1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú (UTV) là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ nhiều nước trên
thế giới và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các nguyên nhân gây
tử vong do ung thư ở nữ. Năm 2012 (GLOBOCAN) trên toàn thế giới có
1.670.000 ca mới mắc và có 522.000 phụ nữ tử vong do ung thư vú [1]. Tại Mỹ
năm 2012, khoảng 408.200 ca mới mắc và 92.000 ca chết vì ung thư vú [2]. Ở
Việt Nam, theo số liệu của chương trình mục tiêu phòng chống ung thư năm
2010, có 12.533 trường hợp mới mắc UTV với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là
29,9/100.000 dân [3].
Tỷ lệ mắc ung thư vú có xu hướng tăng trong những năm gần đây, tuy
nhiên tỷ lệ tử vong do bệnh này vẫn đang từng bước được cải thiện nhờ các
thành tựu đạt được trong sàng lọc, phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị. Điều trị
ung thư vú là sự phối hợp điển hình giữa các phương pháp điều trị tại chỗ, tại
vùng bằng phẫu thuật, tia xạ và điều trị toàn thân bằng hoá chất, nội tiết, kháng
thể đơn dòng [4], [5].
Ung thư vú là bệnh có tiên lượng tốt đặc biệt là ở giai đoạn sớm. Phẫu thuật
bảo tồn kết hợp xạ trị vừa đem lại hiệu quả thẩm mỹ, làm giảm tâm lý tự ti so với
cắt toàn bộ tuyến vú nhưng không làm tăng tỉ lệ tái phát và không làm giảm thời
gian sống thêm của bệnh nhân. Hiện nay nhu cầu điều trị bảo tồn tuyến vú ngày
càng tăng lên. Tuy nhiên điều trị bảo tồn cho ung thư vú giai đoạn sớm ở Việt Nam
còn hạn chế do khối u lúc phát hiện khá lớn, kích thước tuyến vú bé, vấn đề theo dõi
bệnh nhân sau phẫu thuật chưa được thường xuyên.
Điều trị hoá chất bổ trợ trước (hay còn gọi là hoá chất tân bổ trợ hay hoá chất
tấn công) là phương pháp sử dụng hoá chất trước mổ để làm giảm lượng tế bào u tại
chỗ, tại vùng và cả các vị trí ở xa (vi di căn xa). Kết quả là khối u và hạch tại chỗ tại
vùng thoái lui, chuyển nhiều bệnh nhân từ giai đoạn không mổ được thành mổ được
tạo điều kiện phẫu thuật dễ dàng hơn. Đối với ung thư vú giai đoạn sớm thì hóa chất
thư). Bệnh có xu hướng tăng ở cả các nước phát triển và đang phát triển với trung
bình khoảng 883.000 ca mới mắc ở mỗi quốc gia [1]. Tỉ lệ mới mắc dao động từ
27/100.000 các phụ nữ phía Trung Phi và Đông Á tới 96/100.000 ở phụ nữ phía Tây
Châu Âu. Ở Việt Nam, theo số liệu của chương trình mục tiêu phòng chống ung thư
cho thấy năm 2010 nước ta có 12.533 trường hợp mới mắc UTV với tỷ lệ mắc
chuẩn theo tuổi là 29,9/100.000 dân [3].
Tỷ lệ tử vong thay đổi nhiều, từ 1-5/100.000 dân tại Nhật Bản, Mexico,
Venezuela đến 25-35/100.000 dân tại Anh, Đan Mạch, Hà Lan và Canada [8]. Tỷ lệ
mắc tăng nhưng tỷ lệ tử vong vẫn giữ được ở mức độ ổn định nhờ nhận thức của
người bệnh và các tiến bộ trong sàng lọc cũng như sự phát triển trong điều trị đặc
biệt là điều trị hệ thống [9]. Tuy nhiên, ung thư vú vẫn đứng thứ 5 trong các nguyên
nhân tử vong chung, và đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong do ung thư ở
phụ nữ tại cả các nước phát triển và các nước đang phát triển, tương đương với tỉ lệ
tử vong do ung thư phổi.
4
Hình 1.1: Tỷ lệ mắc UTV trên 100.000 người ở các vùng
trên Thế giới-2012 [1]
1.1.2. Các yếu tố nguy cơ
Mặc dù bệnh căn của UTV chưa được biết rõ nhưng có một số yếu tố làm tăng
nguy cơ phát triển UTV. Jardines L và CS cho rằng các yếu tố nguy cơ gồm: gen, di
truyền, nội tiết, môi trường và chế độ ăn. Tuy nhiên khoảng 75% bệnh nhân bị UTV
không hề có các yếu tố nguy cơ.
