Chính sách bảo vệ môi trường biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM NGỌC HÀ NY

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, Năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM NGỌC HÀ NY

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ THỊ THANH HÀ


BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY ..................65
3.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường biển ở Quảng Nam hiện nay
.......................................................................................................................................65
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường ở tỉnh
Quảng Nam hiện nay .....................................................................................................70
KẾT LUẬN ..................................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC VIẾT TẮT

CBCC

: Cán bộ công chức

CCKT

: Công cụ kinh tế

CCN

: Cụm công nghiệp

CP

: Chính phủ

GDP

: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước

UBND

: Ủy ban nhân dân

VMT

: Bảo vệ môi trường


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1.

2.2

Các Văn bản chủ trương chính sách bảo vệ môi
trường biển của tỉnh Quảng Nam
Các lỗ khoan quan trắc môi trường trên địa bàn
tỉnh

Trang

41

43



Chỉ thị 399, ngày 05-8-1993, về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong
những năm trước mắt; Chỉ thị 171/TTg năm 1995 triển khai Nghị quyết 03NQ/TW. Ngày 22-9-1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy
mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực
hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, một loạt kế hoạch về phát triển kinh tế biển đã được
thông qua, như: Chiến lược phát triển thủy sản 2010; Chiến lược phát triển du lịch
2010; Chiến lược phát triển giao thông vận tải 2010…Hội nghị lần thứ tư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X đã thông qua Nghị quyết về Chiến lược
biển Việt Nam đến năm 2020.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, trước sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày
càng nhanh, nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao trong bối cảnh các nguồn
tài nguyên đất liền ngày càng cạn kiệt, càng đẩy mạnh khuynh hướng tiến ra biển,
khai thác biển, làm giàu từ biển. Nhưng đi kèm với việc tăng cường khai thác tài
nguyên biển lại là các phương thức thiếu tính bền vững. Các hoạt động khai thác
chủ yếu chỉ tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được lợi nhuận tối
đa, trong khi xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường. Đặc biệt trong bối cảnh tác
động của biến đổi khí hậu với các biểu hiện chính là sự gia tăng mực nước biển
và nhiệt độ của trái đất tăng cao đang làm cho nhiều nguồn tài nguyên biển bị khai
thác cạn kiệt, hệ sinh thái biển bị đe dọa nghiêm trọng, môi trường biển nhiều nơi
trở nên ô nhiễm đến mức báo động.
Tỉnh Quảng Nam có 125 km bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp lý tưởng như: Hà
My, An Bàng, Cửa Đại, Bình Minh, Tam Thanh, Biển Rạng ... nơi đâu cũng hoang
sơ, tràn đầy gió và ánh nắng mặt trời. Các bãi tắm ở Quảng Nam đều có bãi cát
trắng, mực nước nông, có độ mặn vừa phải và quanh năm trong xanh. Thống kê
của Sở TN&MT tỉnh Quảng Nam, lượng nước thải từ các khu công nghiệp (KCN),
cụm công nghiệp(CCN) ước khoảng 23.600m3/ngày đêm, nhưng chỉ có KCN

