MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân là một chủ trương lớn đã được ghi nhận trong các nghị quyết của
Đảng và được Nhà nước thể chế hóa trong các quy định của Hiến pháp năm 2013.
Để xây dựng nhà nước pháp quyền thì cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn
thiện. Chính vì vậy, ngày 24/5/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó đề ra mục tiêu: “Xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch ...”.
Cùng với việc đề ra mục tiêu, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị “về
chiến lược cải cách tư pháp từ nay đến năm 2020” đã đặt ra: Phải tích cực đẩy
mạnh hơn nữa công tác hệ thống hóa pháp luật mà vấn đề then chốt là chuyển
trọng tâm sang hoạt động pháp điển hóa nhằm tạo ra nhiều bộ luật, đạo luật đảm
bảo vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước.
Thực tế cho thấy, công tác hệ thống hóa pháp luật đặc biệt là pháp điển hóa
pháp luật đã bước đầu phát triển, có một số văn bản quy phạm pháp luật được
thống kê và lên danh mục, một số văn bản quy phạm pháp luật khác được pháp
điển hóa. Bên cạnh đó các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung và
được Quốc hội thông qua ngày càng nhiều. Thậm chí, trong một số lĩnh vực pháp
luật, số lượng văn bản được ban hành được đánh giá ở mức độ “lạm phát”, vượt quá
nhu cầu điều chỉnh và áp dụng pháp luật đã làm cho hệ thống văn bản trở nên cồng
kềnh. Điều này đã ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Để khắc phục thực trạng trên đồng thời cũng nhằm thực hiện các nội dung
mà Nghị quyết số 48 đặt ra, ngày 16/4/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông
qua Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (Pháp lệnh Pháp điển). Pháp
lệnh Pháp điển được ban hành và chính thức có hiệu lực từ 01/7/2013 với những
quy định khái quát về khái niệm, thẩm quyền, nội dung, hình thức, trình tự và thủ
tục tiến hành pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay. Kế tiếp đó, ngày 27/6/2013
1
các yếu tố ảnh hưởng đến việc thiết lập mô hình pháp điển hóa của một quốc gia.
2
- Luận án đi sâu phân tích mô hình pháp điển hóa của Pháp, Đức, Hoa Kỳ,
Canada, Trung Quốc và Singapore trong sự đối chiếu, so sánh để tìm ra tính ưu
việt trong mỗi mô hình cụ thể, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng
vào Việt Nam.
- Luận án tìm hiểu, phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp
điển hóa ở Việt Nam hiện nay; đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện mô hình pháp
điển hóa ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về pháp điển hóa của một số quốc gia trên thế giới và ở
Việt Nam dưới góc độ pháp điển hóa đối với văn bản quy phạm pháp luật, không
nghiên cứu pháp điển hóa đối với các loại nguồn của pháp luật khác như tập quán
pháp, tiền lệ pháp hay án lệ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Luận án tập trung nghiên cứu về các mô hình pháp
điển hóa của một số nước như Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc,
Singapore và Việt Nam.
- Về mặt thời gian: Luận án nghiên cứu về hoạt động pháp điển hóa của các
quốc gia trong đời sống pháp lý thực tế hiện nay. Tại Việt Nam, luận án tập trung
nghiên cứu chủ yếu từ năm 1992 đến năm 2017.
5. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng những phương pháp chính
như: phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh để lý giải những vấn đề lý luận
cơ bản, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động pháp điển hóa ở
Việt Nam hiện nay.
hình tổ chức, thực hiện pháp điển hóa điển hình ở các quốc gia thuộc những hệ
thống pháp luật lớn trên thế giới.
Kết quả nghiên cứu về mặt lí luận và thực tiễn mô hình tổ chức, thực hiện
pháp điển hóa của các quốc gia và Việt Nam góp phần nhận diện, đánh giá tổng
quan, hiểu sâu sắc hơn về vai trò, giá trị của pháp điển hóa.
