quan cho trẻ, nâng cao chất
lượng nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Lý luận chung về phương pháp Montessori
1.2.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học
Thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ( Methodos) có nghĩa là
con đường để đạt được mục đích. Theo đó, phương pháp dạy học là con đường để
đạt được mục đích dạy học. Hiểu theo nghĩa rộng, phương pháp dạy học là những
hình thức và cách thức hoạt động chung của giáo viên và học sinh, thông qua đó và
bằng cách đó giáo viên và học sinh lĩnh hội hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh
trong những điều kiện học tập cụ thể [2].
9
Theo nghĩa hẹp, phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt
động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đặt
được mục đích dạy học. Phương pháp dạy học cụ thể quy định những mô hình hành
1907 nhà trẻ đầu tiên (Casa di Bambini) mà kết quả thành đạt được quảng bá khắp
nơi “Phương pháp Montessori” [9].
Montessori bắt đầu phát triển phương pháp và triết lý giáo dục của mình vào
năm 1897, sau khi tham dự khóa học giáo dục tại trường Đại học Rome và nghiên
cứu các thuyết giáo dục hai trăm năm trước đó. Năm 1907, bà mở lớp học đầu tiên
của mình mang tên Casa dei Bambini, hay còn gọi là Children’s House (Ngôi Nhà
Trẻ Thơ) tại một khu căn hộ nằm ở thủ đô Roma. Ngay từ ban đầu, Montessori đã
bắt đầu thực hiện phương pháp giáo dục của mình thông qua quan sát những gì trẻ
trải nghiệm với môi trường xung quanh, với các giáo cụ và bài học được thiết kế
dành riêng cho trẻ. Bà thường gọi công việc mà mình đang làm là “Giáo dục mang
tính khoa học”. Phương pháp Montessori sau đó được phát triển và mở rộng ra toàn
nước Mỹ năm 1911 và được biết đến rất nhiều thông qua các phương tiện thông tin,
đặc biệt đã được xuất bản thành sách. Tuy nhiên do xuất hiện nhiều mâu thuẫn giữa
Montessori và một số nhà giáo dục Mỹ khác, đặc biệt sau khi cuốn “The Montessori
System Examined” (tạm dịch là “Khảo Sát Hệ Thống Giáo Dục Montessori”) do
một nhà giáo dục học nổi tiếng William Heard Kilpatrick phát hành, đã hạn chế
truyền bá tư tưởng của bà và sau năm 1914 phương pháp Montessori đã bị lu mờ đi.
Nó chỉ thực sự trở lại, thâm nhập vào nước Mỹ vào năm 1960 và được áp dụng tại
hàng nghìn trường học ở quốc gia này. Tiến sĩ Montessori tiếp tục công tác giảng
dạy của mình trong suốt quãng đời còn lại của mình, nghiên cứu và phát triển toàn
diện quá trình hình thành, phát triển tâm lý của trẻ từ giai đoạn sơ sinh đến 24 tuổi.
Ngoài ra, bà cũng đã xây dựng các phương pháp tiếp cận giáo dục đối với những trẻ
từ 0 - 3 tuổi, từ 3 - 6 tuổi và từ 6 - 12 tuổi. Chương trình dành cho trẻ từ 12 - 18 tuổi
cũng được bà nghiên cứu và lên chương trình, tuy nhiên nó không được phát triển
vào thời của bà [9].
1.2.1.4. Đặc điểm của phương pháp Montessori
Đặc điểm nổi trội ở phương pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trò của
tính tự lập, lấy khả năng tự học làm nền tảng cơ sở, chú trọng vào việc khai thác
thể làm công việc trong thời gian dài mà không bị ngắt quãng giữa chừng. Trẻ tự
đánh giá công việc của mình một cách khách quan thông qua hoạt động độc lập với
giáo cụ. Trẻ tự biết bản thân đã làm đúng hay sai ở đâu vì giáo cụ Montessori có
chức năng “Giáo dục tự động”. Có nghĩa là khi trẻ làm sai, chính giáo cụ như
“Người thầy” sẽ chỉ cho trẻ thấy cái sai để trẻ tự điều chỉnh và tự hoàn thiện công
việc của mình. Điều này giải thích vì sao chúng tôi sử dụng thuật ngữ “Giáo cụ
Montessori” thay vì “Học cụ” hay “Học liệu”, ngay cả khi trẻ tự hoạt động với nó mà
không có sự hướng dẫn của giáo viên [17].
12
* Đặc điểm thứ ba: Montessori xây dựng môi trường giáo dục là những lớp
học có sự trộn lẫn lứa tuổi.
