1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi (UTP) là bệnh lý ác tính thường gặp nhất trên toàn thế
giới, là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở nam giới tại các nước phát triển và
đang phát triển đồng thời có xu hướng ngày càng gia tăng [1]. Theo cơ quan
nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) 2012, UTP trên thế giới mới mắc có
khoảng 1,83 triệu ca chiếm tỷ lệ 12,9% tổng số ca mới mắc, có 1,59 triệu ca
tử vong chiếm tỷ lệ 19,4% tổng số ca tử vong do ung thư. Tỷ lệ mắc UTP cao
nhất ở Bắc Phi với tỷ lệ 33,8%. Còn tại Việt Nam, UTP cũng đứng hàng đầu
ở nam và đứng thứ ba ở nữ với khoảng 21865 ca mới mắc chiếm tỉ lệ 17,5%
tổng số ca mới mắc, số ca tử vong là 19559 chiếm tỷ lệ 20,6% tổng số ca tử
vong do ung thư [1], [2].
Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới, UTP được chia thành 2 nhóm
chính là ung thư phổi không tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào nhỏ, trong đó
UTPKTBN chiếm 80 - 85% [3], [4]. Tại thời điểm chẩn đoán, có khoảng 40%
bệnh nhân KTBN đã có di căn và không còn khả năng phẫu thuật hoặc hóa xạ
trị đồng thời [5], [6]. Bệnh sử tự nhiên của UTPKTBN di căn thường có tiên
lượng rất xấu với thời gian sống trung bình khoảng 4 tháng và chỉ 5 - 10% số
bệnh nhân đó có thể sống 1 năm [6].
Từ năm 1990 hóa trị có platin (Cisplatin hay Carboplatin) đã cho thấy
có sự cải thiện về thời gian sống đối với những bệnh nhân ung thư phổi giai
đoạn muộn. Đến thập kỉ sau, cùng với sự ra đời của các thuốc được xem như
thế hệ ba (Gemcitabine, các Taxane, Vinorelbin) thì sự kết hợp giữa chúng
với nền tảng là một thuốc nhóm Platin đã cho thấy những ưu thế khả quan về
thời gian sống thêm toàn bộ hay không bệnh. Và cho đến nay sự kết hợp đó
vẫn được xem là phác đồ chuẩn đối với những bệnh nhân UTPKTBN giai
đoạn muộn [6].
2
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ
1.1.1. Dịch tễ học
Ung thư phổi là bệnh lý ác tính phổ biến nhất trong vài thập kỷ qua và
có xu hướng gia tăng nhanh trong những năm gần đây [1]. Tỷ lệ mắc ung thư
phổi rất khác nhau giữa các nước và chỉ có khoảng 15,6% số bệnh nhân sống
qua 5 năm sau khi chẩn đoán bệnh [2]. Theo số liệu của các ghi nhận ung thư
trên thế giới tỉ lệ mắc ung thư phổi ở nam giới cao hơn ở nữ giới, xét riêng về
yếu tố gây ung thư phổi là thuốc lá thì nam giới có tỉ lệ hút và nghiện cao hơn
nữ giới, tuy nhiên những năm gần đây tỉ lệ hút thuốc ở nam giảm trong khi đó
ở nữ lại có xu hướng gia tăng vì vậy làm thay đổi tỉ lệ mới mắc ung thư [2].