4
Luận án đưa ra một số định hướng, giải pháp và kiến nghị góp phần tổ chức,
thực hiện hoạt động pháp điển hệ thống qui phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay,
bảo đảm sự hoàn thiện, hài hòa pháp luật phục vụ công cuộc đổi mới đất nước.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc thêm
những vấn đề lý luận về pháp điển hóa. Đồng thời, góp phần tiếp tục phát triển,
hoàn thiện những tri thức lý luận về pháp điển hóa trong hệ thống pháp luật Việt
Nam hiện nay.
Luận án cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị trong hoạt động
nghiên cứu và giảng dạy đối với chuyên ngành Lý luận chung về nhà nước và pháp
luật cũng như các nhà hoạt động thực tiễn.
Các giải pháp mà luận án đưa ra cũng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình
hoàn thiện chính sách, pháp luật về pháp điển hóa. Đồng thời, nó cũng có giá trị
tham khảo đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xây
dựng, tổ chức và thực hiện pháp luật.
8. Kết cấu của luận án
Cơ cấu của luận án bao gồm: danh mục từ viết tắt, mục lục, lời nói đầu, nội
dung luận án, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, danh mục các công
trình khoa học đã công bố. Nội dung cơ bản của luận án gồm có: 4 chương và 16 mục.
5
pháp điển hóa của một số nước như Hoa Kì, Pháp, Đức, Canada, Trung Quốc,
Singapore. Từ việc phân tích mô hình của một số nước nêu trên, luận án rút ra
6
những điểm tương đồng, khác biệt giữa các mô hình và đưa ra một số kinh nghiệm
thực tiễn về pháp điển hóa áp dụng ở Việt Nam hiện nay.
Bốn là: Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thực trạng hoạt động pháp điển hóa ở
Việt Nam hiện nay cũng là một công việc quan trọng của luận án. Chính tính đặc
thù của Việt Nam sẽ đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết trong việc tiếp nhận,
hình thành mô hình pháp điển hóa một cách thích ứng và hiệu quả.
Năm là: Trên cơ sở phân tích, so sánh mô hình pháp điển hóa của một số
nước trên thế giới, nghiên cứu vào hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay,
luận án sẽ đưa ra một số quan điểm, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện mô hình pháp
điển hóa ở Việt Nam hiện nay.
1.4.
Các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
1.4.1. Các câu hỏi nghiên cứu
Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác
giả xác định có bốn câu hỏi nghiên cứu chính cần giải đáp, tương ứng với bốn
chương của luận án:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Những lý thuyết, quan điểm khoa học nào là nền tảng
cho việc nghiên cứu pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Bản chất và những nội dung cơ bản của pháp điển
hóa và mô hình pháp điển hóa. Dựa vào đâu để xác định các mô hình pháp điển
hóa điển hình trên thế giới?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Thực tiễn mô hình pháp điển hóa của một số nước
PHÁP ĐIỂN HÓA
Chương này chủ yếu tập trung xây dựng các vấn đề lý luận về pháp điển hóa và
mô hình pháp điển hóa. Nội dung cơ bản của chương thể hiện ở các mục sau:
2.1. Cơ sở lý luận về pháp điển hóa
2.1.1. Khái niệm pháp điển hóa
Nghiên cứu có tính kế thừa các quan điểm về pháp điển hóa, có thể thấy
pháp điển hóa là một hình thức của hệ thống hóa pháp luật, có mối quan hệ chặt
chẽ với tập hợp hóa, hợp nhất văn bản pháp luật, chỉnh lý văn bản pháp luật và xây
dựng pháp luật. Theo đó: Pháp điển hóa là hoạt động cấu trúc, trật tự hóa về nội
dung, hình thức đối với hệ thống pháp luật thực định được thực hiện bởi các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục, hình thức luật định. Theo đó,
nội dung của hoạt động này là phát hiện, loại bỏ các qui định không còn phù hợp;
đồng thời thay thế, bổ sung, cập nhật, sắp xếp các qui định pháp luật mới để tạo ra
Bộ luật hoặc Bộ pháp điển bảo đảm cho quá trình tổ chức, thực hiện pháp luật
được thuận lợi và đạt hiệu quả trên thực tế.
