I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tập đọc là một phân môn thực hành, là một trong những phân môn quan trọng
góp phần hình thành kỹ năng đọc cho học sinh. Đây là một trong bốn kỹ năng cơ bản
mà học sinh Tiểu học cần đạt tới. Nếu các phân môn Tập viết, Chính tả góp phần cơ
bản để rèn luyện kỹ năng viết cho học sinh thì phân môn Tập đọc có nhiệm vụ cơ bản
là luyện kỹ năng đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là
bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc” đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chẩy) đọc
có ý thức (thông hiểu được nội dung những gì mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc
diễn cảm. Khi học sinh đọc tốt, viết tốt các em mới có thể tiếp thu được những môn học
khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh mới hoàn thiện được năng lực giao tiếp bằng
ngôn ngữ của chính bản thân mình.
Vì vậy việc tìm hiểu nghiên cứu về Tập đọc ở góc độ nào cũng có ý nghĩa quan
trọng và cấp bách.
Đối với môn Tập đọc, như chúng ta đã biết ở Tiểu học trọng tâm của môn Tập
đọc là vấn đề rèn đọc, đối với lớp 1 - Lớp đầu của bậc Tiểu học thì vấn đề rèn đọc cho
học sinh là một yêu cầu cơ bản, nó có vị trí vô cùng quan trọng, nó là vấn đề cấp thiết
đòi hỏi mỗi người Giáo viên Tiểu học chúng ta cần xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ đó để
chú trọng hướng dẫn học sinh rèn đọc mang lại kết quả tốt .
Hiện nay việc dạy Tập đọc ở nhà trường Tiểu học đạt hiệu quả chưa cao, chưa
thoả mãn với yêu cầu đặt ra. Có thể có nhiều nguyên nhân chẳng hạn như chương trình
sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy. Nhiều giáo viên vẫn còn sa vào giảng văn
dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu bài. Do vậy thời gian dành cho phần luyện đọc
(trọng tâm của phân môn) còn ít. Ở phần luyện đọc giáo viên cho là dễ nhưng thực chất
đây là phần khó nhất, là phần trọng tâm trong giờ Tập đọc .Ở phần này giáo viên ít mắc
lỗi về thao tác kĩ thuật song chưa chú ý đúng mức đến mặt âm thanh của ngôn ngữ, đặc
biệt là ngữ điệu, chưa biết dạy như thế nào để phát huy tích cực, sáng tạo của học sinh.
Đó là một trong những lý do khiến cho học sinh của chúng ta đọc và nói chưa tốt. Ở lớp
1 nội dung hướng dẫn đọc ở một số bài mới chỉ dừng lại ở những lưu ý phát âm đúng
các từ ngữ hoặc thanh của Tiếng Việt, chưa chú ý đầy đủ tới các phương tiện (thao tác)
-1-
phát triển. Đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học cả đời.
-2-
Qua nghiên cứu giúp cho giáo viên có sự nhìn nhận đúng hơn, sâu hơn về tầm
quan trọng của việc rèn đọc. Từ đó giáo viên biết lựa chọn tìm ra những biện pháp tốt
nhất, những phương pháp phù hợp với đặc trưng phân môn hướng dẫn học sinh đọc tốt
hơn để nâng cao hiệu quả giờ Tập đọc.
III. ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Học sinh Tiểu học và biện pháp rèn đọc.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
1. Nghiên cứu lý luận:
- Đọc các tài liệu có liên quan đến đề tài.
- Các tài liệu dạy đọc (sách giáo khoa) cũng như thực tế dạy đọc trên lớp.
2. Nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp trao đổi toạ đàm với đồng nghiệp.
- Phương pháp thực nghiệm.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1. Tập đọc là gì:
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động
ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực này được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương
ứng với chúng là bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Như vậy đọc là một dạng ngôn ngữ,
là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu chúng
Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của
“đọc’’ đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễm cảm. Bốn kỹ năng này được hình thành
trong hai hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời
và hỗ trợ lẫn nhau, vì vậy trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố nào.
3.2. Nhiệm vụ thứ 2 của dạy đọc:
Là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc
-4-
với văn bản, làm việc với sách cho học sinh. Nói cách khác thông qua việc dạy đọc phải
giúp học sinh thích đọc và thấy được ý nghĩa của việc đọc. Phải làm cho các em thấy
đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ
và phát triển.
3.3. Các nhiệm vụ khác của dạy đọc:
Đó là làm giàu kiến thức về ngôn ngữ đời sống và kiến thức văn học cho học
sinh
Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh.
Giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh.