Theo IARC tỷ lệ ung thư phổi năm 1998 đứng đầu ở nam với 18%, đứng thứ
5 ở nữ với 7% tăng 30% ở nam vào năm 2002 và 12,6% ở nữ trên toàn toàn
thế giới. Năm 2008 ung thư phổi có 1.608.000 ca mới mắc chiếm tỷ lệ 12,7%
tổng số ca ung thư mới mắc, trong đó nam nhiều hơn nữ với tỷ lệ mắc chuẩn
theo tuổi ở nam 34/100.000 dân và ở nữ là 13,5/100.000 dân. Trên thế giới tỉ
lệ mới mắc ung thư phổi cao nhất là vùng Đông Á, Bắc Mỹ đặc biệt là vùng
Trung Đông và một số nước như Nhật Bản, Singapore, Anh quốc, tỉ lệ thấp
nhất ở phía đông và giữa Châu Phi với tỉ lệ mới mắc của nam gấp 4 lần so với
nữ. Tại Nhật Bản theo số liệu ghi nhận của Trung tâm ghi nhận UT của
Hiroshima kết quả trong 5 năm từ 1993 đến 2001, UTP có tỉ lệ mới mắc là
40,3/100.000 dân đứng vị trí thứ 4, ở Nagasaki là 43,9/100.000 dân và Osaka
UTP có tỉ lệ là 44,6/100.000. Còn tại Trung quốc, trong giai đoạn 2000 đến
2005 UTP chiếm tỉ lệ cao nhất ở nam và đứng thứ đứng thứ 3 ở nữ. Và riêng
4
thuốc và giảm đều đặn trong 10 năm sau đó, mặc dù nguy cơ không bao giờ
đạt đến mức của những người chưa từng hút thuốc. Bỏ thuốc đem lại lợi ích
cho hầu hết những người hút thuốc lá bất chấp tuổi, giới và mức độ hút, đặc
biệt ở trung niên nguy cơ này có thể giảm tới 90% [2], [3], [15].
- Tuổi: Tuổi hay gặp ung thư phổi từ 40 - 60, dưới 40 tuổi ít gặp và trên
70 tuổi tỷ lệ cũng thấp [15].
- Giới: Nam hay gặp nhiều hơn nữ, hiện nay tỷ lệ nam/nữ là 4/1 [2], [15].
- Các yếu tố môi trường [15], [16], [17], [18], [19]:
+ Do chất thải môi trường, chất thải từ động cơ, xe máy, ô tô, các chất
phóng xạ, arsen, hydrocacbon…
+ Các yếu tố hóa học:
Khí Radon: những người thợ mỏ, người bị phơi nhiễm cao với khí
Radon có khả năng tăng nguy cơ bị UTP.
Chất gây UT như amiăng, benryllium, ête, hydrocarbon thơm đa
vòng, crôm, nickel và những hợp chất asen vô cơ.
- Bệnh lý mãn tính ở phổi: các nốt vôi hóa, các sẹo cũ, tổn thương lao,
các viêm phế quản mạn có dị sản dạng biểu bì.
- Yếu tố gen trong UTP: UTPTBN và KTBN khác nhau về các đặc trưng
hình thái, phương pháp điều trị và tiên lượng. Sự khác nhau này có liên quan đến
những khác nhau về phân tử giữa các kiểu mô bệnh học, gồm cả những gen có
ảnh hưởng đến chu kỳ tế bào.
6
25%
Biểu hiện quá mức của BCL-2
25%
Khuếch đại Myc
10%
1.2. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
1.2.1. Triệu chứng lâm sàng
Phổi là một cơ quan nằm sâu bên trong nên các triệu chứng được phát
hiện muộn và nghèo nàn. Một số bệnh nhân không có biểu hiện triệu chứng
lâm sàng mà tình cờ được chụp X quang phát hiện thấy khối u phổi (5% 10%). Còn lại, đại đa số các ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn muộn
với các biểu hiện lâm sàng phong phú và được chia thành 4 loại:
* Các triệu chứng do sự phát triển tại chỗ, tại vùng của khối u:
- Các khối u ở trung tâm thường gây ho, ho ra máu, các triệu chứng bít
tắc phế quản và gây viêm phế quản tắc nghẽn.
- Các khối u ở ngoại vi thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng
khi còn nhỏ.
7
- Các triệu chứng do khối u xâm lấn vào trung thất:
+ Đau do xâm lấn màng phổi hoặc lồng ngực.
+ Khàn tiếng hoặc giọng đôi khi khối u xâm lấn vào dây thần kinh
quặt ngược.
+ Nấc, khó thở do tổn thương dây thần kinh phế vị và dây thần kinh hoành.
- Các hội chứng cận u biểu hiện ở da: viêm cơ da, dày lớp gai, chai
hoặc đa sừng hoá ở lòng bàn tay và gót chân.
- Các biểu hiện ở tim mạch, huyết học: viêm nội tâm mạc, huyết tắc
không nhiễm khuẩn, huyết tắc ở xa, tình trạng máu nhanh đông chiếm 10 15%. Số lượng tiểu cầu tăng, tăng sinh sợi huyết 54% các trường hợp.