Như vậy, từ cách hiểu về pháp điển hóa nêu trên, có thể rút ra một số đặc
điểm cơ bản sau:
- Pháp điển hóa là hoạt động do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện.
- Đối tượng của pháp điển hoá phải là các văn bản qui phạm pháp luật, qui
phạm pháp luật đang còn hiệu lực pháp lý.
- Pháp điển hóa phải được tiến hành theo quy trình, thủ tục, hình thức do
pháp luật qui định chặt chẽ.
- Kết quả của pháp điển hóa là việc tạo ra các văn bản pháp điển, có tên gọi
là Bộ luật hoặc Bộ pháp điển.
- Pháp điển hóa là hoạt động mang tính khách quan, đáp ứng nhu cầu tất yếu
của đời sống pháp lý, xã hội. Giá trị thực tế mà nó đem lại là bảo đảm việc tổ chức,
thực hiện pháp luật được thuận lợi và đạt hiệu quả cao.
9
hoạt động, qui trình, nguyên tắc, chủ thể, nội dung … để tạo nên tính đặc thù về
pháp điển hóa của một quốc gia.
Từ cách tiếp cận đó, thuật ngữ mô hình pháp điển hóa sẽ được xem như là
cách thức mang tính khuôn mẫu, chuẩn mực pháp điển hóa được đúc kết từ thực
tiễn pháp lý của các quốc gia. Theo đó: Mô hình pháp điển hóa là thuật ngữ pháp
lý có nội dung bao gồm các thiết chế thực hiện pháp điển hóa (hay chủ thể) và mối
quan hệ giữa các thiết chế đó; các định chế pháp lý về nội dung, qui trình, thủ tục,
hình thức, nguyên tắc, kết quả và giá trị của kết quả pháp điển hóa. Do vậy,
nghiên cứu mô hình pháp điển hóa thực chất là xem xét các yếu tố cơ bản tạo thành
mô hình.
Thực tế mô hình pháp điển hóa của mỗi quốc gia đều mang những đặc thù
chung có tính nguyên tắc mà một hệ thống pháp luật cũng như từng lĩnh vực pháp
luật cụ thể đều phải tuân thủ. Nhìn chung, mô hình pháp điển hóa mang một số đặc
điểm cơ bản sau:
- Mô hình pháp điển hóa được nhận diện gồm nhiều yếu tố hợp thành và
giữa các yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại nhau.
- Mô hình pháp điển hóa của mỗi quốc gia vừa có những đặc tính chung vừa
có tính đặc thù riêng biệt.
- Mô hình pháp điển hóa có tính ổn định tương đối.
2.2.2. Các yếu tố của mô hình pháp điển hóa
- Cơ sở pháp lý: Đó là toàn bộ các quy định pháp luật có liên quan như phạm
vi, chủ thể, cấp độ, quy trình, giá trị pháp lý … do Nhà nước đặt ra để tạo nền tảng
cho việc tiến hành pháp điển hóa. Thông thường, cơ sở pháp lý của pháp điển hóa
ở các quốc gia cũng có sự khác biệt.
- Chủ thể pháp điển hóa: là tất cả các cá nhân và tổ chức đáp ứng các yêu
cầu, nội dung, chuyên môn, nghiệp vụ tham gia vào quá trình pháp điển hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế. Truyền thống pháp điển hóa của một số
11
hóa chính là các giai đoạn cần phải trải qua nhằm đạt được mục đích cuối cùng là
12
thuận tiện cho việc tra cứu pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Từ việc
nghiên cứu khái niệm pháp điển hóa kết hợp với việc tham khảo kinh nghiệm pháp
điển hóa của một số nước trên thế giới, qui trình pháp điển hóa để tạo ra Bộ luật và
Bộ pháp điển không hoàn toàn giống nhau. Cơ bản bao gồm các giai đoạn sau:
+ Thống kê, tập hợp văn bản qui phạm pháp luật;
+ Hợp nhất các văn bản qui phạm pháp luật và loại bỏ các nội dung
không chứa qui phạm pháp luật trong các văn bản qui phạm pháp luật;
+ Tiến hành pháp điển hóa trên cơ sở thống nhất và tổ chức lại các qui
định của pháp luật;
+ Thông qua và công bố kết quả của pháp điển hóa;
+ Cập nhật và duy trì kết quả pháp điển hóa.