Giúp học sinh biết đọc giao tiếp và giải trí.
4. Cơ sở của việc dạy học:
4.1. Cơ sở tâm lí:
Đọc là một loại hoạt động trí tuệ, phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin
bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác.
Đọc được xem là một hoạt động có 2 mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử
dụng bộ mã gồm 2 phương diện: Một mặt đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ
mã chữ ghi âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói, âm
thanh. Mặt thứ hai đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm. Sử dụng bộ mã chữ nghĩa
tức là mối quan hệ giữa các con chữ và ý tưởng các khái niệm chứa đựng bên trong để
nhớ và hiểu cho được nội dung những gì đã được đọc.
Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan
chung nhất về tác phẩm văn học và sự tác động của nó đến người đọc.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Chương trình sách giáo khoa lớp 1:
Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 đã xây dựng một hệ thống các bài học với một cấu
trúc chặt chẽ, vừa bảo đảm tính đồng tâm, vừa đảm bảo tính phát triển. Phần học vần
gồm 103 bài, mỗi bài của phần học vần được trình bày trên 2 trang trang thứ nhất là
trang số chẵn và trang thứ 2 là trang số lẻ. Mỗi bài dạy – học trong 2 tiết. Mỗi tuần có 5
bài được dạy – học trong 10 tiết. Sang phần luyện tập tổng hợp phân môn Tập đọc gồm
42 bài. Mỗi bài học trong 2 tiết nhiệm vụ chính là dạy học sinh luyện đọc thành tiếng
và đọc hiểu. Bên cạnh đó còn kết hợp ôn luyện và học mới 1 số vần chưa học ở phần
-6-
một, phát triển vốn từ, luyện nói. Thể hiện trên sách giáo khoa, mỗi bài học có 2 phần
là: văn bản đọc và hướng dẫn học. Các văn bản đọc được tuyển chọn phù hợp với tâm lí
lứa tuổi học sinh lớp 1, thú vị, hấp dẫn, bổ ích, gần gũi với thế giới hồn nhiên tươi tắn
của trẻ, có tác dụng giúp trẻ nhờ tiếp xúc với 1 thế giới mới qua sách mà có thêm hiểu
biết, nâng cao hơn về tình cảm, đáng yêu, cởi mở, thông minh và tự tin hơn. Các văn
bản khá đa dạng về phong cách: phong cách nghệ thuật, khoa học và nhật dụng. Trong
đó văn bản nghệ thuật chiếm tỉ lệ khoảng 70% nhằm đảm bảo mục đích dạy tiếng đồng
thời với dạy văn, phát triển khả năng giao tiếp kết hợp với bồi dưỡng tâm hồn, tình
cảm, giáo dục đạo đức, cung cấp cho trẻ những hiểu biết cần thiết về thế giới các em
đang sống văn bản khoa học ( bài: chú Công; anh hùng biển cả …) văn bản nhật dụng
(bài cái nhãn vở; bác đưa thư) giúp trẻ biết đọc đa dạng các kiểu loại văn bản. Mở rộng
hiểu biết về thế giới tự nhiên, học cách giao tiếp với người xung quanh. Ngôn ngữ của
các văn bản hồn nhiên, trong sáng, hiện đại và thích hợp với trẻ em 6, 7 tuổi. Văn xuôi
được dạy xen kẽ với văn vần và chiếm tỉ lệ cao hơn (khoảng 60%). Đảm bảo cho sự
phát triển trí tuệ, óc phân tích và tư duy lô gic của trẻ. Còn có một số văn bản có tính
hài hước giúp trẻ sớm phát triển óc hài hước (bài vẽ ngựa; vì bây giờ mẹ mới về …).
hướng dẫn học sinh cách đọc diễn cảm để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác giả
đã gửi gắm trong bài Tập đọc.
Trong mỗi giờ dạy và đặc biệt trong quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc, giáo
viên còn phải đổi mới phương pháp giảng dạy. Giáo viên chỉ là người dẫn tổ chức, giúp
học sinh tự tìm hiểu, tự phát hiện và luyện đọc đạt kết quả tốt.
Ngoài ra để phần rèn đọc đạt kết quả tốt thì còn cần phải các yếu tố khác như cơ
sở vật chất đầy đủ, đồ dùng phục vụ học tập như bảng phụ, phấn mầu… Bên cạnh đó
bản thân mỗi giáo viên phải luôn tích cực tự học, tự rèn luyện nâng cao trình độ, năng
lực .