- Các biểu hiện ở thận: viêm cầu thận màng và các hội chứng về thận.
* Các triệu chứng di căn: Di căn trong UTP thường xảy ra bằng đường máu
vì có một lượng lớn máu đi qua động mạch phổi. Các cơ quan thường bị di
căn nhiều nhất là: não, xương, gan, tuyến thượng thận và thận. Triệu chứng
lâm sàng của di căn xa đôi khi có thể nổi bật hơn triệu chứng của u nguyên
phát, gây khó khăn cho chẩn đoán và điều trị.
- Di căn não:
+ Não là vị trí hay gặp di căn nhất của UTPKTBN giai đoạn IV với tỷ
lệ 25%. Những bệnh nhân không điều trị có thời gian sống thêm trung bình
dưới 3 tháng.
+ Các tổn thương não thường là có triệu chứng, gần một nửa bệnh nhân
di căn não có đau đầu
+ Các triệu chứng về thần kinh như yếu, liệt nửa người rất hay gặp ở
khoảng 40% bệnh nhân.
+ Các triệu chứng khác như rối loạn ngôn ngữ, động kinh và những
thay đổi về thị giác ít gặp hơn.
- Di căn xương:
+ Xâm lấn tủy xương gặp 15 - 30% tại thời điểm chẩn đoán nhưng chỉ
có 2 - 6% bệnh nhân có duy nhất tổn thương di căn tủy.
9
+ Di căn xương có thể gặp ở bất cứ vị trí nào nhưng thường gặp là các
xương trục (gồm xương sọ, cột sống) và các xương dài.
+ Triệu chứng phổ biến là đau, hạn chế vận động, gãy xương bệnh lý.
Chụp X quang lồng ngực là xét nghiệm thường quy được sử dụng trong
chẩn đoán UTP. Chụp đúng quy cách, tư thế với hướng tia X đi từ sau ra
trước và tư thế nghiêng với bên phổi có tổn thương sát phim, sẽ cho chúng ta
biết hình ảnh, vị trí, tình trạng xâm lấn xung quanh của khối u phổi.
Chụp X quang lồng ngực thường quy, đủ tiêu chuẩn có thể phát hiện
các dạng tổn thương khối đơn độc trong nhu mô phổi có kích thước từ 1 cm
trở lên, nếu kèm theo các triệu chứng lâm sàng thì tổn thương có khả năng ác
tính và nguyên phát. Tổn thương khối trên 4 cm, hoặc có bờ không đều, tua
gai thường có nguy cơ ung thư rất cao và thấy rất rõ trên phim Xquang.
Chụp Xquang chẩn đoán UTP có độ nhạy 58,5% đối với UT phế quản
phế nang và 78,6% với các loại UT khác. Tổn thương có kích thước nhỏ hơn
1,5 cm ở phổi sẽ rất khó chẩn đoán được bằng Xquang đơn thuần.
- Chụp CT Scanner: Nhằm đánh giá khối u nguyên phát (T), di căn
hạch (N) và tình trạng di căn xa (M). Phân loại này có vai trò quan trong
trong xác định khả năng phẫu thuật và tiên lượng.
+ Đối với u nguyên phát: Có thể phát hiện được khối u < 1 cm nhưng
cũng không thấy được tổn thương < 0,5 cm.
+ Đối với hạch: Hiệu quả phát hiện sự xâm nhập vào hạch của CT thế hệ
mới có độ nhạy là 80% - 90%. Độ đặc hiệu 63% - 94% tuỳ từng nghiên cứu.
- Chụp MRI: cho thấy những tổn thương < 0,5cm và nhiều ổ tổn thương
cùng lúc. Mặt khác do thấy được không gian 3 chiều nên có thể định vị được
tổn thương, đặc biệt với những khối u ở đỉnh phổi, vùng trên cơ hoành, màng
tim, mạch máu lớn và thành ngực.
11
- Chụp SPECT:
+ Là một công cụ chẩn đoán không xâm nhập sử dụng đồng vị phát tia
gama để ứng dụng xạ hình (99m Tc MIBI), có giá trị trong chẩn đoán đánh
nhân UTP có hạch trung thất quan sát được trên phim CT giúp chẩn đoán giai
đoạn tuy nhiên do nhiều tai biến nên ít được chỉ định.