- Kết quả và giá trị của văn bản pháp điển: Đó có thể là sự ra đời của Bộ luật
hoặc Bộ pháp điển. Thông thường, Bộ luật là sản phẩm của phương thức pháp điển
hóa nội dung còn Bộ pháp điển là sản phẩm của pháp điển hóa hình thức, vì vậy
chúng có giá trị hiệu lực và sự khai thác sử dụng trên thực tế khác nhau.
2.2.3. Các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới.
Có thể thấy, nghiên cứu mô hình pháp điển hóa thực chất là đi tìm hiểu về
các yếu tố tạo thành mô hình. Thực tế, các quốc gia trên thế giới với những đặc thù
khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống pháp luật, hệ thống pháp luật
thực định ... sẽ đem lại những mô hình pháp điển hóa không hoàn toàn giống nhau.
Trên thực tế, có nhiều cách tiếp cận về các mô hình pháp điển hóa, tuy nhiên một
cách phổ biến và điển hình có thể dựa trên hai tiêu chí cơ bản:
- Các mô hình pháp điển hóa dựa vào những hệ thống pháp luật của nhóm
quốc gia chính trên thế giới. Theo đó có mô hình pháp điển hóa của những nước
theo hệ thống pháp luật Civil Law, hệ thống pháp luật Common Law và hệ thống
pháp luật khác.
nữa, sự phân loại các mô hình nêu trên chỉ mang tính tương đối do sự phát triển
kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia trong mỗi thời kì cũng như sự
giao thoa, hợp tác quốc tế và quá trình toàn cầu hóa tác động.
3.1. Mô hình pháp điển hóa của Cộng hòa Pháp
Nhìn chung, nghiên cứu mô hình pháp điển hóa tại Cộng hòa Pháp có thể
thấy đó là mô hình pháp điển hóa nội dung điển hình với sự tạo thành của các Bộ
luật có phạm vi điều chỉnh rộng lớn và đem lại giá trị cao. Tuy nhiên, cần nhận
thức được việc tiến hành pháp điển hóa để xây dựng các Bộ luật lớn phải gắn với
các lĩnh vực pháp luật ổn định cộng với sự đảm bảo về tài chính của quốc gia.
Thêm vào đó, Pháp là nước theo mô hình pháp điển hóa nội dung không có nghĩa
là không tiến hành pháp điển hóa hình thức. Xu hướng hiện đại cho thấy, bên cạnh
pháp điển hóa nội dung, Pháp đã kết hợp cả việc tiến hành pháp điển hóa hình thức
để tạo ra các Bộ pháp điển với mục đích tạo thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng
pháp luật, tăng giá trị điều chỉnh của pháp luật trong đời sống.
3.2. Mô hình pháp điển hóa của Cộng hòa liên bang Đức
Nếu như trong lịch sử Đức đã từng là một quốc gia lựa chọn mô hình pháp
điển hóa nội dung bằng sự ra đời của Bộ luật Dân sự Đức năm 1896 và có hiệu lực
năm 1900 tạo sự tác động lớn tới các quốc gia trên thế giới thì hiện nay, khái niệm
về pháp điển hóa và hệ thống hóa pháp luật ở Đức về cơ bản không có sự khác
nhau. Hệ thống hóa, pháp điển hóa tại Cộng hòa liên bang Đức thực chất là việc rà
soát, hệ thống và đơn giản pháp luật nhằm đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống
pháp luật, làm cho hệ thống pháp luật trở nên minh bạch, rõ ràng và dễ tiếp cận
15
hơn. Công việc pháp điển hóa được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm loại bỏ
các quy định đã lỗi thời, không còn phù hợp hoặc có sự trùng lặp, mâu thuẫn. Như
vậy, từ thực tiễn pháp điển hóa tại Đức (cũng như Pháp) khẳng định không một
quốc gia nào hoàn toàn theo mô hình pháp điển hóa nội dung trong suốt quá trình
tồn tại, mà mỗi quốc gia có thể nghiêng về pháp điển hóa nội dung hơn hoặc ngược
cùng tham gia điều chỉnh nhóm các QHXH có những nét tương đồng, gần gũi
nhau. Bài học này, Việt Nam cần xem xét và cân nhắc với những ngành luật liên
quan như đất đai, nhà ở, xây dựng ở nước ta hiện nay.