Nếu phối hợp tốt các yếu tố trên sẽ giúp học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm tốt. Từ
đó thể hiện được nội dung của bài, làm tăng hiệu quả giờ dạy, tạo hứng thú học tập cho
các em, giúp các em yêu thích môn Tiếng Việt, thêm hiểu biết và yêu những cái đẹp của
cuộc sống trong từng bài đọc.
Không những thế mà trong giảng dạy phân môn Tập đọc chúng ta cần phải chú ý
đến những nguyên tắc sau:
-8-
Nguyên tắc phát triển lời nói: (nguyên tắc thực hành) chúng ta ai cũng biết trẻ em
không thể lĩnh hội được lời viết nếu chúng ta không nắm được lời nói miệng. Do vậy
khi giảng dạy cần phải đảm bảo nguyên tắc này. Điều này được thể hiện rõ hơn ở phần
luyện đọc. Ở phần này học sinh được rèn luyện về cách phát âm, cách ngắt nghỉ hơi
đúng chỗ, cách đọc đúng ngữ điệu và học cách đọc như cô.
Để giờ Tập đọc đạt hiệu quả cao thì phải đảm bảo nguyên tắc phát triển tư duy,
phát triển tính tích cực chủ đạo của học sinh. Do vậy ở phần luyện đọc giáo viên cần
gợi mở, hướng dẫn học sinh tự xác định được những chỗ cần ngắt giọng, những từ cần
nhấn giọng ở những câu văn dài, giầu hình ảnh biết lên giọng, hạ giọng ở những câu
thơ, câu văn trong bài từ đó học sinh tìm cách đọc hay hơn.
Như vậy để học sinh đọc tốt môn Tập đọc đặc biệt là vấn đề rèn đọc với học sinh
lớp 1 chúng ta cần đảm bảo tốt các nguyên tắc và phương pháp trên.
những hạn chế, phát huy những ưu điểm hiện có ở thực tế, tôi xin mạnh dạn đưa ra một
số biện pháp hướng dẫn học sinh rèn đọc để nâng cao hiệu quả giờ Tập đọc ở lớp 1 nói
riêng và ở Tiểu học nói chung đó là:
I. ĐỌC MẪU:
Bài đọc mẫu của giáo viên chính là cái đích mẫu hình thành kỹ năng đọc mà học
sinh đạt được. Do đó yêu cầu đọc mẫu của giáo viên phải đảm bảo chất lượng đọc
chuẩn: đọc đúng rõ ràng, trôi chảy đọc đủ lớn, nhanh vừa phải và diễn cảm. Giáo viên
yêu cầu lớp ổn định trật tự, tạo cho học sinh tâm thế nghe đọc, hứng thú nghe đọc và
yêu cầu học sinh thầm đọc theo. Khi đọc, giáo viên đứng ở vị trí bao quát được cả lớp,
không nên đi lại trong khi đọc, cầm sách mở rộng, đọc đủ lớn để em xa nhất cũng nghe
rõ và thỉnh thoảng mắt phải rời sách nhìn lên học sinh nhưng không làm cho bài đọc bị
gián đoạn.
II. HƯỚNG DẪN ĐỌC:
Các bài Tập đọc trong sách Tiếng Việt lớp 1 có nhiều dạng, mỗi dạng có các cách
đọc khác nhau, tuỳ từng dạng bài ta hướng dẫn học sinh cách đọc phù hợp .
1. Dạng văn miêu tả:
Đọc đúng: trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh phát âm.
Để luyện phát âm cho học sinh đạt kết quả cao, giáo viên cần xác định rõ: Cần
luyện cho học sinh cái gì và luyện như thế nào? Giáo viên không nên dập khuôn theo
đúng qui định luyện đọc đúng trong sách giáo khoa mà tuỳ theo từng địa phương, từng
trường giáo viên xác định rõ các lỗi phát âm mà học sinh hay mắc để luyện cho các em.
Trường tôi giảng dạy học sinh thường hay sai các phụ âm đầu L- n, r – d - gi. Do vậy
- 10 -
trong khi giảng dạy tôi luôn chú trọng rèn luyện cho các em phát âm đúng các phụ âm
trên. Trong các bài Tập đọc giáo viên cần cho học sinh tự phát hiện, tìm những tiếng, từ
có âm, vần, tiếng khó để các em nêu ra, giáo viên gọi học sinh đọc, học sinh khác nhận
đọc tiếng, từ sau: mưu, hoảng lắm, nén sợ, lễ phép, sạch sẽ.
Bài nói dối hại thân học sinh được luyện đọc các tiếng, từ: Cừu, giả vờ, kêu cứu,
tức tốc, hoảng hốt.
Ngoài ra bên cạnh đó Giáo viên còn luyện đọc cho học sinh lên giọng ở cuối mỗi
câu hỏi.
