Quản lý nhà nước đối với đạo tin lành trên địa bàn tỉnh - Pdf 47

Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum

LỜI NÓI ĐẦU
Trong mấy thập kỉ qua, xung đột sắc tộc mang màu sắc tôn giáo nổ ra gây mất ổn
định ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới. Các thế lực thù địch đã lợi dụng, câu kết với
số cầm đầu các tôn giáo trong âm mưu phá hoại, xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa ở
Đông Âu, Liên Xô cũ và ngày nay đang tiếp tục lợi dụng tôn giáo để thực hiện chiến lược
“Diễn biến hòa bình” đối với các nước còn lại, trong đó có Việt Nam là một trong những
mục tiêu trọng điểm của chúng.
Ở nước ta, từ giữa thập kỷ 80 tình hình tôn giáo có những diễn biến khá phức tạp,
trong đó nổi lên vấn đề đạo Tin lành phục hồi, phát triển nhanh chóng, bất thường đối với
các đồng bào dân tộc ở khu vực Tây nguyên nói chung, tỉnh Kon Tum nói riêng đã gián
tiếp tạo nên những nhân tố mất ổn định xã hội, ảnh hưởng xấu đến sản xuất, đời sống và
an ninh trật tự nhiều vùng.
Để giải quyết vấn đề cấp bách này được tốt, các cấp ủy Đảng, các ngành liên quan
đặc biệt quan tâm, tìm mọi biện pháp để quản lý tốt hoạt động của đạo Tin lành, nhưng
cho đến nay thực tế vẫn chưa có gì khả quan. Các đối tượng đang thay đổi phương thức
hoạt động nhằm tránh sự kiểm soát, quản lý của chính quyền để chống đối ta. Trong khi
đó việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở cơ sở còn nhiều lúng túng, thiếu thống nhất từ nhận
thức đến chủ trương, biện pháp hành động, công tác phòng ngừa chưa chủ động, hiệu quả
hạn chế và có những khuyết điểm, sai lầm chưa được quản lý, uốn nắn kịp thời.
Sở Nội vụ là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham
mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nội vụ trong
đó có lĩnh vực tôn giáo nói chung và đạo Tin lành nói riêng.
Tình hình hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh đặt ra những yêu cầu mới đối
với công tác quản lý nhà nước và đòi hỏi cần phải nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà
nước đối với lĩnh vực này. Công tác quản lý nhà nước về đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh
Kon Tum trong thời gian qua mặc dù đạt được một số thành tựu, tuy nhiên vẫn tồn tại
nhiều hạn chế cần khắc phục, yêu cầu của cải cách nền hành chính nhà nước… Chính vì
những lý do trên nên em chọn tìm và nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước đối với đạo
Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum”. Để vừa học tập vừa nghiên cứu nhằm nâng cao


- Tìm hiểu tổng quan về cơ cấu tổ chức, cơ chế
hoạt động của Sở;

Sở Nội vụ tỉnh
Kon Tum

- Xác định chuyên đề thực tập và xây dựng đề
cương sơ khởi.

- Lập đề cương chính thức;

Tuần 3 - Tuần 6
(từ 04/3/2013 –
31/3/2013)

- Tìm hiểu, nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, kết
hợp giữa lý thuyết và thực hành, thực hiện công
việc được giao tại Sở;
- Tìm hiểu, trao đổi các vấn đề với cán bộ chuyên
môn về công tác tôn giáo trên địa bàn và đạo Tin
lành;

Sở Nội vụ tỉnh
Kon Tum

- Thu thập các báo cáo, các tài liệu phục vụ cho
viết báo cáo thực tập;
- Bắt đầu viết báo cáo.


nhân dân tỉnh, Sở Nội vụ;
- Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của Sở Nội vụ;
- Các tài liệu, báo cáo của Sở Nội vụ;
- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
- Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng, tôn giáo;
- Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo;
- Đạo Tin lành ở Việt Nam - Nhà xuất bản Ban Tôn giáo Chính phủ;
- Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa X;
- Kế hoạch 924/KH-UBND ngày 16/6/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum về
việc triển khai thực hiện Chỉ thị 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính
phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành;
- Nghị định 92/2012/NĐ-CP của Chính phủ “Hướng dẫn biện pháp thi hành Pháp
lệnh tín ngưỡng, tôn giáo”;
- Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo;
- Tập tài liệu tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo;
- Các tài liệu về đạo Tin lành;
- Các báo cáo về tình hình hoạt động đạo Tin lành ở Kon Tum.
2.2. Hỗ trợ Sở Nội vụ một số tác nghiệp, nghiệp vụ cụ thể