3.5. Mô hình pháp điển hóa của Trung Quốc
Thực chất pháp điển hóa tại Trung Quốc chính là công việc giải quyết mâu
thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật, nhằm mục đích thống nhất hệ thống
pháp luật hiện hành. Mặc dù tham vọng xây dựng Luật về xây dựng pháp luật để
giải quyết mâu thuẫn vẫn còn tồn tại nhiều điểm hạn chế nhưng ít nhiều Luật này
đã đạt nhiều thành tựu không thể phủ nhận. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc thì
tập hợp các quy định rải rác trong các văn bản đưa vào trong một văn bản thống
nhất, duy nhất; đưa các quy định đó phù hợp với quá trình phát triển. Tuy nhiên,
cách làm phổ biến ở Trung Quốc lại là để các luật chuyên ngành điều chỉnh toàn
bộ các quan hệ xã hội của chuyên ngành đó. Chẳng hạn Luật xử lý vi phạm hành
chính chỉ chứa đựng những quy tắc chung về xử lý vi phạm. Các hành vi vi phạm
cũng như các biện pháp xử phạt cụ thể cho mỗi hành vi được quy định trong các
luật khác nhau (giao thông đường bộ, môi trường, v.v.). Có lẽ cách làm này chưa
thật sự hợp lí bởi các ngành luật hoàn toàn không tách biệt nhau mà chúng luôn có
sự tác động lẫn nhau trong tổng thể hệ thống pháp luật. Bài học này Việt Nam cần
tránh để không mắc phải sai lầm như Trung Quốc.
3.6. Mô hình pháp điển hóa của Singapore
Từ thực tế nghiên cứu mô hình pháp điển hóa của Singapore, một câu hỏi
lớn đặt ra là liệu có phải khả năng “pháp điển hoá” một cách hiệu quả không liên
quan đến trình độ phát triển của một quốc gia. Pháp điển hoá hiệu quả là một công
việc chuyên sâu và vì thế cần nguồn lực (tài chính và các nguồn lực khác). Theo
kinh nghiệm của Singapore thì cách làm phổ biến nhất là khi ban hành một luật để
sửa nhiều luật, người ta đồng thời đưa các nội dung sửa đổi đó vào các luật cụ thể
(consolidation) và ban hành đồng thời tất cả các phiên bản luật mới có nội dung đã
được điều chỉnh.
17
trình pháp điển hóa khá chặt chẽ, cụ thể, trong đó sự khác biệt lớn ở nội dung về
kết quả của hoạt động pháp điển. Kết quả ở những nước nêu trên là bộ pháp điển –
18
sản phẩm mà gần như không có sự thay đổi về nội dung, mà chỉ dừng lại ở những
sự thay đổi đó là về hình thức (có thể là sự thay đổi về hình thức ở mức độ đơn
giản hoặc bán phức tạp hoặc phức tạp). Trong khi các nước thuộc hệ thống pháp
luật xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc thì gần như quy trình pháp điển hóa có sự
mô phỏng như quy trình lập pháp bởi sản phẩm tạo thành của hoạt động pháp điển
là bộ luật. Bộ luật với tư cách là sản phẩm của hoạt động pháp điển có thể có sự
thay đổi về nội dung thể hiện ở việc cho phép bổ sung thêm các quy định mới
trong quá trình pháp điển hóa khi thấy cần thiết. Sự khác nhau này chính là do
quan điểm về vấn đề pháp điển hóa ở các quốc gia là khác nhau, có thể lựa chọn
pháp điển hóa về nội dung như ở các nước thuộc hệ thống pháp luật xã hội chủ
nghĩa, song cũng có thể lựa chọn pháp điển hóa về hình thức như các nước Civil
Law và các nước Common Law. Đương nhiên nguyên nhân sâu xa của vấn đề nằm
ở sự khác biệt về truyền thống pháp luật, về kinh tế xã hội, về cấu trúc hệ thống
pháp luật thực định… của mỗi quốc gia.