Ví dụ: dạy bài: Vì bây giờ mẹ mới về
Giáo viên hỏi: Trong bài có mấy câu hỏi?
Luyện đọc cho học sinh đọc lên giọng ở cuối mỗi câu hỏi:
- Con làm sao thế?
- Đứt khi nào thế?
- Sao đến bây giờ con mới khóc?
3. Dạng thơ:
Để luyện cho học sinh đọc đúng điều trước tiên phải hướng dẫn học sinh luyện
phát âm. Tương tự như hướng dẫn hai loại văn trên. Khi dạy bài tập đọc là bài thơ thì
một công việc không thể thiếu được đối với giáo viên là cho học sinh ngắt nhịp thơ.
Ví dụ: Dạy bài: Tặng cháu. Toàn bài cho học sinh đọc với nhịp 2-2-3
Vở này/ ta tặng/ cháu yêu ta.
Dạy bài: Cái Bống. Toàn bài đọc với nhịp 2-2-2.
Mẹ Bống/đi chợ/đường trơn
Bống ra/gánh đỡ/chạy cơn/mưa ròng.
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM VẤN ĐỀ RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH
I. MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM:
Đưa ra biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1 là bản thân đề xuất vào thử nghiệm
ở trường tiểu học xem có phù hợp với trình độ học simh hay không? có phát huy được
tính tích cực của học sinh hay không? có nâng cao hiệu quả đọc của học sinh hay
không?
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐỊA BÀN:
Học sinh lớp 1C, 1D đều có sỹ số 53 HS
5 = 9,4%
1 = 1,9%
2 = 3,8%
0
Nhận xét đánh giá chung:
Qua 02 tiết, bản thân trực tiếp giảng dạy lớp 1C và lớp 1D có cùng sỹ số là
53HS, có trình độ tương đương nhau. Dưới sự giám sát của ban giám hiệu và tập thể
giáo viên, cho phép tôi nhận xét sau:
Số lượng học sinh đọc lưu loát ở tiết thực nghiệm của lớp 1C đạt kết quả cao
hơn so với số lượng học sinh đọc lưu loát ở lớp 1D, nhất là ở mức đọc giỏi, ở tiết thực
nghiệm, giáo viên có thời gian rèn đọc cho học sinh, học sinh được tự mình thể hiện
giọng đọc, được nhận xét bạn đọc, được đọc mẫu cho bạn. Nên giáo viên kiểm soát
hết được các em trong lớp. Lớp học sôi nổi, các em hứng thú học tập, chủ động tìm
cách đọc, giọng đọc, ngắt giọng, ngắt nhịp một cách có ý thức để đọc tốt. Từ đó giảm
hẳn tỷ lệ học sinh yếu.
PHỤ LỤC
- 13 -
Khi tiến hành dạy thực nghiệm tôi chọn hai bài. Một bài thơ và một bài văn có
dạng văn miêu tả cụ thể đó là bài: “Lũy tre” và bài: “Hồ Gươm”.
Tôi quyết định dạy hai bài ở hai dạng văn khác nhau.
Qua nghiên cứu tôi thấy hai bài Tập đọc này rất hay, nó phù hợp với tâm sinh lý
học sinh và phù hợp với trình độ nhận thức của các em. Từ đó giúp các em đọc đúng,
đọc chính xác các âm khó, vần khó, tiếng khó, học sinh xác định được giọng đọc và
luyện đọc diễn cảm tốt từ đó các em càng thêm yêu quê hương đất nước, thấy được sự
đổi mới tiến bộ rõ nét của lịch sử đất nước. Như chúng ta đã biết có hai cách dạy bài
- Gọi H đọc lại bài: Hai chị em
Vài H
- Vì sao cậu em thấy buồn khi ngồi
chơi một mình?
2’
20
’
2.Bài mới
* Giới thiệu bài
-Cho H quan sát tranh
-H quan sát
HĐ1.Hướng dẫn H
luyện đọc
- G đọc mẫu và cho H xác định số H xác định.
- 14 -
câu.
* Hướng dẫn H luyện đọc từ khó:
+ G đưa từ và hướng dẫn cách đọc:
khổng lồ, long lanh, lấp ló, xum xuê.
+ Giải nghĩa: Long lanh là chói sáng,
lóng lánh.
Lấp ló: Bày ra một phần,
ló ra thụt vào.
* Hướng dẫn H đọc bài:
* Cho H luyện đọc câu
- G đọc mẫu câu 2 và hướng dẫn cách
+ Tìm từ chứa tiếng có vần ươm, H tìm
ươp?