2



tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao đã đề cập đến nhiều nội dung như: Khái niệm môi
trường biển và BVMT biển, tầm quan trọng của vấn đề BVMT biển, định nghĩa ô
nhiễm môi trường biển, các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển; các điều ước
quốc tế và khu vực Đông Nam Á về môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển;
TN&MT và ô nhiễm biển tại Việt Nam: TN&MT biển Việt Nam, Thực trạng ô
nhiễm biển Việt Nam, Các yếu tố khí tượng thủy văn ảnh hưởng đến ô nhiễm
biển; chiến lược và hoạt động liên quan đến BVMT biển, phòng chống ô niễm
môi trường biển.
-Công trình “Bảo vệ môi trường biển vấn đề và giải pháp” của tiến sĩ Nguyễn
Hồng Thao đề cập đến: Những vấn đề chung, có tính cấp thiết của việc BVMT
biển cùng những công ước quốc tế quan trọng liên quan đến vấn đề này. Đề cập
tình hình ÔNMT biển Việt Nam hiện nay, việc tổ chức phòng chống, hạn chế ô
nhiễm. Đặc biệt cuốn sách còn giới thiệu một số văn bản luật quan trọng của Việt
Nam về bảo vệ, phòng chống, ô nhiễm môi trường biển.
- “Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền
vững” là công trình khoa học do PGS.TS. Nguyễn Bá Diến chủ biên, Trung tâm
Luật biển và Hàng hải quốc tế (Khoa Luật, ĐHQGHN) được thực hiện trong
khuôn khổ Dự án “Các nguyên tắc trong thực tiễn quản lý biển và đới bờ”
(Principles in Practice: Ocean and Coastal Governance) giữa Đại học Quốc gia
Hà Nội, Trường Đại học Dalhousie (Canada) và Trường Đại học Visayas
(Philippines) dưới sự tài trợ của Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Canada
(CIDA). Cuốn sách này được thiết kế và biên tập từ các bài viết tham luận và ý
kiến được trình bày tại các cuộc hội thảo của các nhà khoa học đầu ngành, các
giảng viên lâu năm, các nhà quản lý tâm huyết, các vị đại biểu Quốc hội giàu kinh
nghiệm thực tiễn và kết quả nghiên cứ của các chuyên gia tại Trung tâm Luật biển
và Hàng hải quốc tế. Nội dung cuốn sách trình bày tổng quan về: Chính sách, pháp
luật về biển và nguyên tắc phát triển bền vững; phân tích 17 thực trạng và đề xuất
4



trưng cơ bản của quy hoạch không gian biển; các bước quy hoạch không gian
biển, cách tiếp cận từng bước sẽ được thể hiện cụ thể trong phần này, nhấn mạnh
các lưu ý và nội dung cần thiết cho mỗi bước thực hiện; quy hoạch không gian
biển trên thế giới và Việt Nam với cái nhìn tổng thể, toàn diện về những thành
công và thực trạng áp dụng; quy hoạch không gian biểncấp địa phương sẽ được
làm rõ trong quá trình áp dụng công cụ quy hoạch không gian biển trong quản lý
khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
- Bài viết của TS Lê Thị Thanh Hà về Bảo vệ môi trường biển đảo ở nước ta
hiện nay đăng trên tạp chí Lý luận chính trị số 12/2015 đã chỉ ra vai trò của biển
đảo đối với sự sống của con người, thực trạng môi trường biển đảo đang bị ô
nhiễm ở Việt Nam hiện nay và một số giải pháp nhằm bảo vệ môi trường biển,
đảo ở nước ta hiện nay.
- Bài viết của TS Lê Thị Thanh Hà về Phát triển kinh tế biển gắn liền với
bảo vệ môi trường biển, đảo ở nước ta hiện nay đăng trên tạp chí
http://www.tapchicongsan.org.vn/ đã chỉ ra việc vươn ra biển, làm giàu từ biển ở
nước ta hiện nay là chủ trương đúng của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, do hiện
nay, chủ trương chính sách bảo vệ môi trường biển từ việc phát triển kinh tế chưa
đầy đủ và phủ kín các lĩnh vực, do vậy, môi trường biển đang bị ô nhiễm nghiên
trọng. Vì vậy, tác giả chỉ ra một số giải pháp phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ
môi trường biển đảo ở nước ta hiện nay.
2.2. Các công trình nghiên cứu về bảo vệ môi trường biển ở Quảng Nam và
việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển ở Quảng Nam
- Bài viết:Quảng Namngăn chặn nguy cơ ô nhiễm môi trường biển của Yến
Nhi và Anh Dũng trên báo http://baotainguyenmoitruong.vn . Bài viết đã chỉ ra
thực trạng nguy cơ ô nhiễm môi trường biển ở Quảng Nam từ du lịch, từ nuôi
trồng thủy sản và đặc biệt từ các khu công nghiệp đang đổ thẳng ra biển Quang
Nam.