- Về giá trị pháp lý của sản phẩm hoạt động pháp điển hóa và việc quản lý,
sửa đổi văn bản được pháp điển: Có thể nói, dưới góc độ lý luận các quốc gia trên
thế giới đều mong muốn sản phẩm của hoạt động pháp điển hóa dù là pháp điển
hóa về nội dung hoặc pháp điển hóa về hình thức phải có giá trị pháp lý. Chỉ khi bộ
luật hoặc bộ pháp điển có giá trị pháp lý thì mới có khả năng tác động đến các
quan hệ xã hội và như vậy mới phát huy được những ý nghĩa to lớn của pháp luật
đối với đời sống xã hội. Tuy nhiên, vấn đề quản lý, sửa đổi văn bản được pháp điển
thì các quốc gia khác nhau có sự khác nhau. Ở hầu hết các nước châu Âu đều rất
quan tâm đến vấn đề này và thực tế họ thực hiện khá hiệu quả, mặc dù cách thực
hiện có thể khác nhau.
3.7.2. Những kinh nghiệm đối với thực tiễn pháp điển hóa ở Việt Nam
thức pháp điển hóa trên.
Năm là: Xây dựng qui trình pháp điển hóa phù hợp. Có thể thấy, mỗi quốc
gia nghiên cứu ở phần trên đều có những nét riêng về qui trình pháp điển hóa đảm
bảo sự phù hợp, tương ứng với điều kiện của quốc gia đó. Do vậy, khi xây dựng
qui trình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay cũng cần tính đến những đặc thù của
nước ta, không thể áp dụng nguyên mẫu qui trình của một quốc gia nhưng cần có
sự lựa chọn kinh nghiệm từ thực tiễn các quốc gia khác.
20
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
MÔ HÌNH PHÁP ĐIỂN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chương này đánh giá về thực trạng của mô hình pháp điển hóa của Việt
Nam trong thời gian gần đây để có sơ sở cho việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện
mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay. Các nội dung cụ thể sau:
4.1. Thực trạng mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay
4.1.1. Khái quát hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam trước năm 1992
4.1.2. Mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam từ năm 1992 đến hiện nay
Một là: Mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2013
- Thành tựu:
Mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam trong giai đoạn 1992 – 2013 nhìn chung
đạt được một số thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực. Cụ thể, luận án đánh giá dưới
các góc độ như về hoạt động rà soát, tập hợp pháp luật (kết quả của pháp điển hóa
hình thức ở mức độ đơn giản); pháp điển hóa với mục đích xây dựng các bộ luật
(kết quả của pháp điển hóa nội dung); pháp điển hóa với mục đích xây dựng các bộ
pháp điển (ở mức độ thử nghiệm).
- Hạn chế:
Bên cạnh các thành tựu đạt được, mô hình pháp điển hóa còn bộc lộ một vài
điểm hạn chế. Đó là các yếu tố cấu tạo mô hình còn mờ nhạt; việc tiến hành pháp
tượng của hoạt động pháp điển hóa còn gặp nhiều khó khăn; việc giao cho quá
nhiều cơ quan có thẩm quyền thực hiện pháp điển gây khó khăn cho việc triển khai
thực hiện pháp điển và tốn nhiều thời gian, kinh phí; qui trình, trình tự thực hiện
pháp điển phức tạp, tốn kém; kết quả pháp điển hóa bằng việc xây dựng bộ pháp
điển theo chủ đề khó bảo đảm chất lượng tốt; việc xây dựng các bộ luật còn hạn
chế.