- Cho H nói câu chứa tiếng có vần Nhiều H nói.
ươm, ươp.
Tiết 2
12
’
vần,
HĐ1.Luyện đọc
- G đọc mẫu cả bài
- Cho H đọc đoạn 1
- 15 -
H đọc thầm.
1 dãy.
- Cho H đọc đoạn 2
- Gọi H đọc nối tiếp đoạn.
- Gọi H đọc cả bài.
- Nhận xét, ghi điểm.
10
’
HĐ2. Tìm hiểu nội - Gọi H đọc đoạn 1
3. Củng cố, dặn dò
- Gọi H đọc lại cả bài.
H đọc
- VN: Đọc lại bài và chuẩn bị bài
sau.
10
’
3’
Bài 2:
Luỹ tre
I/ MỤC ĐÍCH YÊU CẦU:
- Đọc trơn cả bài. Phát âm đúng các tiếng, từ ngữ khó: luỹ tre, rì rào, gọng vó,
bóng râm. Biết nghỉ hơi sau mỗi dòng thơ.
- 16 -
- Ôn vần iêng. Tìm được tiếng, nói được câu chứa tiếng có vần iêng.Điền vần
iêng hoặc yêng.
- Hiểu nội dung bài.
II/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
- Tranh minh hoạ SGK tr 121- 122
III/ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
dòng thơ.
* Hướng dẫn H luyện đọc từ khó:
- G đưa từ và hướng dẫn cách đọc:
luỹ tre, rì rào, gọng vó, đầy nắng,
bóng râm.
- Giải nghĩa: Rì rào là tiếng, gió
thổi vào lũy tre
Bần thần là như ngây
người ra
* Hướng dẫn H đọc bài:
- Hướng dẫn luyện đọc khổ thơ:
+ G đọc mẫu khổ 1 và hướng dẫn
cách đọc
+ Đọc khổ 2 làm tương tự.
+ Gọi H đọc nối tiếp các khổ thơ.
- Đọc cả bài: G đọc mẫu
HĐ2. Ôn vần
Ghi bảng: iêng- yêng.
- Gọi H đọc lại, so sánh 2 vần.
- Tìm tiếng trong bài, ngoài bài có
- 17 -
H xác định.
H đánh vần, phân
tích.
1 dãy
1 dãy
Nhiều lần
buổi sớm?
- Gọi H đọc khổ thơ 2
+ Những câu thơ nào tả luỹ tre vào
buổi trưa?
+ Buổi trưa bên luỹ tre có gì vui?
- G đọc diễn cảm bài thơ
- Cho H đọc bài thơ.
H đọc thầm.
1dãy.
1dãy.
Nhiều lần
Nhiều em
1-2 H
1-2 H
1-2 H
Nhiều H
HĐ3. Luyện nói
- Cho H nêu chủ đề luyện nói.
- Từng cặp H hỏi đáp theo mẫu.
- G nhận xét.
3. Củng cố, dặn dò
- Gọi H đọc lại cả bài.
đạt hiệu quả cao. Để việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh
lớp 1 nói riêng thì người giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn
cho bản thân, đặc biệt là kiến thức văn học và phương pháp dạy thích hợp. Qua nghiên
cứu học tập, qua các chuyên đề, tài liệu chuyên môn, sách Tiếng Việt nâng cao, thông
tin giáo dục Tiểu học, chuyên đề về phương pháp Tiếng Việt ở Tiểu học, về các sách
tham khảo. Song bên cạnh đó cần có sự quan tâm đúng mức của Đảng, Nhà nước đối
với sự nghiệp giáo dục. Có như vậy việc giảng dạy của giáo viên mới không bị chi phối
và đạt được kết quả mong muốn.
Trong thời gian thực hiện đề tài, được sự quan tâm, giúp đỡ của ban giám hiệu
nhà trường, tôi đã cố gắng hoàn thành tốt đề tài “Một số biện pháp rèn đọc cho học
sinh lớp 1” trên địa bàn lớp 1 trường Tiểu học Khương Thượng. Do thời gian có hạn
và kinh nghiệm còn chưa nhiều, năng lực còn hạn chế nên không tránh khỏi những
thiếu sót trong quá trình điều tra phân tích, nghiên cứu. Vì vậy tôi kính mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu và bạn bè đồng nghiệp.
- 19 -
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm trên là của tôi, không sao chép của
người khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 11 tháng 4 năm 2014
NGƯỜI VIẾT
Phan Th ị G ấm
Ý KIẾN CỦA BAN GIÁM HIỆU NHÀ TRƯỜNG
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………