Đây là một xã hội “Tự nhiên” có khoảng cách về lứa tuổi giữa các trẻ. Nếu
như trong lớp học truyền thống, trẻ học theo nhóm cùng độ tuổi, việc học xuất phát
từ những nhu cầu bên ngoài như thứ bậc, cạnh tranh… thì việc học của trẻ trong lớp
học Montessori diễn ra tự nhiên, nhẹ nhàng. Trẻ tự chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi
lẫn nhau. Trẻ nhỏ hỏi trẻ lớn khi không biết hoặc chưa thành thục một công việc
nào đó. Nhìn các anh chị làm được những công việc khó, tự bản thân trẻ sẽ nảy sinh
mong muốn học hỏi để được như anh, chị. Còn anh, chị khi chỉ dẫn cho em sẽ có cơ
hội được củng cố những điều đã học, thì cảm thấy tự tin hơn và những nét tính cách
của một nhà lãnh đạo tương lai cũng dần được hình thành từ đó. Đặc biệt ở các gia
đình Việt Nam hiện nay thường chỉ có từ 1 - 2 con, trong gia đình có rất ít anh chị
em, môi trường này giúp cho trẻ có cơ hội học tập và giao lưu với những đứa trẻ
không cùng độ tuổi và làm quen với những đứa trẻ có tính cách khác nhau, từ đó
chúng có thể học hỏi cái hay, cái tốt của nhau, cùng giúp đỡ nhau, điều này rất có
lợi cho việc bồi dưỡng lòng nhân ái của trẻ [17].
Ví dụ: Khi nhìn thấy đứa trẻ nhỏ tuổi hơn khóc đòi mẹ, đứa trẻ lớn hơn sẽ đến
lau nước mắt và dỗ đứa bé kia rằng: “Em ơi, em đừng khóc, lúc tan học mẹ sẽ đến
nhau: Khu sinh hoạt hằng ngày, khu toán tập, góc phân vai, góc xây dựng, góc nghệ
học, khu khoa học, khu địa lý, khu ngôn thuật, góc thiên nhiên.
ngữ, khu nghệ thuật,...
- Không gian lớp học bố trí đơn giản, - Không gian lớp học bố trí đẹp mắt, hấp
không cầu kì, phức tạp.
dẫn, sinh động.
- Trên tường không dán các tờ quảng cáo, - Trên tường được vẽ trang trí các câu
bản đồ, tranh ảnh mà treo các bức họa của chuyện, các nhân vật ngộ nghĩnh, hoa văn,
các họa sĩ nỗi tiếng trên Thế giới.
tranh ảnh,...
- Lớp học sử dụng các giá sách đựng các - Sử dụng các giá đựng đồ dùng, đồ chơi
bộ giáo cụ theo thứ tự từ đơn giản đến theo các góc khác nhau phù hợp, gần gũi,
phức tạp, từ trái sang phải, từ trên xuống quen thuộc với cuộc sống hằng ngày của
dưới.
trẻ.
- Không gian lớp học ít có sự thay đổi, đa - Không gian lớp học thường thay đổi theo
phần chỉ bổ sung thêm số lượng các bộ các chủ đề chủ điểm ở trường để tạo được
giáo cụ.
sự hấp dẫn, mới lạ đối với trẻ.
Qua đó chúng tôi thấy rằng, môi trường lớp học Montessori có nhiều điểm khác
biệt đối với phương pháp giáo dục truyền thống. Môi trường này tạo ra cho trẻ không
gian tự lập, tự lựa chọn và tiến hành các hoạt động, thao tác và vận dụng các bộ giáo cụ
nhận ra và tự điều chỉnh lỗi sai của mình.
cho trẻ.
- Giáo viên là người tạo dựng môi - Giáo viên trực tiếp tham gia vào các
trường, người hướng dẫn và người quan hoạt động dạy học
sát trẻ.
- Môi trường và phương pháp giảng dạy - Giáo viên thực hiện kỷ luật với mỗi trẻ
sẽ khuyến khích cá nhân tự kỷ luật
vi phạm
1.2.1.6. Các nguyên tắc giáo dục của Montessori
1.2.1.6.1. Phát hiện và tận dụng tiềm lực của trẻ
Trẻ có khả năng quan sát rất tốt, có thể tiếp nhận rất nhiều hình ảnh, không chỉ
là hình ảnh đồ vật mà còn là các động tác, ngoài hình ảnh sự vật, trẻ còn quan sát
mối quan hệ giữa các sự vật nữa. Khi người lớn còn chưa chú ý đến thì trẻ đã quan
sát và tiếp nhận rất nhiều thông tin rồi [9].