SVTH:

Trang 3

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
- Soạn thảo văn bản, in văn bản, photocopy văn bản, giao văn bản tới các phòng
ban…;


SVTH:

Trang 4

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
- Đã đưa ra được các giải pháp và kiến nghị giúp cho công tác quản lý nhà nước đối
với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt hiệu quả hơn.
3.2. Về kỹ năng
- Vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, bước đầu rèn luyện các kỹ năng, nghiệp vụ
quản lý hành chính nhà nước;
- Trao dồi và hoàn thiện hơn kỹ năng soạn thảo văn bản, viết báo cáo, tổ chức sự
kiện, hội hợp, in văn bản, sử dụng máy photocopy, cách đóng dấu, gửi văn bản tới các
phòng ban…;
- Học hỏi được kỹ năng giao tiếp trong môi trường công sở: Cách giao tiếp với cấp
trên, đồng nghiệp, cấp dưới; cách giao tiếp khi đến các cơ quan khác và với khách đến
làm việc trong cơ quan.
Qua quá trình thực tập em nhận thấy là một người cán bộ công chức thì cần phải
nắm vững những kiến thức chuyên môn và kỹ năng hành chính, vì thế phải không ngừng
nỗ lực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ nhân dân, phải phát
huy vai trò quan trọng của người cán bộ công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, là cầu
nối giữa nhân dân với nhà nước.
Phần II: BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẠO TIN LÀNH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
I. TỔNG QUAN VỀ SỞ NỘI VỤ TỈNH KON TUM
1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

ban nhân dân các huyện, thị xã;
b) Thẩm định và trình Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn, cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn, các chi cục thuộc cơ quan chuyên môn và đơn
vị sự nghiệp nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các
đơn vị sự nghiệp nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh để Ủy ban nhân dân tỉnh quyết
định theo quy định;
c) Thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc thành lập, giải
thể, sáp nhập các tổ chức phối hợp liên ngành cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
d) Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng đề án thành lập, sáp nhập, giải
thể các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh cấp
huyện theo quy định để Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định
theo thẩm quyền;
đ) Phối hợp với các cơ quan chuyên môn cùng cấp hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp
huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các phòng chuyên môn, đơn
vị sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện;
e) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan hướng dẫn, theo dõi, kiểm
tra việc thực hiện phân loại, xếp hạng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của tỉnh theo
quy định của pháp luật.
4. Về quản lý, sử dụng biên chế hành chính, sự nghiệp
a) Xây dựng và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh kế hoạch biên chế trình Hội đồng
nhân dân tỉnh quyết định tổng biên chế sự nghiệp ở địa phương và thông qua tổng biên
chế hành chính của tỉnh trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định;
b) Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giao chỉ tiêu biên chế hành
chính, sự nghiệp nhà nước;
c) Hướng dẫn quản lý, sử dụng biên chế đối với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện và các đơn vị sự nghiệp nhà nước theo
quy định của pháp luật.
5. Về tổ chức chính quyền
SVTH:


c) Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của thôn, làng, tổ dân phố theo quy định của pháp
luật và của Bộ Nội vụ.
7. Hướng dẫn, kiểm tra tổng hợp báo cáo việc thực hiện Quy chế dân chủ tại xã,
phường, thị trấn và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh
theo quy định của pháp luật.
8. Về cán bộ, công chức, viên chức
a) Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước đối với đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức nhà nước, cán bộ, công chức cấp xã;
b) Tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản về tuyển dụng, quản
lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước và cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của pháp luật;
c) Thống nhất quản lý và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
viên chức ở trong và ngoài nước sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Hướng
SVTH:

Trang 7

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
dẫn, kiểm tra việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng và việc thực hiện chính sách, chế độ đối
với cán bộ, công chức, viên chức trong tỉnh;
d) Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định hoặc quyết định theo thẩm
quyền việc tuyển dụng, đánh giá, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, khen
thưởng, kỷ luật và các chế độ, chính sách khác đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà
nước thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý;
đ) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về tiêu chuẩn chức danh và cơ
cấu cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; tuyển dụng, quản lý và sử dụng công chức,
viên chức nhà nước; cán bộ, công chức cấp xã thuộc tỉnh theo quy định của pháp luật và


Trang 8

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
e) Chỉ đạo và hướng dẫn tổ chức các hoạt động dịch vụ công trong các lĩnh vực
công tác thuộc phạm vi quản lý của Sở.
10. Về công tác tổ chức hội và tổ chức phi Chính phủ
a) Thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định cho phép thành
lập, giải thể, phê duyệt điều lệ của hội, tổ chức phi chính phủ trên địa bàn tỉnh theo quy
định của pháp luật;
b) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện điều lệ đối với hội, tổ chức phi chính phủ
trong tỉnh. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý theo thẩm quyền đối với các hội, tổ chức phi
Chính phủ vi phạm các quy định của pháp luật, điều lệ hội;
c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn cùng cấp trình Ủy ban nhân dân
tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định hỗ trợ định xuất và các chế độ, chính sách
khác đối với tổ chức hội theo quy định của pháp luật;
d) Thẩm định và trình Ủy ban nhân dân tỉnh, Tỉnh ủy nhân sự Chủ tịch, Phó Chủ
tịch, Ban chấp hành các tổ chức Hội và tổ chức phi Chính phủ.
11. Về công tác văn thư, lưu trữ
a) Hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan hành chính, tổ chức sự nghiệp và doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn chấp hành các chế độ, quy định pháp luật về văn thư, lưu trữ;
b) Hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ về thu thập, bảo vệ, bảo quản và tổ
chức sử dụng tài liệu lưu trữ đối với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn và Trung tâm Lưu
trữ tỉnh;
c) Thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt "Danh mục nguồn và
thành phần tài liệu thuộc diện nộp lưu vào Trung tâm Lưu trữ tỉnh"; thẩm tra "Danh mục
tài liệu hết giá trị" của Trung tâm Lưu trữ tỉnh và của các cơ quan thuộc Danh mục nguồn

luật; quản lý, cấp phát, thu hồi, cấp đổi hiện vật khen thưởng theo phân cấp và theo quy
định của pháp luật;
d) Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về công tác thi đua, khen thưởng.
14. Thực hiện công tác hợp tác quốc tế về nội vụ và các lĩnh vực được giao theo quy
định của pháp luật và theo phân công của Ủy ban nhân dân tỉnh.
15. Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra về công tác nội vụ; giải quyết khiếu nại,
tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiết kiệm, chống lãng phí và xử lý các vi
phạm pháp luật trên các lĩnh vực công tác được Ủy ban nhân dân tỉnh giao theo quy định
của pháp luật.
16. Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về công tác nội vụ và các lĩnh vực khác được
giao đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp
huyện, cấp xã. Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo
các lĩnh vực công tác được giao đối với các tổ chức của các Bộ, ngành Trung ương và địa
phương khác đặt trụ sở trên địa bàn tỉnh.
17. Tổng hợp, thống kê theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ về tổ chức cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp; số lượng các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, thôn, làng,
ấp, bản, tổ dân phố; số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước,
cán bộ, công chức cấp xã; công tác văn thư, lưu trữ nhà nước; công tác tôn giáo; công tác
thi đua, khen thưởng và các lĩnh vực khác được giao.
18. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học; xây dựng hệ thống thông
tin, lưu trữ, số liệu phục vụ công tác quản lý và chuyên môn, nghiệp vụ được giao.
19. Thực hiện công tác thông tin, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Nội vụ về
tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định.
20. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, thực hiện chế độ tiền lương và các chính
sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp
vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc Sở theo quy định.
21. Quản lý tài chính, tài sản của Sở theo quy định của pháp luật và phân cấp của
Ủy ban nhân dân tỉnh.
SVTH:


Thi
đua
Khe
n
thư
ởng

Phò
ng

y
dựn
g
Chí
nh
quy
ền

Phò
ng
Côn
g
chứ
c
-Viê
n
chứ
c

Phò

niên; Phòng Tổ chức Bộ máy; Phòng Công chức - Viên chức; Phòng Xây dựng chính
quyền; BanThi đua - Khen thưởng; Ban Tôn giáo; Chi cục Văn thư - Lưu trữ.
- Tổ chức sự nghiệp thuộc Sở bao gồm: Trung tâm Lưu trữ tỉnh; Trung tâm Đào tạo,
Bồi dưỡng cán bộ - công chức tỉnh.
Giám đốc Sở Nội vụ trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc thành lập các tổ
chức sự nghiệp khác thuộc Sở theo quy định của pháp luật.
SVTH:

Trang 11

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
1.3. Nhân sự
Số lượng nhân sự của Sở Nội vụ tỉnh Kon Tum hiện tại có 57 người, gồm cả
lãnh đạo: 01 đồng chí Giám đốc Sở và 04 Phó Giám đốc Sở. Trình độ đội ngũ cán bộ
như sau:
Số lượng

Nam

Nữ

31

26

Trình độ chuyên môn
Dân

1

11

1.4. Các mối quan hệ
1. Với Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Nội vụ
a) Chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh trong quá trình thực hiện nghị quyết
Hội đồng nhân dân tỉnh.
b) Chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra trực tiếp và toàn diện của Ủy ban nhân dân
tỉnh về các mặt công tác được giao.
c) Chịu sự hướng dẫn chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Nội vụ.
2. Đối với các Ban của Đảng: Sở phối hợp với các Ban của Đảng trong việc thực
hiện các nghị quyết, quyết định của cấp trên về công tác nội vụ; đồng thời thông qua các
Ban của Đảng, định kỳ báo cáo hoặc báo cáo đột xuất với Ban thường vụ Tỉnh ủy về
công tác nội vụ trên địa bàn tỉnh.
3. Với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã: Là mối quan hệ giữa quản lý theo ngành
và quản lý theo lãnh thổ trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác nội vụ.
4. Đối với các Đoàn thể: Sở phối hợp với các Đoàn thể tổ chức vận động cán bộ,
công chức trong cơ quan tham gia các phong trào thi đua nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ
công tác chuyên môn và nhiệm vụ công tác của Đoàn thể.
5. Đối với các doanh nghiệp nhà nước: Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nư ớc về
công tác nội vụ đối với các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh. Kiểm tra, thanh tra
các doanh nghiệp trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước về công tác nội vụ
theo quy định hiện hành.
1.5. Một số quy trình thủ tục của Sở Nội vụ
- Thủ tục tổ chức lễ hội tín ngưỡng;
- Thủ tục đề nghị công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động ở một tỉnh,
thành phố;
SVTH:


nảy sinh trong tư tưởng con người phải xóa bỏ nguồn gốc gây ra tư tưởng ấy. Khắc phục
dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo gắn liền với cuộc vận động toàn dân đoàn kết
cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Sự thống nhất về lợi ích của giai cấp, quốc gia,
dân tộc sẽ tạo điều kiện thống nhất về tư tưởng cho quần chúng nhân dân. Vì vậy phải coi
trọng tuyên truyền, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng khoa học cho quần chúng
nhân dân, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân. Nhà nước xã hội chủ
nghĩa thừa nhận và đảm bảo mọi công dân có hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo đều
bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, quyền lợi trước pháp luật. Nhà nước cấm những kẻ lợi
dụng tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan và âm mưu, mục đích chính trị phản động.
Ở những thời kì lịch sử khác nhau, vai trò tác động của mỗi tôn giáo đối với đời
sống xã hội khác nhau; quan điểm thái độ của các giáo hội, giáo dân, giáo sĩ về các lĩnh
SVTH:

