BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
…../…..
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THANH HÒA
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Thừa Thiên Huế - Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
…../…..
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi luôn nhận được sự động viên,
giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Cô giáo TS. Bùi Thị Thanh Thúy,
người đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Học viện Hành chính quốc gia,
các Khoa, Phòng cũng như các Giáo sư, Phó Giáo sư, các nhà khoa học, các
thầy, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy; Các anh/chị, các bạn đồng chí
đang công tác tại Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh Quảng Ngãi và gia
đình đã hỗ trợ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học
tập và quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu và thông tin cần thiết tại Cảnh sát
phòng cháy và chữa cháy tỉnh Quảng Ngãi.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm các bạn học viên lớp Cao học Luật
Hành chính - Luật Hiến pháp LH2.T2 đã cùng tôi chia sẻ kiến thức và kinh
nghiệm trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thiện
luận văn, trao đổi và tiếp thu những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và bạn
bè, tham khảo nhiều tài liệu, song không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận được những thông tin góp ý của thầy, cô và bạn đọc.
Xin chân thành cám ơn!
Quảng Ngãi, ngày
tháng
năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Thanh Hòa
QUẢNG NGÃI................................................................................................ 50
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi ................................................................................................................. 50
2.1.1. Vị trí địa lý, tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Quảng Ngãi ................... 50
2.1.2. Tình hình cháy, nổ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ........................... 53
2.2. Thực trạng vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ............................................... 57
2.2.1. Tình hình vi phạm trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi ........................................................................................ 57
2.2.2.Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và
chữa cháy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ......................................................... 63
2.3.1. Ưu điểm và nguyên nhân ................................................................. 66
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân .................................................................. 69
Tiểu kết Chương 2 .......................................................................................... 80
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ
LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC PHÒNG CHÁY VÀ
CHỮA CHÁY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI ............................ 81
3.1. Dự báo tình hình và quan điểm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy......................................................................... 81
3.1.1. Dự báo tình hình cháy, nổ và vi phạm về phòng cháy, chữa cháy
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi .......................................................................... 81
3.1.2. Quan điểm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ......................... 84
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng
cháy và chữa cháy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ........................................................... 86
3.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy ................................................................... 86
: Phòng cháy và chữa cháy
PCCC và CNCH
: Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ
QLNN
: Quản lý nhà nước
UBND
: Ủy ban nhân dân
VPHC
: Vi phạm hành chính
XL VPHC
: Xử lý vi phạm hành chính
XP VPHC
: Xử phạt vi phạm hành chính
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ
Hình 2.1. Bảng thống kê số vụ cháy, nổ và thiệt hại do cháy, nổ gây ra từ
được Nhà nước ban hành như: Ngày 25/6/2015, Ban Bí thư T.Ư Đảng đã ban
hành Chỉ thị số 47-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác PCCC, trong đó yêu cầu các cấp, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc và đoàn thể các cấp tập trung thực hiện các nhiệm vụ lớn để nâng cao
hiệu quả phòng cháy, chữa cháy; bên cạnh đó Thủ tướng Chính phủ cũng ký
Quyết định số 1635/QĐ-TTg ngày 22/9/2015 ban hành “Chương trình hành
1
động thực hiện Chỉ thị số 47-CT/TW; Luật Phòng cháy và chữa cháy năm
2001 đã được sửa đổi bổ sung năm 2013, Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày
31/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Phòng cháy và chữa cháy; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013
của Chính phủ quy định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật
tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy;
phòng chống bạo lực gia đình (sau đây gọi là Nghị định 167/2017/NĐ-CP);
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012…
Tuy nhiên trên thực tế, một số đơn vị, cá nhân vẫn còn chủ quan trong
công tác an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy, nổ dẫn đến xảy ra các
vụ cháy, nổ không được kiểm soát kịp thời gây hậu quả nghiêm trọng. Theo
thống kê của Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ - Bộ
Công an, trong năm 2016, cả nước xảy ra 3006 vụ cháy, trong đó có 1229 vụ
cháy tại các cơ sở, 1290 vụ cháy nhà dân, 169 vụ cháy phương tiện giao
thông, và 318 vụ cháy rừng, làm chết 98 người, bị thương 180 người, thiệt
hại về tài sản trị giá ước tính trên 1240 tỷ đồng và 1800 ha rừng. Trong đó, có