+ Yếu tố gia đình: những người có tiền sử gia đình như: mẹ, chị em gái, con gái bị
UTV thì có nguy cơ bị UTV cao gấp hai đến ba lần so với người bình thường [10].
+ Yếu tố nội tiết: estrogen thúc đẩy sự phát triển và hoạt động tăng sinh của hệ
thống ống tuyến vú, làm tăng nguy cơ UTV do việc kích thích sinh các tế bào chưa
biệt hóa. Nồng độ estrogen nội sinh ở những phụ nữ bị UTV cao hơn so với những
Tuyến vú bao gồm 15-20 thùy tạo thành, các thùy ngăn cách với nhau bởi các vách
liên kết, mỗi thùy chia ra thành nhiều tiểu thùy được tạo nên từ nhiều nang tuyến
đứng thành đám hoặc riêng rẽ [14], [15].
Do đặc điểm cấu trúc như một hình hộp các tế bào ung thư vú có thể xâm
lấn ra trước (cân, da), sau (cơ ngực), trên, dưới, trong, ngoài vì vậy trong phẫu thuật
bảo tồn việc đánh giá diện cắt gặp nhiều khó khăn.
6
1.2.2. Mạch máu nuôi dưỡng và thần kinh
- Động mạch: nuôi dưỡng vú gồm 2 nguồn chính
+ Động mạch vú ngoài hay động mạch ngực dưới: tách từ động mạch nách,
nuôi mặt ngoài của vú và cho các nhánh nối với động mạch vú trong.
+ Động mạch vú trong: tách từ động mạch dưới đòn, nuôi dưỡng phần còn lại
của vú.
- Tĩnh mạch: thường đi kèm động mạch đổ vào tĩnh mạch nách, tĩnh mạch vú trong
và tĩnh mạch dưới đòn [14], [16].
- Thần kinh: nhánh của thần kinh bì cánh tay trong của đám rối cổ nông chi phối
phần nửa ngoài của vú. Các nhánh nhỏ từ thần kinh liên sườn II, III, IV, V, VI chi
phối nửa trong của vú [15].
1.2.3. Hạch vùng và các đường bạch mạch
Đường bạch mạch nách đổ vào 3 loại hạch gồm hạch nách, hạch vú trong, hạch
trên đòn.
- Hạch nách (cùng bên) gồm các hạch trong cơ ngực và các hạch chạy theo
tĩnh mạch nách, chia làm các tầng hạch như sau:
+ Tầng I (tầng nách thấp) gồm: các hạch nằm bên cạnh bó cơ của cơ ngực bé.
+ Tầng II (tầng nách giữa) gồm: các hạch nằm bên trên bó giữa và bó bên
của cơ ngực bé, hạch nằm trong cơ ngực (Rotter).
+ Tầng III (tầng đỉnh nách) gồm: các hạch nằm bên trên bó cơ ngực bé bao
8
ER dương tính, hạch âm tính, thể giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô ống xâm nhập độ
2 cho kết quả rất khả quan, tỉ lệ sống không bệnh 10 năm ở nhóm này là 82% [18].
PR cũng là một yếu tố tiên lượng đáp ứng với điều trị nội tiết trong UTV [5], [19].
+ Thụ thể yếu tố phát triển biểu mô Her-2/neu: Her-2/neu là một tiền gen
nằm trên nhiễm sắc thể thứ 17, là một trong bốn thành viên của họ các yếu tố phát
triển biểu bì. Khoảng 18-20% bệnh nhân ung thư vú xâm nhập có khuếch đại gen
Her2. Hai nghiên cứu lớn của Gonzalez-Angulo AM và CS (2009) trên 2026 bệnh
nhân ung thư vú, của Chia S và CS (2007) trên 965 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn
sớm đều chứng minh rằng khuếch đại gen Her-2/neu liên quan đến giảm tỉ lệ sống
thêm 5 năm không bệnh so với những bệnh nhân ung thư vú cùng giai đoạn, cùng
phương pháp điều trị nhưng không có khuếch đại gen Her/2 [20], [21].
Bệnh nhân có bộ 3 âm tính (ER âm tính, PR âm tính, Her-2/neu âm tính)
chiếm tỉ lệ khoảng 15% UTV, được coi là yếu tố tiên lượng xấu.
