Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình tại tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN HỮU BẢO NGUYÊN

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN VỀ
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Văn Long

HÀ NỘI – 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Đại học Luật Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Đại học Luật Hà Nội xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.

CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ......................... 31
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Hà Nội và cơ cấu tổ chức của
Toà án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội ................................... 31
2.2. Kết quả đạt được và những hạn chế trong áp dụng pháp luật giải
quyết án hôn nhân và gia đình của toà án nhân dân cấp huyện
trên địa bàn thành phố Hà Nội (giai đoạn 2012 -2015). ........................ 34
Kết luận chương 2 ........................................................................................ 50
Chương 3 YÊU CẦU, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI .............................................................................. 51


3.1. Yêu cầu đối với việc nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong
giải quyết án hôn nhân và gia đình của toà án nhân dân cấp
huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội ................................................... 51
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết
án hôn nhân và gia đình của toà án nhân dân cấp huyện trên địa
bàn thành phố Hà Nội .......................................................................... 56
Kết luận chương 3 ........................................................................................ 77
KẾT LUẬN ................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 79


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADPL:
BLTTDS:

Áp dụng pháp luật


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình được xem là tế bào của xã hội, do vậy muốn có xã hội phát
triển và lành mạnh thì cần phải có các gia đình tốt – gia đình văn hoá mới.
Gia đình là cái nôi sản sinh ra con người, nuôi dưỡng và giáo dục con người
cho xã hội, vì vậy Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua luôn luôn quan
tâm tới vần đề gia đình. Luật hôn nhân và gia đình có vai trò góp phần xây
dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ Hôn nhân và gia đình tiến bộ, nhằm xây
dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.
Với đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã đề
cập như vậy, song thực tế hiện nay các vụ án về Hôn nhân và gia đình vẫn
phát sinh và có chiều hướng gia tăng, đòi hỏi Toà án phải (ADPL) để giải
quyết các loại án này. Nghiên cứu về (ADPL) trong giải quyết án Hôn nhân
và gia đình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong
gia đình, thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, tránh tình trạng phân biệt
đối xử, tình trạng bạo lực gia đình [43].
Trong hoạt động tư pháp thì hoạt động của Toà án là trung tâm có vai
trò quan trọng trong hệ thống cơ quan tư pháp và Toà án là cơ quan duy nhất
nhân danh Nhà nước tiến hành hoạt động xét xử các loại án nói chung và Hôn
nhân và gia đình nói riêng. Trong những năm qua, việc trong giải quyết án
Hôn nhân và gia đình đã giải quyết được những mâu thuẫn bất hoà trong gia
đình, đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình,
bên cạnh những mặt đã đạt được trong quá trình giải quyết án Hôn nhân và
gia đình vẫn còn những thiếu sót, như có vụ án trong quá trình giải quyết còn
để tồn đọng, dây dưa kéo dài, có vụ án còn bị sửa, huỷ gây ảnh hưởng đến
quyền lợi của các bên đương sự.
Ở thành phố Hà Nội những năm qua, số lượng án về Hôn nhân và gia
đình ngày càng gia tăng. Đối với loại án này mỗi vụ án có nội dung đa dạng
và tính phức tạp khác nhau, nên việc ADPL để giải quyết loại án này gặp

trở trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.
Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài “Áp dụng pháp luật trong giải
quyết các vụ án về Hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân cấp huyện
trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận
lịch sử nhà nước và pháp luật.


3
2. Tình hình nghiên cứu
Trong việc giải quyết các vụ án nói chung và ADPL trong giải quyết
án Hôn nhân và gia đình nói riêng đã được giới khoa học pháp lý và nhất là
những người trực tiếp làm công tác xét xử của ngành Toà án quan tâm nghiên
cứu. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập đến một số
khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài như:
- Trương Kim Oanh (1996), Hòa giải trong tố tụng dân sự, Luận văn
thạc sỹ Luật học;
- Đặng Quang Phương (1999), Thực trạng của các bản án hiện nay và
một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các bản án, Tạp chí TAND số 7, 8;
- Nguyễn Văn Cừ, (2000), Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật hôn
nhân và gia đình năm 2000, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11;
- Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường, (2002), Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị Quốc Gia,
Hà Nội;
- Bùi Văn Thuấn (2002), Phụ nữ và pháp luật, quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng đối với tài sản riêng và chung, Nxb Phụ nữ, Hà Nội;
- Nguyễn Hồng Hải (2003), Bàn về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Tạp chí luật học số 2;
- Trần Thị Quốc Khánh (2004), Từ hòa giải trong truyền thống dân tộc
đến hòa giải cơ sở ngày nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11;
Qua nghiên cứu những công trình nêu trên cho thấy, các tác giả chỉ đề

* Đối tượng nghiên cứu: Là việc ADPL trong hoạt động giải quyết án
Hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân cấp huyện trên địa bàn Thành phố
Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình ADPL
để giải quyết án Hôn nhân và gia đình của các Toà án nhân dân cấp huyện ở
thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2015.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản
Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, trong đó có vấn đề ADPL giải quyết án
Hôn nhân và gia đình.