những vụ cháy, nổ kinh hoàng gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ và nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm miền trung, là địa phương năng động với chủ trương tạo ra
môi trường đầu tư tốt. Quảng Ngãi có nhiều lợi thế về tiềm năng đất đai và
trong lĩnh vực PCCC chưa cao; hoa ̣t đô ̣ng thanh tra xử pha ̣t vi pha ̣m hành
chiń h trong lĩnh vực PCCC chưa đầy đủ; chưa có nhiề u mố i quan hê ̣ phố i hơ ̣p
hiêụ quả giữa lực lươ ̣ng Cảnh sát PCCC với các đơn vi ̣ khác trong việc xử
phạt vi hành chính trong lĩnh vực PCCC; cán bộ làm công tác xử lý còn thiếu
kiên quyết, chưa triệt để; các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính còn nhiều bất cập như: có những quy định chưa rõ ràng, cụ thể
3
dẫn tới việc áp dụng chưa thống nhất; quy định về thẩm quyền, các biện
pháp xử lý vi phạm hành chính, mức phạt trong một số hành vi vi phạm còn
chưa hợp lý…
Xuất phát từ thực tiễn đời sống, nhằm giúp cho hoạt động quản lý nhà
nước về PCCC thu được hiệu quả cao nhất, qua đó nâng cao hơn nữa ý thức
trách nhiệm về an toàn PCCC cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi, hạn chế vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa
cháy. Đặc biệt, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước và hội nhập quốc tế. Với những lý do như trên, việc chọn đề tài: “Xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp là rất cần thiết, nó vừa có ý
nghĩa lý luận và vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
- Thứ nhất, một số một số đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề xử
lý vi phạm hành chính:
+ Lê Thị Thu Lan (2012), Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
+ Thiều Thị Thúy Ngân (2013), Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
3.1. Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề liên quan đến lý luận, cơ
sở pháp lý và thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC ở
tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
5
công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Luận văn tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực PCCC;
- Đánh giá thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi gồm:
+ Thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa
cháy và nguyên nhân của thực trạng đó;
+ Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC và
nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đánh giá tổng quát các yếu tố tác động đến việc xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực PCCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực PCCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Xử lý vi phạm hành chính được
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về vi phạm hành
chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy.
Chương 2: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng
cháy và chữa cháy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
7
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY
1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và
chữa cháy
Vi phạm pháp luật là hiện tượng xã hội, là những hành vi phản ứng tiêu
cực của một số cá nhân hay tổ chức đi ngược lại với ý chí nhà nước được quy
định trong pháp luật. Những hành vi có tính chất tiêu cực đó luôn gây hại cho
nhà nước, xã hội và nhân dân, do vậy chúng luôn bị nhà nước, xã hội và nhân
dân lên án, đấu tranh đòi hỏi phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Vi phạm pháp
luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí
thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ [44, tr.211].
Hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng và được chia theo
từng loại quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ bị xâm hại. Trong đó, VPHC là
một loại vi phạm xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội. Nhà nước đã ban
Tại Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (được
sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2008), VPHC cũng được quy định một cách
gián tiếp thông qua việc xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức
có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà
nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
hành chính.
Có thể thấy, định nghĩa vi phạm hành chính đã từng được nêu trong Pháp
lệnh XPVPHC năm 1989 nhưng sau này Pháp lệnh XLVPHC 1995 và Pháp lệnh
XLVPHC 2002 không nêu định nghĩa về VPHC mà chỉ định nghĩa về xử phạt
hành chính, do đó chỉ có thể xác định một cách gián tiếp khái niệm VPHC thông
qua khái niệm xử phạt VPHC- cách quy định như vậy không thật sự khoa học.
10
Luật XL VPHC 2012 đã trở lại kỹ thuật lập pháp của Pháp lệnh XP
VPHC năm 1989, đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính bằng cách giải thích
thuật ngữ này tại Khoản 1 Điều 2, theo đó VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ
chức thực hiện, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước, không
phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC.
Nhờ có định nghĩa của Luật mà xác định được các dấu hiệu chung của
VPHC, phân biệt VPHC với tội phạm, là căn cứ để Chính phủ quy định các vi
phạm hành chính cụ thể trong các lĩnh vực như người có thẩm quyền tiến hành
xử phạt VPHC. Từ định nghĩa của Luật, có thể hiểu VPHC về PCCC là các hành
vi trái với các quy định của các quy phạm pháp luật về PCCC và các quy chuẩn,
tiêu chuẩn về PCCC; khi sự vi phạm có các dấu hiệu pháp lý do pháp luật về
PCCC quy định và sẽ bị nhà nước truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân
hoặc tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm đó.
Vi phạm hành chính về PCCC bao gồm các dấu hiệu pháp lý cơ bản sau:
- Hành vi của các chủ thể được thực hiện bằng hành động hoặc không
hành động xâm hại đến trật tự QLNN trong lĩnh vực PCCC;
các chủ thể pháp luật PCCC. Pháp luật PCCC không điều chỉnh những suy
nghĩ, quan niệm, tư tưởng khi chưa biểu hiện thành các hành vi cụ thể thì dù tệ
hại thế nào cũng chưa phải là các hành vi vi phạm pháp luật về PCCC.