1.2.2.4. Xét nghiệm mô bệnh học: Giúp chẩn đoán xác định, phân loại mô
bệnh học, phân độ mô học
- Trước phẫu thuật: có thể sinh thiết qua nội soi phế quản, hoặc có thể
sinh thiết kim nhỏ xuyên thành ngực có sự hướng dẫn của CT Scanner.
- Xét nghiệm mô bệnh học bệnh phẩm sau phẫu thuật.
1.2.2.5. Tế bào học: xét nghiệm tế bào học các bệnh phẩm như: đờm, dịch
chải rửa phế quản, chất quét tổn thương qua soi phế quản, phiến đồ áp các
mảnh sinh thiết, bệnh phẩm sau phẫu thuật, chọc hút kim nhỏ xuyên thành
phế quản hoặc chọc hút kim nhỏ xuyên thành ngực. Với các trường hợp di căn
hạch, xương hoặc dưới da, xét nghiêm tế bào học giúp chẩn đoán gián tiếp.
Commented [h1]: Sinh thiết kim nhỏ FNA= tế bào, thay bằng
sinh thiết kim xuyên thành ngực
13
1.2.2.6 Phân loại mô bệnh học
Phân loại mô bệnh học UTPKTBN theo phân loại WHO 1999[4],[20]
gồm các typ sau:
Bảng 1.2: Phân loại mô bệnh học.
1. Carcinom tế bào vẩy
Biến thể: nhú, tế bào sáng, tế bào nhỏ, dạng đáy
2. Carcinom tuyến
Tuyến chùm nang
Tuyến nhú
Carcinom tiểu PQ-PN
Không nhầy
lược mới trong điều trị ung thư phổi bằng các thuốc điều trị đích như
Gefitinib (Iressa), Erlotinib (Tarceva)…
- Các xét nghiệm máu: công thức máu, sinh hóa là những xét nghiệm cơ
bản cần thiết trong quá trình điều trị đối với tất cả bệnh nhân UTP.
1.2.3. Chẩn đoán xác định
- Chẩn đoán lâm sàng phối hợp với chụp X quang ngực thẳng nghiêng,
CT scanner, soi phế quản và sinh thiết u.
- Kết quả mô bệnh học, tế bào học các bệnh phẩm lấy qua nội soi phế
quản, sinh thiết, chọc hút qua thành ngực, dịch màng phổi, hạch thượng
đòn… có tế bào, tổ chức ung thư. Đây là tiêu chuẩn vàng xác đinh ung thư
phổi và chẩn đoán typ mô bệnh học.
1.3. Chẩn đoán giai đoạn
Theo phân loại TNM lần thứ 7 của AJCC năm 2009 và UICC công
nhận bắt đầu vào tháng 1 năm 2010
15
* Xếp loại TNM
T: khối u nguyên phát
Tx: Không xác định được u nguyên phát, hoặc có tế bào ung thư trong
dịch tiết hay dịch rửa phế quản nhưng không nhìn thấy u trên hình ảnh hoặc
nội soi phế quản.
T0: Không có dấu hiệu của u nguyên phát
Tis: Ung thư tại chỗ.
T1: U có đường kính lớn nhất ≤ 3cm, u được bao quanh bằng phổi hoặc
lá tạng màng phổi, không có dấu hiệu u xâm lấn tới phế quản xa và tiểu phế
quản thùy khi thăm khám bằng nội soi.
T1a: U có đường kính lớn nhất ≤ 2cm
T1b: U có đường kính lớn nhất > 2cm nhưng ≤ 3cm
M: Di căn xa
Mx: Không đánh giá được di căn xa
M0: Không có di căn xa
M1: Di căn xa
M1a: Các nhân di căn nằm ở thùy phổi đối bên, màng phổi hoặc tràn
dịch màng phổi (màng tim) ác tính.
M1b: Di căn xa
17
Bảng 1.3: Đánh giá giai đoạn bệnh
T/M
T1
T2
T3
T4
M1
Tiểu nhóm
N0
N1
N2
IIIB
T2b
IIA
IIB
IIIA
IIIB
T3 (> 7)
IIB
IIIA
IIIA
IIIB
T3 xâm nhập
IIB
IIIA
IIIA
IIIB
M1a hạch đối bên
IV
IV
IV
IV
M1a màng phổi
IV
IV
IV
IV
M1b
IV
IV
IV
các hạt đối bên M1a hoặc di căn xa M1b thì không mổ được. Tuy nhiên di căn
đơn độc tới não hay thượng thận được cắt bỏ BN có thể sống lâu hơn.