+ Gen ung thư vú: những loại gen có liên quan đến UTV là Breast cancer type 1
(BRCA1) nằm trên nhiễm sắc thể 17, Breast cancer type 2 (BRCA2) nằm trên nhiễm
sắc thể 13, đột biến những gen này làm tăng nguy cơ mắc UTV [22]. Sự đột biến gen
BRCA liên quan mật thiết tới hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền
(Hereditary breast and ovarian cancer syndromes- HBOC). Ở những người phụ nữ có
HBOC 50%-80% mắc ung thư vú, 14%-40% mắc ung thư buồng trứng [23].
1.3.2. Bệnh sử tự nhiên của ung thư vú
UTV là loại ung thư tiến triển chậm, chỉ có khoảng dưới 3% UTV diễn tiến
nhanh đưa đến tử vong trong vòng vài tháng [24]. Thời gian diễn tiến của bệnh khác
nhau tùy thuộc vào từng bệnh nhân. Đa số các trường hợp UTV xâm lấn phát sinh
từ các tế bào biểu mô của thùy hoặc của ống tuyến vú. Các tế bào bị ung thư hóa
nhân lên với tốc độ khoảng 60 ngày một chu kỳ. Từ ổ ung thư nguyên phát bệnh lan
rộng bằng cách sau:
+ Xâm lấn trực tiếp: thường phân nhánh, cho hình ảnh sao đặc trưng khi phẫu
tích bệnh phẩm và trên phim chụp X-quang vú. Nếu không điều trị u sẽ xâm lấn ra
trên lâm sàng. Giai đoạn muộn hạch nách to, cứng chắc, đôi khi dính nhau, dính tổ
chức xung quanh nên di động hạn chế.
10
- Đau vùng vú: giai đoạn đầu không gây đau, đôi khi có thể bị đau vùng vú,
nhấm nhứt không thường xuyên.
- UTV giai đoạn cuối: tại chỗ xâm lấn gây lở loét, hoại tử ra ngoài gây chảy
dịch, mùi hôi thối, xâm lấn thành ngực gây đau nhiều. Di căn hạch nách, thượng
đòn, xương, não, gan, phổi... [25].
1.4.2. Đặc điểm cận lâm sàng
+ Tế bào học: xét nghiệm tế bào từ những tổn thương loét ở vú hay dịch ở
núm vú, khối u hay mảng cứng ở vú.
+ Chụp X- quang tuyến vú (Mammography): phát hiện các tổn thương nghi
ngờ hoặc ác tính, có giá trị sàng lọc. Đánh giá mức độ lan tỏa của tổn thương, có ý
nghĩa trong chỉ định bảo tồn.
+ Chụp X- quang tuyến sữa (Galactography): được sử dụng trong trường hợp
chảy dịch đầu vú mà lâm sàng không phát hiện thấy khối u.
+ Sinh thiết kim: để chẩn đoán mô bệnh học, giúp xác định hình ảnh mô bệnh
học của tổn thương, tình trạng thụ thể nội tiết và Her-2/neu. Hiện nay được sử dụng
rộng rãi, an toàn, độ nhạy độ đặc hiệu cao.
+ Sinh thiết định vị: Có ý nghĩa cao trong các trường hợp tồn thương không sờ
được trên lâm sàng, nhưng hình ảnh gợi ý rõ trên phim chụp hoặc siêu âm, giúp giảm bớt
bỏ sót các UTV giai đoạn sớm.
+ Sinh thiết tức thì: STTT có độ nhạy cao, có tính ưu việt giúp bệnh nhân
không phải thêm một lần mổ. STTT hạch cửa giúp PTV quyết định có vét hạch
nách tiếp hay không trong phẫu thuật ung thư vú. Hiện nay còn được sử dụng đánh
giá diện cắt trong phẫu thuật bảo tồn.
+ Sinh thiết mở: vẫn được coi là “tiêu chuẩn vàng” để khẳng định UTV và bản
T0: Không có dấu hiệu u nguyên phát
Tis: Ung thư biểu mô tại chỗ: ung thư biểu mô ống tại chỗ; ung thư biểu mô
tiểu thuỳ tại chỗ hoặc bệnh Paget của núm vú nhưng không có u.