5
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên
cứu của Triết học Mác – Lênin về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
phương pháp lịch sử và logic, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn;
phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL
trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình, làm sáng tỏ đặc thù của loại án này
ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động
ADPL giải quyết án Hôn nhân và gia đình ở cấp huyện thành phố Hà Nội và đề ra
các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo ADPL trong hoạt động giải quyết án
Hôn nhân và gia đình có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư
pháp.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ
sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác ADPL trong giải quyết án
Hôn nhân và gia đình, nhằm thực hiện và chấp hành nghiêm chỉnh Luật Hôn

thân, đó là quan hệ vợ chồng. Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực chất và
ý nghĩa của nó biểu hiện trong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp
ứng cho nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày.
Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị bằng pháp luật,
điều chỉnh quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình,
phù hợp với ý chí giai cấp mình, xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó và
tương ứng với chế độ hôn nhân nhất định. Chẳng hạn, xã hội phong kiến có
hình thức hôn nhân phong kiến, mang bản chất của hôn nhân phong kiến.
Trong xã hội tư bản có hình thức hôn nhân tư sản mang bản chất của xã hội
tư sản. Xã hội XHCN có hình thức của hôn nhân xã hội chủ nghĩa. Hiện nay
ở một số nước đã công nhận việc kết hôn giữa những người đồng giới, vì vậy
khái niệm hôn nhân cũng được mở rộng hơn, không chỉ giữa người đàn ông
và người đàn bà mà là giữa hai con người có mối quan hệ tình cảm, có cùng
chung mục đích là muốn có sự liên kết gắn bó với nhau về mặt tinh thần cũng
như về mặt luật pháp, không biệt giới tính, chủng tộc, quốc tịch...
Ở nước ta hiện nay, hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc


7
hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật để chung sống với
nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoà thuận và bền vững.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích: “Hôn nhân là quan hệ giữa
vợ và chồng sau khi kết hôn” [49, Khoản 1 Điều 3]. Mặc dù trước đây khi lấy
ý kiến sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình cũng đã có ý kiến đưa quan hệ hôn
nhân đồng tính vào Luật hôn nhân và gia đình để điều chỉnh nhưng ý kiến này
không được thông qua và hiện tại Việt Nam chưa công nhận hôn nhân giữa
những người cùng giới tính. Lý do của việc không công nhận này có thể là vì
hôn nhân đồng tính sẽ làm mất đi khái niệm người vợ, người chồng trong gia
đình truyền thống Việt Nam.

chuyển từ hình thái gia đình này lên hình thái gia đình khác cao hơn suy cho
cùng được quyết định bởi những điều kiện vật chất của đời sống xã hội”
[24]. Bằng tác phẩm đó, Ph.Ăngghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về
hình thái hôn nhân và gia đình trong lịch sử.
Tại các Điều 8, 9 Chương II của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
quy định việc kết hôn, để được công nhận hôn nhân hợp pháp, việc đăng ký
kết hôn phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật và việc ly hôn cũng
như giải quyết các quan hệ liên quan đến hôn nhân cũng được tiến hành theo
trình tự pháp luật nhất định, các bước phải được tuân thủ theo Bộ luật tố tụng
dân sự, khi giải quyết một vấn đề cụ thể thì được áp dụng theo Luật Hôn
nhân và gia đình.
1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết án Hôn nhân và gia
đình
Áp dụng pháp luật là một hoạt động mang tính tổ chức quyền lực nhà
nước, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà nước tổ chức cho các chủ thể
pháp luật thực hiện những quy định pháp luật. Áp dụng pháp luật sẽ cá biệt
hóa các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc các chế tài pháp luật; làm phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể; giải
quyết các tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên
tham gia quan hệ pháp luật; kiểm tra, giám sát, hoặc xác nhận thực trạng
của một quan hệ xã hội.
Quan niệm ADPL như vừa nêu trên được thể hiện rất rõ trong đời sống
xã hội. Chẳng hạn, để ADPL hình sự nhằm buộc kẻ phạm tội phải chịu trách
nhiệm pháp luật hình sự thì nhà nước đã trao quyền cho Toà án và Toà án căn


9
cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật hình sự để xét xử ra một bản án
(văn bản ADPL hình sự) buộc kẻ phạm tội phải chịu một hình phạt nhất định.