Hiện nay cắt thùy phổi là phẫu thuật chuẩn giúp cắt bỏ hoàn toàn khối
u. Nếu u ăn lan qua rãnh liên thùy thì có thể cắt thùy với cắt phân thùy, cắt hai
thùy hoặc cắt phổi. Mới đây, có sự trỗi dậy khuynh hướng cắt phân thùy đối
với tổn thương nhỏ, hạch âm. Trong 50 năm qua, tỉ lệ tử vong sau mổ đã giảm
đáng kể nhờ kỹ thuật mổ và gây mê hồi sức.
* Xạ trị
Xạ trị có vai trò quan trọng trong điều trị UTP khu trú tại vùng hoặc di
căn hạch trung thất. Xạ trị có thể dùng đồng thời với hóa trị (hóa xạ trị đồng
thời) và hoặc phẫu thuật, để làm teo bớt khối u nhằm giảm đau, bớt chảy máu
hoặc làm thông thoáng đường thở. Hầu hết phương pháp xạ trị cho UTPKTBN
là xạ trị từ xa.
Điều trị ung thư phổi bằng xạ trị là một thách thức. Khối u thường
rộng, hình thù không đều, chuyển động với nhịp thở và nằm sát với các mô
lành sinh tử. Tổn thương mô phổi lành do bức xạ thường gặp, được phân làm
19
độc tính sớm hay muộn. Sau xạ trị, chức năng phổi được cải thiện vì khối u
teo bớt, nhất là các u vùng trung tâm vốn chèn ép đường thở. Tuy nhiên
thường thì chức năng thở giảm đi. Độc tính xạ trên thực quản và tim rất đáng
quan tâm.
* Hóa trị
Phác đồ kết hợp dựa trên platinum đã trở thành chuẩn để điều trị các
UTPKTBN giai đoạn muộn. Hóa trị cũng được khuyến khích dùng trong liệu
pháp đa mô thức cho căn bệnh còn trong giai đoạn sớm. Vào năm 1998, Rapp
và cộng sự báo cáo hóa trị dựa trên Cisplatin đã cải thiện sống còn của các
bệnh nhân bị UTPKTBN tiến xa. Sau đó, hóa trị phác đồ Cisplatin hay
màng phổi ác tính…
1.5.3. Vai trò của hóa chất
1.5.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển điều trị hóa chất giai đoạn muộn
Từ những năm 1980, việc điều trị hóa chất cho bệnh nhân UTPKTBN
giai đoạn muộn bắt đầu được nghiên cứu và áp dụng nhưng những kết quả ban
đầu còn rất hạn chế, độc tính đáng kể và lợi ich sống thêm không rõ ràng.
Trong số hơn 50 tác nhân hóa chất được đưa vào thử nghiệm đầu những năm
1980 thì chỉ có 5 tác nhân cho thấy có tác dụng kháng u trên 15% số bệnh
nhân, đó là: Cisplatin, Ifosfamide, Mitomycin C, Vindesine và Vinblastine. Sau
đó, Etoposide với tỉ lệ đáp ứng toàn bộ 11% (dao động trong khoảng 3 - 21%)
được đưa thêm vào danh sách này.
Các phân tích tổng hợp từ những năm 1990 đã chứng minh được tác
dụng kéo dài đáng kể thời gian sống của những phác đồ hóa chất cũ so với
chăm sóc triệu chứng, mặc dù lợi ích này còn khiêm tốn, thời gian sống thêm
chỉ khoảng 6 tuần và 10% sống thêm 1 năm. Theo một nghiên cứu thì thuốc
duy nhất có khả năng kéo dài thời gian sống thêm so với điều trị triệu chứng
là Cisplatin. Một nghiên cứu khác của Hội Ung thư học Tây Nam (SWOG)
trên hơn 2500 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến triển cũng cho thấy dùng
21
Cisplatin sẽ cải thiện được thời gian sống thêm. Từ đó, platin đã trở thành một
tác nhân được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong hầu hết các phác đồ hóa
chất hiện đại. Dựa trên những kết quả trong lâm sàng về ưu thế kéo dài thời
gian sống thêm của hóa chất so với điều trị triệu chứng, Hội Ung thư học Lâm
sàng Mỹ (ASCO) đã thừa nhận hóa chất có khả năng kéo dài thời gian sống
thêm cho những bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến triển.