T1: U có đường kính ≤ 2 cm
T1 mic: U có đường kính ≤ 0,1 cm
T1a: 0,1 cm < U có đường kính ≤ 0,5 cm
12
T1b: 0,5 cm < U có đường kính ≤ 1 cm
T1c: 1 cm < U có đường kính ≤ 2 cm
T2: 2 < đường kính u ≤ 5 cm
T3: U có đường kính > 5 cm
T4: U với mọi kích thước nhưng xâm lấn trực tiếp tới thành ngực hoặc da (thành
ngực bao gồm xương sườn, cơ liên sườn, cơ răng trước, không tính cơ ngực lớn).
T4a: U xâm lấn tới thành ngực
T4b: Thâm nhiễm sần da cam, loét da vú hoặc có nhiều u nhỏ dạng vệ tinh ở
vú cùng bên.
T4c: Bao gồm cả T4a và T4b
T4d: UTV dạng viêm
N (Hạch vùng theo lâm sàng)
Nx: Không xác định được hạch vùng.
N0: Không di căn hạch vùng.
N1: Di căn hạch nách cùng bên di động.
N2a: Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính vào nhau hoặc dính vào mô
xung quanh.
N2b: lâm sàng có di căn hạch vú trong cùng bên nhưng không có di căn
hạch nách.
N3a: di căn hạch hạ đòn cùng bên.
sàng song không có hạch nách.
14
pN2a: Di căn tới 4-9 hạch nách.
pN2b: Lâm sàng có di căn hạch vú trong cùng bên nhưng không có di căn
hạch nách.
pN3: Di căn tới ≥10 hạch nách, hoặc tới hạch hạ đòn, hoặc hạch vú trong cùng
bên rõ trên lâm sàng đi kèm với một hay nhiều hạch nách dương tính; hoặc di căn >
3 hạch nách kèm theo di căn hạch vú trong phát hiện bằng sinh thiết hạch cửa.
pN3a: Di căn tới ≥ 10 hạch nách (ít nhất phải có một u > 2,0mm), hay di căn
tới hạch hạ đòn.
pN3b: Di căn tới hạch vú trong cùng bên được thấy rõ trên lâm sàng đi kèm
với một hoặc nhiều hạch nách dương tính; hoặc di căn > 3 hạch nách kèm theo di
căn hạch vú trong phát hiện bằng sinh thiết hạch cửa song không biểu hiện rõ về
lâm sàng.
pN3c: Di căn tới một hay nhiều hạch thượng đòn cùng bên.
M (Di căn xa)
Mx:
Không xác định được di căn xa ở thời điểm chẩn đoán.
M0:
Không di căn xa.
M1:
Di căn xa.
Giai đoạn IV:
mọi T mọi N M1
15
1.5.3. Chẩn đoán mô học
1.5.3.1. Phân loại mô học
Phân loại ung thư biểu mô tuyến vú của Tổ chức Y tế Thế giới 2003 [30].
Không xâm nhập
Ung thư biểu mô ống tại chỗ
Ung thư biểu mô tiểu thuỳ tại chỗ
Xâm nhập
Ung thư biểu mô ống xâm nhập không phải loại đặc biệt
Ung thư biểu mô hỗn hợp
Ung thư biểu mô đa hình
Ung thư biểu mô khổng lồ dạng hủy cốt bào
Ung thư biểu mô màng đệm
Ung thư biểu mô với hình ảnh u hắc tố
Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập
Ung thư biểu mô ống nhỏ
Ung thư biểu mô mặt sàng xâm nhập
Ung thư biểu mô thể tủy
Ung thư biểu mô thể nhầy
Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết
Ung thư biểu mô thể nhầy xâm nhập
Ung thư biểu mô thể vi nhầy xâm nhập
Ung thư biểu mô dị sản
Ung thư biểu mô giầu lipid
17
- Luminal A: ER và/hoặc PR dương tính, Her-2/neu âm tính, Ki-67 thấp (
19
Từ kết quả của thử nghiệm NSABP-B06 và nghiên cứu của viện ung thư Italia
khái niệm về phẫu thuật bảo tồn (Breast conserving surgery) ra đời và ngày càng
được áp dụng rộng rãi trong ung thư vú giai đoạn sớm.
Nhờ áp dụng các phương pháp sàng lọc và ý thức bệnh nhân nâng cao mà tỷ lệ
phát hiện ung thư vú giai đoạn sớm ngày càng tăng lên, thời gian sống thêm của
bệnh nhân kéo dài hơn. Để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của người bệnh ngày một
tăng hiện nay các nhà phẫu thuật còn đi sâu vào vấn đề tạo hình vú sau mổ bằng các
vật liệu nhân tạo hay các vạt tự thân (vạt lưng, vạt cơ bụng), hay kết hợp phẫu thuật
bảo tồn và phẫu thuật thẩm mỹ (nâng vú bên đối diện ...) đảm bảo sự cân đối.