Hành vi trái pháp luật PCCC là hành vi được thực hiện không đúng
với những quy định của pháp luật PCCC như không làm những việc mà pháp
luật PCCC yêu cầu, làm những việc mà pháp luật PCCC cấm hoặc tiến hành
những hoạt động vượt quá giới hạn, phạm vi cho phép của pháp luật
PCCC,…
Như vậy, muốn xem xét hành vi nào đó xâm hại đến các quan hệ xã hội
do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện có phải là vi phạm hành chính trong PCCC
hay không thì điều cần thiết là phải căn cứ vào các quy định, yêu cầu được
12
nêu ra trong các quy phạm pháp luật PCCC để xem xét. Điều này được khẳng
định tại Điểm d Khoản 1 Điều 3 Luật XL VPHC năm 2012 về nguyên tắc xử lý
VPHC như sau: “Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành
chính do pháp luật quy định”.
- Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC là hành vi có lỗi của chủ thể
Mỗi hành vi đều được hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của
chủ thể, nghĩa là chủ thể nhận thức và điều khiển được hành vi của mình. Lỗi là
yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật
PCCC của mình. Đối với hành vi trái pháp luật PCCC mang tính khách quan,
không có lỗi của chủ thể thì không bị coi là vi phạm hành chính về PCCC.
- Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC xâm phạm trật tự quản lý
nhà nước về PCCC
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC là hành vi phạm xâm hại hoặc
có nguy cơ xâm hại đến các quan hệ xã hội trong QLNN về PCCC. Những
quan hệ đó được Nhà nước tác động, điều chỉnh bằng Luật PCCC, bằng hệ
thống các nguyên tắc PCCC, bằng các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể về
phạm đều là hành vi vi phạm, xâm hại đến lợi ích của nhà nước, tập thể, công
dân, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, là biểu hiện tiêu cực cần phải loại
trừ. Trong nhiều trường hợp giữa vi phạm hành chính và tội phạm chỉ là ranh
giới mong manh mà vượt qua nó thì vi phạm hành chính sẽ trở thành tội phạm
trong điều kiện nhất định.
Thứ hai, khác nhau:
- Tuy vi phạm hành chính và tội phạm thường có chung khách thể, nhưng
có khi chúng không có chung khách thể. Do đó, tính chất của khách thể và loại
khách thể bị xâm hại lại là tiêu chí đầu tiên mà nhà làm luật thường sử dụng để
đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật tức là để phân
14
biệt tội phạm với vi phạm hành chính và với các vi phạm pháp luật khác. [38, tr.
394].
- Điểm khác biệt chủ yếu giữa VPHC và tội phạm là mức độ nguy hiểm
cho xã hội của tội phạm cao hơn vi phạm hành chính. Do đó các hình thức xử
phạt hành chính cũng ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt áp dụng với tội
phạm. Đặc điểm này vô cùng quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Nghĩa là
chúng đều là hành vi trái với quy định của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau,
chứ không có nghĩa chúng chỉ trái với quy phạm pháp luật hành chính hay quy
phạm pháp luật hình sự, chỉ có do điều tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
cụ thể mà chúng bị xử lý bằng chế tài hành chính hay chế tài hình sự. Bên cạnh
đó, đây cũng là dấu hiệu cơ bản để phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm.
Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm được thông qua những dấu
hiệu nhất định như: mức độ gây thiệt hại cho xã hội, mức độ tái phạm, vi phạm
nhiều lần,…
- Tội phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự do Quốc hội ban hành.
Trong Bộ luật Hình sự có 06 tội phạm liên quan đến lĩnh vực PCCC là Điều
luật PCCC, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật PCCC
với hậu quả mà nó gây ra cho xã hội và các dấu hiệu khác như công cụ, phương
tiện, thời gian, địa điểm vi phạm.
- Hành vi trái pháp luật PCCC:
Hành vi vi phạm trong lĩnh vực PCCC là hành vi có tính chất trái pháp
luật PCCC, vi phạm các quy định của nhà nước trong lĩnh vực PCCC dưới
hình thức hành động hoặc không hành động. Hành động là trường hợp chủ thể
làm một việc mà các quy định của nhà nước về PCCC cấm làm, cấm xâm phạm
trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực PCCC. Không hành động là trường hợp
chủ thể khi có điều kiện và có trách nhiệm thực hiện nhưng không thực hiện
16