6

7


quan trắc môi trường tỉnh Quảng Nam năm 2015 – 2020.
- Năm 2012, UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện kiểm tra việc quản lý sử dụng
kinh phí sự nghiệp môi trường giai đoạn 2006-2011 tại 09/18 huyện, thành phố
và 02/9 đơn vị (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công ty TNHH MTV
Môi trường Đô thị Quảng Nam).
Nhìn chung các công trình trên đã đề cập đến việc bảo vệ môi trường biển,
một số chính sách bảo vệ môi trường biển và đây là nguồn tài liệu quý giá để học
viên kế thừa và phát triển. Việc nghiên cứu chính sách bảo vệ môi trường biển
qua thực tế tỉnh Quảng Nam sẽ làm phong phú thê nguồn tài liệu tham khảo và
góp phần vào bức tranh chung bảo vệ môi trường biển - vấn đề đang gây nhức
nhối ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về chính
sách bảo vệ môi trường và khảo sát, đánh giá thực trạng chính sách bảo vệ môi
trường biển ở tỉnh Quảng Nam, trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số giải pháp
cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường biển ở tỉnh Quảng Nam
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của chính sách bảo vệ môi trường.
- Phân tích chính sách bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Nam trong những
năm gần đây.
- Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường tỉnh Quảng
Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở tỉnh


9


đề bảo vệ môi trường biển và định hướng cho việc giải quyết.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Các phân tích, đánh giá về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường tại vùng
biển Quảng Nam giúp nhìn nhận rõ hơn những kết quả, những tồn tại và qua đó
gợi ý, kiến nghị những giải pháp thúc đẩy cũng như khác phục tồn tại.
- Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp những luận cứ từ thực tiễn ở vùng Biển
Quảng Nam liên quan đến các giải pháp quản lý môi trường, thực hiện chính sách
bảo vệ môi trường Biển.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu
3 chương, 9 tiết
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách BVMT biển.
Chương 2. Chính sách BVMT biển ở Quảng Nam hiện nay – Thực trạng và
hạn chế.
Chương 3. Một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính
sách bảo vệ môi trường biển ở tỉnh Quảng Nam hiện nay.

10


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm bảo vệ môi trường
Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường chưa bao giờ nhân loại nhắc đến

nhằm ngăn chặn những tác động xấu của con người gây ra cho môi trường sống.
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Bảo vệ môi trường là tập hợp các
biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật,
thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, không khí, lòng đất, khí hậu…v.v.),
nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ
ít có hoặc không có phế liệu … nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống
của con người. Ngoài ra môi trường còn gồm các điều kiện tinh thần, văn hóa
khiến cho đời sống con người được thỏa mái”[27,t.l,tr.160].
Theo khoản 3, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 định nghĩa“Bảo vệ môi
trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn
chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô
nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và
tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”[19, tr.78]. Định nghĩa
này khá đầy đủ về nội dung bảo vệ môi trường. Nhưng theo chúng tôi, nếu bảo vệ
môi trường chỉ là những hoạt động nêu trên thì chưa đủ mà cần phải dựa trên cơ
sở chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp của Đảng và Nhà nước.
Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2014 thì “ Hoạt động bảo vệ môi trường là
hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng
phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi
trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường
trong lành”[21. Khoản 3 điều 3]

12


Dựa trên những văn bản của Đảng, Nhà nước và của các tác giả đi trước về
bảo vệ môi trường nêu trên, đồng thời dưới góc độ chính sách công, có thể khái
quát: Bảo vệ môi trường là toàn bộ chủ trương, chính sách, thể chế và những hoạt
động của con người, từ các cá nhân, nhà nước đến tổ chức xã hội nhằm khai thác
và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, cải tạo, phục hồi, ngăn ngừa ô

xử lý ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; Điều 51. phòng ngừa và ứng phó sự cố
môi trường biển và hải đảo). Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã quan tâm đến vấn
đề môi trường biển, đảo hơn, có tính bao quát rộng hơn về vấn đề này và tầm quan
trọng trong công tác bảo vệ môi trường biển hải đảo trong giai đoạn hiện nay.Luật
Bảo vệ môi trường năm 2014 có một chương quy định về bảo vệ môi trường biển
và hải đảo nhằm bảo đảm tính thống nhất và toàn diện, đây là văn bản quy phạm
pháp luật quan trọng góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý
tổng hợp, thống nhất nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.Song
trong các điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không chỉ ra thế nào là bảo
vệ môi trường biển? Theo chúng tôi, bảo vệ môi trường biển là những chủ trương,
chính sách và hoạt động thực tiễn của Đảng, Nhà nước, nhân dân nhằm giữ gìn,
khai thác, bảo vệ, cải tạo, phục hồi các yếu tố cấu thành môi trường biển
gồm:nước biển, các sinh vật thủy, hải sản trong lòng biển, rêu rong tảo trong
nước biển và các tài nguyên thiên nhiên có trong lòng biển.
Trong tài liệu "100 câu hỏi đáp về biển đảo dành cho giới trẻ" của Ban Tuyên
giáo Trung ương đã chỉ ra một số cách bảo vệ môi trường biển và chúng tôi đồng
nhất với quan niệm này nhằm bảo vệ môi trường biển như sau:
Sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên: Trong số những lợi ích mà biển mang
lại, các yếu tố môi trường biển, các Hệ sinh thái và Đa dạng sinh học đóng vai trò
đặc biệt quan trọng, luôn đan xen giữa lợi ích trước mắt và lâu dài theo đúng nghĩa
của nó. Đây là nguồn tài nguyên tái tạo, là nền tảng đối với phát triển bền vững
các ngành kinh tế sinh thái của đất nước. Cho nên, có thể nói sự “trường tồn của
biển cả” sẽ phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên biển.