1.6.1.2. Phẫu thuật bảo tồn, tình trạng diện cắt sau phẫu thuật bảo tồn vú
* Khái niệm:
Phẫu thuật bảo tồn vú là phẫu thuật cắt bỏ u rộng rãi cùng với mô lành quanh
khối u, tùy theo từng trường hợp cụ thể mà phẫu thuật cắt bỏ u rộng rãi (wide excision)
hoặc cắt ¼ tuyến vú (quadrantectomy) đồng thời với vét hạch nách cùng bên.
* Phẫu thuật bảo tồn ung thư vú tại Việt Nam:
Ở Việt Nam, phẫu thuật bảo tồn vú đã được thực hiện từ những cuối những
năm 80. Theo Nguyễn Minh Khánh (2004) nghiên cứu trên 96 BN UTV giai đoạn III được phẫu thuật bảo tồn theo dõi trong 3 năm, cho thấy kỹ thuật áp dụng tốt,
không có tử vong và biến chứng trong phẫu thuật. Tai biến chảy máu 2,1%; to tay
11,6%; vết mổ đẹp 13,7%; vết mổ xấu 13,7%. 100% không có tái phát tại chỗ, 2
trường hợp di căn [35]. Theo Tạ Xuân Sơn (2009) nghiên cứu trên 189 BN UTV
giai đoạn I-II. Tỉ lệ BN tái phát sau 4 năm: 5%; di căn: 2,5%. Sống thêm không
bệnh 4 năm: 92,5%; sống thêm toàn bộ 4 năm: 97,5%. Kết quả thẩm mỹ: tốt chiếm
26,3%; khá chiếm 42,4%; xấu chiếm 31,3% [36].
20
mạnh mẽ nhất [39], [40].
- Tình trạng diên cắt (margin status) rất được chú ý đánh giá một phần mức độ
triệt căn của phẫu thuật. Đối với ung thư tiêu hóa (dạ dày, đại trực tràng) hình ống
việc đánh giá tình trạng diện cắt tương đối đơn giản, trong phẫu thuật bảo tồn vú
phần cắt bỏ (u và tổ chức xung quanh) hình hộp 6 mặt vì vậy việc đánh giá tình
trạng diện cắt có nhiều khó khăn hơn.
- Sử dụng các loại mực đánh dấu là phương pháp hay được dùng để đánh giá
tình trạng diện cắt. Giới hạn ngoài của bệnh phẩm cắt bỏ được phẫu thuật viên đánh
dấu bằng chỉ khâu, dựa trên định hướng đấy các nhà giải phẫu bệnh sử dụng các
loại mực khác nhau tương ứng với các vị trí của diện cắt (trên, dưới, trong, ngoài,
trước, sau). Tình trạng diện cắt được định nghĩa nhờ quan sát kính hiển vi đánh giá
khoảng cách giữa tế bào ung thư và mực đánh dấu [41], [42],[43]:
Diện cắt âm tính (margin negative or clean) nếu không xuất hiện mực ở bất kỳ
tế bào ung thư nào.
Diện cắt dương tính (margin positive) nếu xuất hiện mực ở tế bào ung thư.
Diện cắt tiếp cận (margin close) đang còn đang tranh cãi, đa số các tác giả cho
rằng đây là trường hợp còn tế bào ung thư giữa cạnh cắt đến vị trí được định nghĩa diện
cắt âm tính (ví dụ tế bào ung thư còn xuất hiện trong khoảng 0-2mm từ cạnh cắt).
Bề rộng diên cắt (margin width): khoảng cách gần nhất giữa mực đánh dấu
trên bề mặt và bất kỳ tế bào ung thư.
- Diện cắt như thế nào để đảm bảo nguyên lý ung thư lại vừa đảm bảo tính
thẩm mỹ ? Ngay trong các thử nghiệm lâm sàng cũng có rất ít sự đồng thuận về
định nghĩa diện cắt âm tính sau phẫu thuật bảo tồn. Nghiên cứu NSABP B-06 diện
cắt âm tính khi không có tế bào ung thư trên mực của mẫu vật sau đánh giá trên
kính hiển vi [44]. Trong thử nghiệm của viện ung thư quốc gia (National Cancer
Institute – NCI) khối u loại bỏ về đại thể trên phẫu thuật mà không yêu cầu âm tính
22
đặc biệt khi được điều trị hóa chất trước, ảnh hưởng đến kết quả thẩm mỹ cũng như
kết quả phẫu thuật.