- Nguyên nhân:
Cùng với những thành tựu đạt được, hoạt động pháp điển hóa của nước ta
hiện nay vẫn còn bộc lộ những điểm hạn chế, thiếu sót, điều này bắt nguồn từ những
nguyên nhân cơ bản sau: chính sách và các qui định pháp luật trong việc hình thành
mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay còn chưa rõ ràng; sự ảnh hưởng của
truyền thống pháp luật; sự thiếu hoàn thiện trong các qui định pháp luật về việc xử lí
mâu thuẫn, chồng chéo và không còn phù hợp với thực tiễn của các văn bản qui
22
phạm pháp luật; các yếu tố đảm bảo cho việc tiến hành pháp điển hóa ở nước ta hiện
nay cơ bản còn yếu và thiếu.
4.2. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam
hiện nay
4.2.1. Quan điểm hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay.
Thực hiện Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị
“về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật từ nay đến năm 2020”
đồng thời để phát huy những thế mạnh và khắc phục hạn chế để đạt được mục đích
cuối cùng là hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như việc tra cứu, áp dụng pháp
luật của mọi người trở nên thuận tiện, dễ dàng hơn. Trong thời gian tới cần quán
triệt một số nội dung sau:
Một là: Cần thống nhất quan điểm, nhận thức về pháp điển hóa. Cụ thể cần
thấy được:
- Pháp điển hóa là một hình thức cao nhất của hệ thống hóa pháp luật;
- Hoàn thiện qui trình, phương thức thực hiện pháp điển hóa. Trên cơ sở
tham khảo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng khi bắt đầu tiến
hành pháp điển hóa văn bản qui phạm pháp luật, ở Việt Nam hiện nay, trong điều
kiện hệ thống pháp luật còn nhiều hạn chế, phức tạp, việc lựa chọn mô hình pháp
điển hóa hỗn hợp đòi hỏi phải duy trì song song hai qui trình thực hiện pháp điển
hóa. Đó là qui trình, cách thức thực hiện pháp điển hóa nội dung tạo thành bộ luật
và pháp điển hóa hình thức để tạo thành bộ pháp điển.
- Tạo lập những yếu tố đảm bảo thiết yếu đối với pháp điển hóa. Đó là các
yếu tố về tổ chức – nhân sự; về tài chính; về sự phối hợp giữa các cơ quan liên
quan; về cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật.
24
KẾT LUẬN
Pháp luật là sản phẩm của tư duy sáng tạo của con người, vì vậy, việc xây
dựng pháp luật dù có hoàn hảo đến mấy cũng không thể tránh cho hệ thống pháp
luật khỏi những hạn chế, khuyết điểm nhất định ngay từ khi mới được ban hành.
Thêm vào đó, cùng với thời gian, các văn bản quy phạm pháp luạt được ban hành
ngày càng nhiều, chồng xếp về hiệu lực và nội dung. Do đó, việc tập hợp, sắp xếp
nhằm phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo từ đó sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc
huỷ bỏ những văn bản quy phạm pháp luật không còn hiệu lực là một vấn đề rất
cần thiết hay chính là thực hiện hoạt động pháp điển hoá. Mỗi một quốc gia nói
chung, Việt Nam nói riêng, muốn có một hệ thống pháp luật thống nhất, toàn diện
và hiện đại đều phải tiến hành pháp điển hoá như một hoạt động tất yếu cần thiết
và quan trọng.
Để xây dựng và hoàn thiện mô hình pháp điển hoá phù hợp với các đặc thù
về kinh tế, xã hội, truyền thống pháp luật, … của Việt Nam hiện nay trước hết phải
nắm được những vấn đề lý luận cơ bản về pháp điển hoá như khái niệm pháp điển
hoá và mô hình pháp điển hóa; nội dung, hình thức và phương pháp pháp điển hóa;