10
các vụ án Hình sự, Dân sự, Hôn nhân và gia đình, Kinh doanh thương mại,
Lao động, Hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp
luật...” [31, Khoản 2 Điều 2].
Trong quá trình xét xử Toà án phải ADPL để giải quyết các vụ án. Đối
với các vụ án Hôn nhân và gia đình, Toà án phải ADPL để giải quyết từ khâu
phân loại đơn, thụ lý đơn, điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh, định giá tài
sản… cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tuỳ từng vụ án cụ thể mà phân loại
giải quyết khác nhau như: Quyết định chuyển vụ án, tạm đình chỉ vụ án, đình
chỉ vụ án, công nhận hoà giải thành, công nhận thuận tình ly hôn hoặc quyết
định đưa vụ án ra xét xử.
Theo quy định của Luật tố tụng dân sự khi đương sự gửi đơn đề nghị
giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình đến TAND cấp có thẩm quyền giải
quyết, sau khi nhận đơn Toà án tiến hành phân loại việc hôn nhân và gia đình.
Nếu là quan hệ tranh chấp ly hôn thì thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật “Tranh
chấp ly hôn”. Nếu đơn khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
con chung sau khi ly hôn thì thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật “Tranh chấp
việc cấp dưỡng nuôi con”… Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán giải quyết vụ án
phải ADPL tố tụng và Luật Hôn nhân và gia đình để điều tra thu thập chứng cứ
vụ án, lựa chọn quy phạm pháp luật để ra các quyết định hoặc ra bản án buộc
các đương sự thi hành bằng nhiều hình thức như: tự nguyện thi hành hoặc có
sự cưỡng chế thi hành của cơ quan Thi hành án dân sự.
Ngoài cơ quan Toà án ADPL giải quyết án hôn nhân và gia đình còn
có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong giai đoạn giải
quyết vụ án. Viện kiểm sát nhân dân có quyền và trách nhiệm kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự, như yêu cầu cá nhân, cơ
quan tổ chức cung cấp chứng cứ, tham gia phiên toà xét xử và được phát biểu
về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình
giải quyết vụ án và tại phiên toà. Tuy nhiên, TAND là cơ quan có trách

hoạt động mang tính khoa học và sáng tạo do Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân thực hiện. Chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trực tiếp giải quyết
vụ án hôn nhân và gia đình mới được áp dụng các quy phạm pháp luật, sao
cho phù hợp và khoa học để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình. Trong
khuôn khổ của pháp luật cho phép, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ADPL
sáng tạo, nghĩa là dựa vào trí tuệ và niềm tin nội tâm của mình để ADPL.
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình diễn ra


12
trên phạm vi rộng với nhiều vụ án đa dạng, phức tạp. Tuy nhiên, cùng một
loại án về hôn nhân và gia đình nhưng tính chất từng vụ án cũng khác nhau,
tình tiết, chứng cứ trong các vụ án cũng khác nhau. Khi giải quyết vụ án phải
tuân thủ theo các bước quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ đó có thể rút ra rằng hoạt động ADPL trong giải quyết các vụ án
Hôn nhân gia đình chỉ do hệ thống Tòa án tiến hành, tuy nhiên ở mỗi cấp Tòa
án việc áp dụng pháp luật có những khác biệt, đặc biệt là về thẩm quyền. Hệ
thống tổ chức của ngành Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội được chia làm
hai cấp: Tòa án nhân dân cấp thành phố và các Tòa án nhân dân cấp huyện.
Tòa án nhân dân cấp huyện là cách gọi chung các TAND huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh. Các giai đoạn và nội dung áp dụng pháp luật giải quyết
án hôn nhân và gia đình sơ thẩm tại TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh gần
như là giống nhau. Đại đa số các vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm đều do
TAND cấp huyện giải quyết, trừ các vụ án có yếu tố nước ngoài thì do
TAND cấp tỉnh giải quyết, điều này đã được quy định rõ trong Điều 35 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015.
Thẩm quyền giải quyết án Hôn nhân và gia đình của TAND cấp huyện
là các vụ án cấp sơ thẩm, bao gồm các loại sau:
-Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;
- Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;