14


Giảm thiểu suy thoái và ô nhiễm môi trường biển và vùng ven biển: Chú
trọng phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm biển kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện
môi trường và bảo tồn thiên nhiên; tăng cường bảo tồn Đa dạng sinh học, chú

tế trong QLMT biển, như: lệ phí ô nhiễm, lệ phí xả thải, phí sử dụng biển, phí sản
phẩm, lệ phí hành chính, thuế, cấp phép và thu hồi giấy phép khai thác, sử dụng
biển, đảo, các quỹ môi trường biển và các khoản trợ cấp khác.
Tham vấn của các bên liên quan và tuyên truyền: Về bản chất, tài nguyên
biển - ven biển thuộc loại tài nguyên chia sẻ cho nên việc sử dụng nó làm gia tăng
mâu thuẫn lợi ích giữa các cộng đồng hưởng dụng các hệ thống tài nguyên này.
Vì thế, cần một giải pháp quan trọng là phải tranh thủ càng nhiều càng tốt sự tham
vấn của các bên liên quan và lôi cuốn được khả năng tham gia của cộng đồng địa
phương vào các hoạt động quản lý môi trường biển và ven biển. Vấn đề này thực
hiện đơn lẻ ở từng khu vực, chưa đại trà.
1.1.2. Khái niệm chính sách bảo vệ môi trường biển
1.1.2.1. Chính sách bảo vệ môi trường
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của Chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách
làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn
diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường.
Chính sách bảo vệ môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tính
chiến lược, thời đoạn, nhằm giải quyết một nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể
nào đó, trong một giai đoạn nhất định.
Chính sách môi trường cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi trường (trong nước) và
các Công ước quốc tế về môi trường. Mỗi cấp quản lý hành chính đều có những
chính sách môi trường riêng. Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách
của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương. Sự đúng đắn và thành công
của chính sách cấp địa phương có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự thành công
của chính sách cấp trung ương.

16


Theo Luật Bảo vệ môi trường, chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi

hợp các Quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu,
giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục
tiêu tổng thể đã xác định”.
Như vậy,chính sách bảo vệ môi trường biển là một tập hợp các quy định,
quyết định quản lýnhà nước về bảo vệ môi trường biển nhằm lựa chọn các mục
tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề môi trường biển
theo mục tiêu tổng thể đã xác định.
Tài nguyên biển và hải đảo bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi
sinh vật thuộc khối nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, vùng đất ven biển
và quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm thuộc chủ quyền, quyền chủ
quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Nhà nước ta có những chính sách
về bảo vệ môi trường biển là bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cụ
thể:
Một là, nhà nước bảo đảm bảo vệ môi trường biển, tài nguyên biển và hải
đảo được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững theo chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền
quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Hai là, nhà nước huy động các nguồn lực, khuyến khích đẩy mạnh công tác
điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;
ưu tiên cho vùng biển sâu, biển xa, hải đảo, vùng biển quốc tế liền kề và các tài
nguyên mới có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh; có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia khai thác,
sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Ba là,tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; nâng cao
hiệu quả công tác phối hợp trong việc kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó
sự cố môi trường biển và hải đảo, biến đổi khí hậu, nước biển dâng; quản lý chặt
chẽ hoạt động nhận chìm ở biển.

18





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status