Sự xuất hiện của các thuốc được gọi là thế hệ thứ 3 ở thập kỉ sau như:
Taxane, Gemcitabine, Vinorelbine đã mở ra nhiều hy vọng khả quan hơn
với các phác đồ khác
Nghiên cứu
Crino 1999 [7]
307 Cisplatin/Gemcitabine
Tỉ lệ
đáp
ứng
(%)
38
Sandler 2000 [28]
522 Cisplatin/Gemcitabine
30
9,1
39
Zatloukal 2002 [29]
176 Gemcitabine/Cisplatin
48
8,1
-
40
8,9
29
29,4
10,8
31,4
N
Scagliotti 2002 [30]
Phương pháp điều trị
Vũ Văn Vũ [31]
31
Bùi Quang Huy 2008 [9]
41
Gemcitabine/Cisplatin
Ngoài ra, điều trị UTP bằng thuốc chống tăng sinh mạch như
Bevacizumab, hay các chất ức chế tạo mạch nội sinh, liệu pháp điều trị
gen…đang mở ra những hướng điều trị mới đầy hứa hẹn cho những bệnh
nhân UTP nói chung và nói riêng cho những UTPKTBN giai đoạn tiến xa.
* Điều trị UTPKTBN tái phát
BN tái phát đơn độc tại phổi và không có dấu hiệu của di căn xa có thể
điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ u tái phát. Đối với u tái phát ở nhiều vị trí, thể
trạng không được tốt, hóa trị liệu hay xạ trị chỉ đóng vai trò điều trị giảm nhẹ.
Trong trường hợp bệnh chưa lan tràn rộng, hóa trị liệu có thể kéo dài thời gian
sống cho BN.
1.6. Các thuốc sử dụng trong nghiên cứu
1.6.1. Gemcitabine
Công thức hóa học của Gemcitabine
* Cơ chế tác dụng: Gemcitabine biểu lộ tính đặc hiệu ở pha tế bào,
trước hết diệt tế bào nào thông qua sự tổng hợp DNA (pha S) và cũng phong
bế sự phát triển của tế bào qua ranh giới pha G1/S. Gemcitabine được chuyển
hóa trong tế bào qua xúc tác của enzym nucleosid triphosphat và diphosphat
có hoạt tính.
Tác dụng độc với tế bào của Gemcitabine là do phối hợp tác dụng của 2
nucleosid diphosphat và triphosphat dẫn tới ức chế sự tổng hợp DNA.
24
* Chỉ định
- Gemcitabine được chỉ định đầu tiên để điều trị: UT phổi không tế
bào nhỏ, ung thư biểu mô tuyến tụy, ung thư bàng quang
- Ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư vùng đầu cổ
* Liều lượng và cách sử dụng
+ Dùng phối hợp: liều lượng cần thay đổi tùy theo bản bản chất và độc
tính của thuốc phối hợp.
+ Trong điều trị UTP đây là thuốc cơ bản.
- Chống chỉ định:
+ Tuyệt đối: Những người dị ứng với Cisplatin hoặc các thuốc có
platin, phụ nữ có thai cho con bú.
+ Tương đối: có tổn thương chức năng gan thận. Về nguyên tắc nếu
creatinin gấp 2 lần bình thường thì không dùng, có độc tính thính giác.
+ Không phối hợp với kháng sinh aminosid
+ Theo dõi thính lực và kiểm tra về tinh thần.
- Bảo quản: Lọ thuốc kín để tủ lạnh 2 - 8 độ C và tránh ánh sáng. Sau
khi đã pha thành dung dịch thì ko để lại tủ lạnh vì thuốc sẽ bị kết dính trở lại.
Nếu để nhiệt độ phòng thì để được một giờ.
- Quá liều: Khi dùng quá liều phải theo dõi chặt chẽ chức năng thận,
thính giác, công thức máu. Nếu quá liều phải thẩm tách máu để tránh ngấm
vào nhu mô thận.