Trang 13

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
vực của đời sống xã hội cũng có khác biệt. Vì vậy khi thực hiện chính sách của tôn giáo
phải nhất quán nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử, có quan điểm lịch sử khi
xem xét đánh giá và ứng xử với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo là kết quả của quá trình tìm hiểu và kế
thừa những giá trị nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo. Đó là Hồ Chí
Minh chủ trương “Đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc”. Với chính sách “Đội quân áo
chùng thâm đi trước, đội quân giày thâm đi sau”, khi tiến hành xâm lược nước ta các thế
lực thù địch đã lợi dụng vấn đề tôn giáo để chia rẽ dân tộc gây ra những mâu thuẫn sâu
sắc giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, giữa những người theo tôn giáo và không theo
tôn giáo. Nhận thức được điều này nên ngay phiên hợp đầu tiên của Chính phủ lâm thời
Người đã chủ trương “Lương giáo đoàn kết”. Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
 Tổ chức của đạo Tin lành
- Đạo Tin lành không lập Giáo hội duy nhất mang tính phổ quát cho toàn đạo mà
xây dựng các giáo hội riêng rẻ độc lập với các hình thức khác nhau tùy theo hệ phái và
từng quốc gia. Nhà thờ đạo Tin lành có cấu trúc hiện đại nhưng được bài trí khá giản đơn.
- Giáo sĩ đạo Tin lành có hai chức Mục sư và Truyền đạo. Các giáo sĩ vẫn có gia
đình bình thường nhưng họ phải chịu sự kiểm soát của các tín đồ, không có thần quyền
và vai trò tuyệt đối với các tín đồ.
- Do nghi lễ đơn giản, những tín đồ ít bị gò bó vào nghi thức, họ có khả năng “giao
thiệp với Chúa”, mặt khác đạo Tin lành quan tâm đến các vấn đề của cuộc sống hằng
ngày như khuyên dạy con người sống văn minh, từ bỏ những hủ tục, không có vợ bé,
không cờ bạc, rượi chè…vì thế đạo Tin lành dễ lôi kéo quần chúng theo đạo.
- Đạo Tin lành có một đặc điểm là không chấp nhận điều gì trái với Kinh thánh,
không cho tín đồ thờ cúng tổ tiên, các lễ hội…là cái bị coi là khác với điều chúa dạy. Vì
lẽ đó những thành viên của nhiều dân tộc theo đạo Tin lành bị buộc phải từ bỏ tôn giáo,
văn hóa truyền thống của các dân tộc mình.
2.1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành
Tin lành là một trong 6 tôn giáo đang chính thức hoạt động ở nước ta. Thực hiện
quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành cũng tuân theo những nội dung quản lý nhà nước
đối với tôn giáo chung. Vì vậy nội dung quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành cũng được
thực hiện theo những quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Phần thứ nhất: Những nội dung chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo:
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm;
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
- Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI về công tác tôn giáo;
- Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/6/2004;
- Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 của Chính phủ “Hướng dẫn thi hành
một số điều Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo”;
- Chỉ thị số 01/2005/NĐ-CP ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ “Về một số
công tác đối với đạo Tin lành”;
- Nghị định 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và
biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo.
2.1.3.2. Các văn bản hướng dẫn của tỉnh
- Kế hoạch 924/KH-UBND ngày 16/6/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum về
việc triển khai thực hiện Chỉ thị 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính
phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành.
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon
Tum
2.2.1. Sơ lược quá trình thâm nhập, phát triển đạo Tin lành trên địa bàn
tỉnh Kon Tum
Kon Tum nằm ở phía Bắc vùng Tây Nguyên, có tọa độ trong giới hạn từ 13°55’ 15°27’ vĩ độ Bắc đến 107°20’ - 108°32’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp địa phận Quảng
Nam, phía Nam giáp địa phận Gia Lai, phía Đông giáp địa phận Quảng Ngãi, phía Tây có
biên giới dài 142 km giáp Attapeu thuộc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và 95 km giáp
SVTH:

Trang 16

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
với Ratanakiri thuộc Vương quốc Campuchia. Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.614,5
km.

hơn 15.000 tín đồ, chiếm 2,9% dân số tỉnh. Đồng bào theo đạo trên địa bàn tỉnh đã hình
thành tình cảm, niềm tin tôn giáo, trở thành một thực tế tôn giáo khá ổn định.
Về phân bố: Tín đồ Tin lành phân bố ở hầu hết các huyện, xã, thị trấn. Huyện có số
lượng tín đồ đông nhất là huyện Đăk Glie và thành phố Kon Tum.
Bản tổng hợp tình hình phân bố Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum năm 2012:

SVTH:

Trang 17

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum

TT

Huyện,
Thành phố

Tổng
số tín
đồ

Kinh

Giẻ
Triêng




106

82

11

12

2

Huyện
Đăk Hà

465

236

7

12

11

27

9

44


38

2

22

4

1

3

0

1

5

5

Huyện
Kon Plong

678

410

1

8

35

27

7

Huyện Sa
Thầy

841

97

5

6

636

14

21

34

28

15.000

1.438


Cơ đốc
Liên hữu

Bắp Tít

Cơ đốc
Phúc lâm

Cơ đốc
Truyền
giáo

15

949

214

2

407

2

Huyện Đăk Hà

1

26

4

Huyện Ngọc Hồi

12

33

17

3

97

5

Huyện Kon Plong

3

47

26

5

10.547

6


378

182

12.262

Tổng

Về mối quan hệ giữa chức sắc, chức việc với các cấp chính quyền thì được tăng
cường qua các cuộc thăm hỏi của các đoàn đại biểu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân
dịp các ngày lễ và sự tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của lãnh đạo tỉnh, huyện, chính quyền
xã với các chức sắc tôn giáo về các vấn đề liên quan như: đất đai, thành lập tôn giáo…
Cũng như những vướng mắc của tín đồ để giúp họ hiểu, tạo sự đồng thuận và tin tưởng
vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
2.2.2.2. Hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện
nay
Tín đồ Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum ngày một đông và hầu hết là nhân dân
lao động, có niềm tin tôn giáo sâu sắc, có tinh thần đoàn kết yêu nước, có tinh thần truyền
thống cách mạng và đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển chung của tỉnh.
Hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn trong những năm gần đây đã có những
chuyển biến tích cực, tổ chức chặt chẽ hơn, các chi hội, điểm nhóm có nội bộ ổn định,
sinh hoạt đạo đi vào nề nếp, theo khuôn khổ pháp luật, quan hệ tốt với cấp chính quyền.
Các tín đồ phấn khởi với những thành tựu của đất nước và tin tưởng vào đường lối đổi
mới của Đảng, tích cực xây dựng cuộc sống, hài hòa giữa “Đạo” và “Đời”.
Tuy nhiên, đức tin và nhận thức về tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật của phần đông
các chức sắc, chức việc, người hướng dẫn và bà con tín đồ còn nhiều hạn chế nên dễ bị
những phần tử phản động lợi dụng và kích động để chống phá, gây rối loạn an ninh, chia
rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Đặc biệt một số hệ phái Tin lành chưa được công nhận về
mặt tổ chức, có nhiều hoạt động thu hút tín đồ trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đã
và đang xảy ra tình trạng lôi kéo tín đồ chuyển từ hệ phái này sang hệ phái khác; một số

trong các hệ phái không báo cáo kịp thời cho chính quyền. Vẫn còn tồn tại những biểu
hiện coi thường pháp luật, thực hiện pháp luật theo kiểu hình thức, miễn cưỡng. Ở một số
thôn làng vẫn tiềm ẩn những vấn đề khó giải quyết.
Hoạt động của các điểm nhóm Tin lành chưa đăng ký sinh hoạt: Đây là những nhóm
nhỏ, phân tán, chủ yếu sinh hoạt tại gia hay nhà nguyện tự tạo. Số lượng tín đồ ít, chủ yếu
thuộc 5 hệ phái. Các tín đồ hoạt động theo giáo lý, giáo luật. Một bộ phận đã tích cực
tham gia sinh hoạt tại các điểm nhóm và đã được chính quyền hướng dẫn đăng ký sinh
hoạt. Tuy nhiên, có một số cốt cán, tín đồ không chấp nhận đúng quy định, đã tự ý tập
trung sinh hoạt theo từng nhóm, hoạt động tự phát. Các ban chấp sự dùng giáo quyền để
huy động, quyên góp tài chính trái phép, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất
của nhiều hộ dân. Trong thời gian tới, chính quyền cần tăng cường quản lý và hướng dẫn
thủ tục đăng ký sinh hoạt cho các điểm nhóm này.
2.2.3. Thực trạng quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh
Kon Tum
2.2.3.1. Công tác chỉ đạo triển khai các văn bản quy phạm pháp luật
của cấp trên
Sau khi có Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ
“Về một số công tác đối với đạo Tin lành”; Kế hoạch 924/KH-UBND ngày 16/6/2005
của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum. Tỉnh đã tổ chức các chương trình, kế hoạch để chỉ
đạo thực hiện chủ trương đối với đạo Tin lành trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh. Để
tạo sự thống nhất chung trong nhận thức và ý chí hành động của cấp ủy, chính quyền, các
ban, ngành, các cấp trong thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước đối với đạo Tin lành trong tình hình mới. Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức hội
nghị quán triệt Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định 22/2004/NĐ-CP của Chính
phủ; Chỉ thị số 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định 92/2012/NĐ-CP của
Chính phủ cho cán bộ cốt cán các ban, ngành của tỉnh và các huyện, thành phố. Sau hội
SVTH:

Trang 20


tôn giáo, trong đó có đạo Tin lành.
Thực tế cho thấy, khâu tổ chức cán bộ làm công tác tôn giáo tại huyện, thành phố là
khâu quan trọng, đây là đơn vị trực tiếp quan hệ với các chức sắc, chức việc và tín đồ;
trực tiếp xử lý các vụ việc theo quy định hoặc giải quyết tạm thời trong khi chờ sự có mặt
của cơ quan có thẩm quyền. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo và đạo Tin
lành ở tỉnh Kon Tum đang ngày càng được cũng cố, hoàn thiện để thực hiện tốt h ơn
nhiệm vụ. Các hoạt động của Sở cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và công tác
tham mưu cho Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, quản lý và giải quyết tốt các nhu
cầu của tôn giáo. Nhưng hiện nay, việc bố trí cán bộ kiêm nhiệm là chưa hợp lý bởi vì
thiếu trình độ chuyên sâu và thời gian dành cho công tác tôn giáo, thiếu kinh nghiệm…
cho nên thiếu tính chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và giải kịp thời các vấn đề
phát sinh của các tổ chức tôn giáo nói chung, đạo Tin lành nói riêng.

SVTH:

Trang 21

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
2.2.3.3. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác về đạo Tin lành
Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo nói chung và đạo Tin lành nói riêng trên địa
bàn tỉnh đã có những nỗ lực đáng kể trong việc khắc phục những khó khăn, vượt qua
nhiều thách thức trong công tác trước những diễn biến phức tạp vừa qua, có bản lĩnh
chính trị vững vàng, có tinh thần cầu tiến và tận tụy với công việc, tạo dựng được mối
quan hệ thân mật với các chức sắc, tín đồ tôn giáo trong toàn tỉnh. Tham mưu cho cấp ủy
chính quyền giải quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, đúng thời gian quy định
của Nhà nước và những vướng mắc phát sinh hàng ngày.
Nhưng bên cạnh đó đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo chưa

100%

Năm 1975

2.524 người, trong đó: Dân tộc: 2.445 người, Kinh:
79 người

250%

Năm 1986

5.245 người, trong đó: Dân tộc: 5.145 người, Kinh:
100 người

519%

SVTH:

Trang 22

GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Năm 1990

8.832 người, trong đó: Dân tộc: 8.682 người, Kinh:
150 người


Năm 2000

Hiện nay

Tổng số tín đồ

2.524

5.245

8.972

15.000

Số lượng ban chấp sự

0

2

29

58

Số người truyền đạo

1

72



GVHD: Kiều Thị Hồng Hà


Quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum
xây dựng nơi thờ tự trái phép, chức sắc tham gia chưa đăng kí… đã có những biện pháp
xử lý. Bên cạnh đó cũng kịp thời phát hiện, ngăn chặn mâu thuẫn giữa các tín đồ theo đạo
và không theo đạo, tranh chấp đất đai làm nơi thờ tự… Đặc biệt, nhờ hoạt động thanh tra,
kiểm tra đã ngăn chặn và bắt các đối tượng lợi dụng truyền bá chống phá nhà nước, xử lý
các tín đồ bị lợi dụng làm mất ổn định an ninh chính trị.
2.3. Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn
tỉnh Kon Tum
2.3.1. Những kết quả đạt được khi thực hiện quản lý đối với đạo Tin lành
trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đặc biệt quan tâm đến công tác quản lý đối với tôn
giao nói chung, đạo Tin lành nói riêng. Tỉnh đã chỉ đạo Sở Nội vụ cùng các cơ quan, ban,
ngành thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành, kịp
thời xử lý các vấn đề phát sinh, đảm bảo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đội ngũ làm công tác tôn giáo các cấp không ngừng được
cũng cố, bồi dưỡng tạo thành một hệ thống quản lý vững mạnh. Do đó công tác quản lý
nhà nước với đạo Tin lành đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần vào sự ổn
định chung của hoạt động tôn giáo trên địa bàn.
Được các cấp ủy đảng, chính quyền, thủ trưởng các ban, ngành chức năng quan tâm
chỉ đạo với tinh thần trách nhiệm cao và phương thức quản lý thích hợp nên công tác
quản lý nhà nước với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh đã được kết quả khá cao. Hoạt động
của đạo Tin lành trong thời gian qua tương đối ổn định, tổ chức, tín đồ theo đạo đều chấp
hành tốt pháp luật của Đảng và Nhà nước, quy định của địa phương. Mối quan hệ giữa
các chức sắc, tín đồ, người có đạo, người không có đạo được cởi mở, đoàn kết. Khối đại
đoàn kết giữa các dân tộc trên địa bàn được giữ vững và phát huy.
Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến và

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã tích cực phối hợp giải quyết các vấn đề
nảy sinh trong địa bàn, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển, tạo môi trường
lành mạnh trong địa bàn. Thực hiện tốt các chính sách xã hội như giải quyết việc làm, đất
sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, củng cố mở rộng trường lớp nên đời sống của đồng
bào dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo từng bước được nâng lên.
Qua đó cho thấy, nhận thức của hệ thống chính trị về các quan điểm, chủ trương,
giải pháp để phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về công tác tôn giáo
ngày càng đầy đủ, tạo sự đồng thuận về tư tưởng, hành động, cán bộ và nhân dân. Thông
qua công tác tôn giáo và công tác đối với đạo Tin lành đã góp phần quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, hệ thống chính trị được củng cố.
Khối đại đoàn kết các dân tộc được giữ vững, tư tưởng, nhận thức các tín đồ tôn giáo
ngày một chuyển biến hơn, thể hiện rõ tính năng động, sáng tạo trên các mặt của đời sống
xã hội, dân chủ được phát huy, mối quan hệ Đảng, Nhà nước và nhân dân được củng cố,
nhận thức và đời sống của đồng bào giáo dân được nâng cao rõ rệt.
2.3.2. Hạn chế trong công tác quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên
địa bàn tỉnh Kon Tum
Mặc dù thời gian qua công tác quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn
tỉnh đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, song vẫn còn một số hạn chế:
- Nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác đạo
Tin lành trong cấp ủy, chính quyền, cán bộ ở cơ sở còn hạn chế. Một số ít cán bộ, đảng
viên vẫn còn tư tưởng thành kiến, chưa đồng ý cho đồng bào đăng ký sinh hoạt đạo Tin
lành. Có nơi cán bộ chưa nắm vững tình hình hoạt động của đạo Tin lành nên để các thế
lực thù địch lợi dụng trình độ văn hóa thấp, sự nhẹ dạ của một số đồng bào theo đạo để
tuyên truyền, kích động lôi kéo vào các hoạt động chống phá chính quyền.
- Việc tuyên truyền, vận động và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, đặc biệt là Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội; Chỉ thị 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ “Về một số công tác đối
với đạo Tin lành” vẫn còn hạn chế, chưa thường xuyên. Công tác tuyên truyền và tỷ lệ tập
hợp quần chúng là người có đạo vào các tổ chức đoàn, hội tuy có chuyển biến hơn trước
nhưng chất lượng chưa cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status