15
Do đó, cách giáo dục thực hiện hiệu quả chỉ có một, đó là nhất định phải duy
trì sự hứng thú học tập cao độ và khả năng chú ý mạnh mẽ của trẻ. Nói cách khác,
đó là giúp cho trẻ tự học hỏi thông qua nội lực của chúng. Chúng ta đã quen với
việc ôm ấp một kì vọng nhất định nào đó đối với trẻ, đồng thời lấy những tiêu chuẩn
của bản thân để xây dựng nên những cách thức nuôi dạy trẻ. Do đó, chúng ta chỉ có
thể chấp nhận những sở thích của trẻ phù hợp với mong đợi của chúng ta, rồi thực
hiện việc bồi dưỡng của mình một cách nghiêm túc.
Thực ra với một đứa trẻ ngây thơ, thì sở thích là do trời sinh và có thể biểu
hiện trên bất cứ phương diện nào. Chỉ cần cha mẹ để tâm quan sát, là sẽ phát hiện ra
Nhiệm vụ đầu tiên của nhà giáo dục là phát hiện tính cách của trẻ và tôn trọng
tính cách đó. Khi chúng ta do e sợ trẻ sẽ gây om sòm mà không để cho trẻ ở bên
cạnh mình, thì đó là hành động không tôn trọng trẻ. Khi chúng ta đang ăn tối, trẻ lại
đang khóc lóc ở một gian phòng khác, đó có thể là do trẻ bị cách li, cô lập một chỗ.
Rõ ràng là, nếu đối xử với người lớn, chúng ta tuyệt nhiên không sử dụng phương
pháp thiếu tôn trọng đó [9].
Chúng ta nên đối xử với trẻ giống như đối xử với bất kì người nào khác, để cho
trẻ ngồi giữa chúng ta, hơn nữa chúng ta còn nên cảm thấy đó là điều vinh hạnh của
mình. Chúng ta nên vui vẻ khi nhìn thấy trẻ, đồng thời cho phép trẻ ở gần mình [9].
1.2.1.6.4. Tạo cho trẻ một môi trường thích hợp
Trẻ chỉ có thể trưởng thành trong một môi trường không gò bó, thích hợp với
độ tuổi của chúng, có như vậy tâm lí trẻ mới có thể phát triển được một cách tự
nhiên thành thục. Môi trường này có đầy sự ấm áp của tình yêu, có dinh dưỡng
phong phú, tất cả những gì thuộc về môi trường này đều là để dung nạp, chứ không
phải làm hại trẻ [9].
1.2.1.6.5. Học cách quan sát trẻ
Sở thích, kì vọng hoặc hạn chế của người lớn đều có thể xâm nhập vào tâm trí
trẻ con, khiến nội tâm của trẻ thay đổi, việc can thiệp quá nhiều sẽ khiến trẻ mất cơ
hội tự giáo dục bản thân. Do đó, để tâm trí trẻ được phát triển một cách tự nhiên, tốt
nhất cha mẹ nên giữ thái độ trung lập, bình tĩnh quan sát những nhu cầu và sự phát
triển của trẻ, đem lại cho trẻ sự giúp đỡ cần thiết, thận trọng khi biểu đạt sở thích và
kì vọng của mình, tuyệt đối không được dễ dàng ra lệnh cấm.
Dẫu cho các bậc phụ huynh có kì vọng trẻ trở nên thế này hay thế kia thì cũng
đừng nên nóng vội, chỉ cần quan sát thật kĩ, hướng dẫn bằng lời nói và hành động là
đã đủ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, trẻ sẽ dần dần nổ lực theo hướng làm hài
lòng cha mẹ một cách không ý thức, điều này được gọi là “Hiệu ứng kì vọng”. Do
đó, việc cha mẹ kì vọng vào trẻ ở mức độ hợp lí, đảm nhận vai trò là một khán giả
vui vẻ, đó chính là nguồn cỗ vũ lớn nhất đối với trẻ.
17
của trẻ. Cũng giống như một người qúy tộc sở hữu rất nhiều nô bộc, ông ta ngày càng
ỷ lại vào việc có người khác phục vụ, đến cuối cùng trên thực tế lại trở thành nô lệ
của kẻ khác, hơn nữa đợi đến khi ông ta nhận thức ra được mức độ nghiêm trọng của
vấn đề và muốn có sự độc lập thì đã không còn khả năng độc lập nữa rồi [9].
18
1.2.1.6.8. Tin tưởng vào tự giáo dục ở trẻ
Luyện tập cảm giác bao gồm cả việc tự giáo dục, điều này có ý nghĩa rất lớn
đối với việc phát triển trí lực. Nếu như được luyện tập lặp lại nhiều lần thì việc tự
giáo dục sẽ giúp cho quá trình cảm giác tâm lí của trẻ ngày càng hoàn thiện hơn,
giúp trẻ biến cảm giác về sự vật thành quan niệm đối với vật thể.