- Dựa trên thực tiễn phẫu thuật bảo tồn ung thư vú tại bệnh viện K chúng tôi
dành một phần nghiên cứu để khảo sát tỷ lệ diện cắt dương tính đối với các khoảng
cách khác nhau tính từ khối u trên đại thể (sát u, cách u 5mm, 1cm, 1,5cm, 2cm) tại
các vị trí trên, dưới, trong, ngoài. Điều này rất có ý nghĩa trên lâm sàng khi việc
đánh giá diện cắt còn gặp nhiều khó khăn.
1.6.2. Điều trị tia xạ
Fisher (1928) và F.Keynes (1938) là những người đầu tiên đề xuất xạ trị trong
ung thư vú. Đây là phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng đóng vai trò quan trọng
trong việc phòng ngừa tái phát tại chỗ.
Chỉ định xạ trị trong UTV [5]:
- Sau phẫu thuật bảo tồn
- Diện cắt sau mổ dương tính
- Khối u từ giai đoạn T3 trở lên
- Từ 3 hạch di căn trở lên hoặc hạch có hiện tượng phá vỡ vỏ
- Xạ trị triệu chứng: chống đau, chống chảy máu.
1.6.3. Điều trị toàn thân
Ban đầu người ta chỉ áp dụng đối với các trường hợp bệnh di căn mà điều trị
tại chỗ không còn khả năng kiểm soát. Sau này các nghiên cứu đã cho thấy các ổ vi
di căn đã tồn tại ở bệnh nhân UTV giai đoạn sớm. Do vậy hiện nay điều trị toàn
thân được áp dụng cho hầu hết các giai đoạn.
1.6.3.1. Điều trị hóa chất
Sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ
thể người bệnh.
24
25
pertuzumab... trong đó trastuzumab được sử dụng rộng rãi trong điều trị bổ trợ
hoặc điều trị di căn ở bệnh nhân có her2 dương tính làm tăng thời gian sống thêm
không bệnh và toàn bộ [51], [52].
1.7. Điều trị bổ trợ trước và hóa trị bổ trợ trước, phẫu thuật bảo tồn sau hóa
trị bổ trợ trước trong UTV, một số nghiên cứu liên quan
1.7.1. Điều trị bổ trợ trước
Điều trị bổ trợ trước là phương pháp điều trị trước phương pháp điều trị
ban đầu làm cho điều trị ban đầu dễ dàng hơn. Phương pháp điều trị ban đầu là
phương pháp kinh điển hoặc phương pháp chính hoặc phương pháp quan trọng
nhất đã được xác định.
Trong ung thư hiện nay ngoài hóa trị người ta còn dùng các phương pháp khác
như: xạ trị, nội tiết, điều trị đích hoặc phối hợp nhiều phương pháp để điều trị bổ trợ
trước [53], [54].
Trong UTV, một số tác giả còn gọi hóa trị bổ trợ trước là: điều trị hóa chất tiền phẫu
(preoperative chemotherapy), điều trị hóa chất tấn công (induction chemotherapy), điều trị
hóa chất ban đầu (primary chemotherapy).
1.7.2. Hóa trị bổ trợ trước, phẫu thuật bảo tồn sau hóa trị bổ trợ trước trong ung
thư vú, một số nghiên cứu liên quan
* Các nghiên cứu về hóa trị bổ trợ trước ở bệnh nhân UTV không mổ được
Các thử nghiệm lâm sàng đầu tiên về hóa trị bổ trợ trước được bắt đầu từ
những năm 1970. Trước thời điểm đó các bệnh nhân UTV giai đoạn này được điều
trị bằng tia xạ và phẫu thuật mặc dù kiểm soát tại chỗ, tại vùng có thể đạt được
nhưng hầu hết đều thất bại do di căn. Các nghiên cứu đã cho thấy việc thêm hóa
chất bổ trợ trước giúp cho bệnh nhân có thời gian sống dài hơn cũng như cho kết
quả điều trị tại chỗ, tại vùng tốt hơn.
Adriamycin (doxorubicin) thuộc nhóm anthracyclin là một trong những thuốc
được sử dụng đầu tiên phối hợp với các thuốc khác trong điều trị bổ trợ trước.
Nghiên cứu đầu tiên do DeLena và CS tiến hành (1978) với phác đồ AV cho thấy tỉ