Thẩm phán là người đầu tiên tiếp xúc với hồ sơ vụ án, trực tiếp tiếp xúc với
đương sự, có thể yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ, tiến hành điều
tra, xác minh nội dung vụ án, tiến hành hòa giải, ra Quyết định xét xử... việc
ADPL của Thẩm phán là thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình tố
tụng của vụ án. Thẩm phán cùng các Hội thẩm nhân dân đánh giá hồ sơ cũng
như các tài liệu, lời khai của đương sự tại phiên tòa để ADPL và đưa ra quyết
định cuối cùng là một bản án nhân danh nhà nước. Ngoài ra, Kiểm sát viên
đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động tố tụng của vụ án. Việc kiểm sát này
là hình thức ADPL một cách gián tiếp, Kiểm sát viên không trực tiếp tham
gia vào nội dung của vụ án Hôn nhân và gia đình.


14

1.2. Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia
đình tại Tòa án nhân dân cấp huyện
Áp dụng pháp luật giải quyết án hôn nhân và gia đình nói riêng của
TAND là sự biểu hiện cụ thể và mang những đặc điểm của ADPL nói chung.
Do tính đa dạng của tranh chấp về hôn nhân và gia đình như trong vụ án
tranh chấp về ly hôn, Toà án phải giải quyết cả ba mối quan hệ: quan hệ hôn
nhân, quan hệ nuôi con chung sau ly hôn và quan hệ tài sản chung của vợ
chồng sau khi ly hôn, điều này đòi hỏi khi giải quyết các nội dung vụ án, Toà
án phải áp dụng cả Luật Hôn nhân và gia đình, Luật đất đai, Bộ luật dân sự
để giải quyết vụ án. Ngoài ra, Toà án còn phải áp dụng những quy định về
thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án. Dựa trên cơ sở lý luận của ADPL, có thể
chia ADPL trong việc giải quyết án Hôn nhân và gia đình thành bốn giai
đoạn sau:
Một là phân tích các tình tiết khách quan của vụ án hôn nhân và gia
đình làm rõ các đặc trưng pháp lý của vụ án. Đây là hoạt động đầu tiên trong

không nhất thiết phải tiến hành điều tra, mà xuất phát từ nguyên tắc quyền tự
định đoạt và nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự tự xuất trình chứng
cứ, các đương sự tự thoả thuận được các tranh chấp trong quan hệ Hôn nhân
và gia đình, thì vụ án cũng không phải tiến hành tất cả các hoạt động điều tra.
Đây cũng là đặc điểm riêng của vụ án Hôn nhân và gia đình. Ví dụ: khi thụ lý
giải quyết một vụ kiện xin ly hôn, Toà án yêu cầu nguyên đơn và bị đơn cung
cấp các tài liệu, giấy tờ liên quan đến quan hệ hôn nhân, các đương sự tự viết
vào bản tự khai. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều nhất trí ly
hôn, tự thoả thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng
nuôi con, thoả thuận về tài sản chung vợ chồng sau ly hôn thì Toà án ra
Quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương
sự.
Trên cơ sở kết quả điều tra xác minh vụ án chủ thể ADPL, phân tích
những tình tiết khách quan của vụ án hôn nhân và gia đình, làm rõ các đặc
trưng pháp lý của vụ án để tiến hành các bước tiếp theo giải quyết vụ án đó.
Hai là lựa chọn các quy phạm pháp luật về Hôn nhân và gia đình, về
Dân sự, về Tố tụng dân sự tương ứng để giải quyết vụ án hôn nhân và gia
đình.
Nói chung, việc lựa chọn QPPL để ADPL được tiến hành theo ý chí


16
đơn phương của Toà án có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ
thể bị áp dụng. Điều này được thể hiện rất rõ đối với việc ADPL trong giải
quyết án hình sự và giải quyết vi phạm hành chính, nhưng đối với việc giải
quyết án hôn nhân và gia đình về cơ bản cũng vậy, song có một số trường
hợp có thể trong khi giải quyết vụ án các đương sự có thể thực hiện quyền
của mình theo pháp luật quy định sẽ thay đổi quan điểm, nên dẫn đến vụ án
không phải tiếp tục điều tra, xét xử mà có thể ra một quyết định thoả thuận
của các đương sự mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể ADPL, nhưng