Với vai trò là người dẫn dắt trẻ tự giáo dục, chúng ta nhất định phải làm được
những việc sau: cố gắng hết sức giảm thiểu việc can thiệp, giúp đỡ trẻ nỗ lực hướng
đến những mục tiêu đúng đắn trong quá trình tự giáo dục. Công việc của chúng ta
chỉ là dạy đúng trẻ phát âm và gọi tên một cách chính xác là được rồi - chúng ta
không làm thêm bất cứ việc gì ngoài việc đọc to tên gọi của sự vật, phát âm to, rõ
ràng, để cho trẻ nghe rõ từng âm tiết [9].
1.2.1.6.9.Thành thực trả lời những câu hỏi của trẻ
Trẻ em thường thích hỏi đủ thứ trên đời, cái gì cũng muốn biết rõ chân tướng.
Người lớn nên coi đó là một việc thú vị, đừng nên cảm thấy phiền phức, bởi chúng
ta đang được đối mặt với một tinh thần ham học hỏi, nhưng đồng thời cũng nên chú
ý, trẻ không thể tiếp thu được những lời giải thích quá dài dòng, chỉ cần đưa cho trẻ
một câu trả lời đơn giản và nên cố gắng dùng những sự vật cụ thể để giải thích vấn
đề. Rốt cuộc phải giải thích sự việc đến mức độ nào trẻ mới cảm thấy hài lòng. Điều
đó cần sự tổng kết và quan sát tỉ mỉ của các bậc phụ huynh [9].
Còn một sự thật nữa phải thừa nhận, đó là trẻ có thể không ngừng đặt câu hỏi
bằng mọi cách chỉ để thu hút sự chú ý của cha mẹ, từ đó mà nảy sinh ra hình thức ỷ
lại vào việc đặt câu hỏi. Đây không phải là hình thức giao lưu lành mạnh, chỉ là do
đứng ở góc tường với những hành động của mình. Mới đầu có thể trẻ sẽ thấy thích
thú trước những trò thưởng phạt thế này, nhưng dần dần thái độ cứng nhắc không hề
thay đổi của người lớn sẽ làm chuyển biến nội tâm của trẻ, cảm nhận của trẻ đối với
bản thân sự việc đã suy giảm đi nhiều, trẻ chỉ hiểu rằng phản ứng của cha mẹ mới là
cái quan trọng then chốt quyết định vận mệnh của mình. Từ đó trẻ sẽ ỷ lại vào thái
độ và hành động chỉ đạo của cha mẹ, tính tự chủ trong nội tâm của trẻ đã bị thay thế
bởi những yếu tố khách quan [9].
Vì vậy người lớn cần dùng hậu quả trực quan của hành vi làm hình phạt dành
cho trẻ, hạn chế dùng những yếu tố vật chất không liên quan đến việc thưởng phạt.
Ví dụ: Khi trẻ làm hỏng đồ chơi thì không nên mua đồ chơi mới cho trẻ, việc
thiếu sót đồ chơi sẽ khiến trẻ hiểu được hậu quả của việc làm hỏng đồ chơi.
Hãy thưởng bằng cách biểu dương và khen ngợi mặt tinh thần và cố gắng hết
sức hạn chế việc dùng vật chất làm phần thưởng, càng không được dùng tiền làm
phần thưởng. Khen thưởng và xử phạt đều phải liên quan chặt chẽ với nhau giữa
thời gian và nội dung hành vi của trẻ, thời gian để càng lâu thì hiệu quả càng giảm.
20
Vì vậy khi trẻ làm việc tốt thì nên khen ngợi ngay và khi làm những điều xấu, điều
không tốt thì cần có những biện pháp xử phạt.
1.2.1.6.12. Giáo dục là không chờ đợi
Ngay từ thuở lọt lòng thì tâm hồn trẻ có khả năng học tập và tiếp thu vượt xa
những gì chúng ta tưởng tượng, năng lực này là bẩm sinh. Kể từ khi cất tiếng khóc
chào đời, trẻ bắt đầu tiếp thu đầy đủ những thông tin của môi trường bên ngoài, đến
khi trẻ phát triển tới giai đoạn tự ý thức (khoảng 3 tuổi), trẻ đã có thể tiến lên có tính
định hướng. Như vậy, chúng ta đều đã ý thức được điều này: “Giáo dục nên bắt đầu
ngay từ khi trẻ mới được sinh ra, giáo dục càng sớm, hiệu quả càng cao”.
Một vấn đề khác nữa mà chúng ta cần quan tâm là: Chúng ta rốt cuộc nên giáo
dục cho trẻ như thế nào đây? Hãy để cho sinh linh này tự do phát triển, đây chính là
21