Quyết định ADPL phải phù hợp với quy phạm pháp luật đưa ra áp
dụng chứ không thể xuất phát từ ý chí chủ quan hoặc tình cảm cá nhân của
người có thẩm quyền, nội dung quyết định bản án phải rõ ràng, chính xác.
1.3. Nội dung áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia
đình tại Tòa án nhân dân cấp huyện.
Nội dung ADPL trong quá trình giải quyết án hôn nhân và gia đình
được thể hiện trong các nhiệm vụ ở các giai đoạn mà Tòa án nhân dân tiến
hành. Nội dung ADPL trong giải quyết án hôn nhân và gia đình rất đa dạng
và phong phú, nhưng quy về những nội dung cơ bản sau:
1.3.1. Áp dụng pháp luật trong thụ lý, điều tra, thu thập chứng cứ và hòa
giải:
* Thụ lý vụ án
Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự quy định có quyền
khởi kiện về việc Hôn nhân và gia đình, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải
quyết. Bộ luật tố tụng dân sự quy định những loại việc mà Toà án nhân dân
cấp huyện thụ lý giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện thuộc lĩnh vực Hôn
nhân và gia đình tại Điều 28, 29, 35.
Trong thực tế các loại việc tranh chấp về Hôn nhân và gia đình khi các
đương sự gửi đơn đến Toà án viết rất đơn giản, ít và thiếu các thông tin, vì vậy
ADPL trong việc thụ lý vụ án rất quan trọng để xem xét vụ án thuộc loại tranh
chấp nào, thuộc thẩm quyền của Toà án nào giải quyết.
Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, những chứng cứ kèm theo, nếu
xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì thông báo cho
người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí.
Toà án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo nộp tiền tạm ứng án
phí và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời


18
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm



19
của Thẩm phán.
Như vậy, khi thụ lý đơn để giải quyết vụ án, Toà án trước khi thụ lý
cần phải xem xét nhiều vấn đề liên quan như các giấy tờ liên quan đến vụ
kiện, thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ, thẩm quyền của Toà án cấp nào
được giải quyết, người khởi kiện có quyền khởi kiện hay không, có đủ năng
lực hành vi dân sự không đồng thời Toà án phải thụ lý theo đúng thời hạn của
Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Việc ADPL đối với khâu thụ lý vụ án bước
đầu này rất quan trọng để định hướng chính xác việc giải quyết vụ án sau này
và cũng nhằm đảm bảo quyền lợi của người khởi kiện.
* Điều tra, thu thập chứng cứ vụ án:
Đối với vụ án Hôn nhân và gia đình, quá trình điều tra vụ án thuộc
trách nhiệm của Toà án, Chánh án phân công cho một Thẩm phán trực tiếp
giải quyết vụ án, điều tra thu thập chứng cứ, đây là giai đoạn rất quan trọng,
khó khăn nhất trong quá trình giải quyết vụ án. Thu thập được chứng cứ đầy
đủ, khách quan thì Toà án mới có thể ra phán quyết chính xác và đúng pháp
luật. Do đó, đòi hỏi Thẩm phán phải thận trọng khi thu thập chứng cứ như
các bước chủ yếu sau:
- Thẩm phán tiến hành lấy lời khai đương sự theo Điều 98 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015, chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự chưa có bản
tự khai hoặc bản tự khai không đầy đủ, rõ ràng, đương sự phải tự viết bản
khai và ký tên của mình. Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được
thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự chỉ
tập trung vào những nội dung đương sự chưa khai hoặc khai chưa rõ.
- Việc lấy lời khai của đương sự cũng có thể được thực hiện tại trụ sở
Toà án, trong những trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự
ngoài trụ sở Toà án. Sau khi ghi xong biên bản ghi lời khai phải được người
khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền

khai chứng cứ của các bên đương sự.
Bên cạnh đó, tuỳ thuộc vào từng vụ án cụ thể mà Toà án quyết định
trưng cầu giám định theo sự đề nghị của các bên đương sự hoặc theo đề nghị
của một bên đương sự. Nếu trong trường hợp xét thấy kết luận giám định
chưa đầy đủ, rõ ràng thì Toà án ra quyết định bổ sung yêu cầu giám định lại.
- Định giá tài sản: Tài sản các bên đương sự có tranh chấp về giá, Toà
án quyết định thành lập Hội đồng định giá và tuỳ thuộc vào loại tài sản cần
định giá mà tiến hành mời các thành viên hội đồng định giá cho phù hợp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status