1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Khái lược
Chương tổng quan được trình bày một cách khái lược các nội
dung xuyên suốt cấu thành trong luận án. Các nội dung đó được kết cấu
thành hệ thống bao gồm: phản ánh sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài
nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu;
phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu; lược khảo tài liệu đã
được công bố trong cùng lĩnh vực nghiên cứu; những đề xuất có tính
chất sáng tạo trong nghiên cứu và kết cấu các chương của đề tài. Thông
qua các nội dung đó có thể hình dung một cách khái quát nội hàm của
công trình nghiên cứu.
1.2 Sự cần thiết ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững là mục tiêu chủ yếu
của các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Tăng
trưởng kinh tế luôn là điều kiện tiên quyết để nâng cao đời sống vật chất
tinh thần và phúc lợi xã hội cho mọi tầng lớp dân cư và giảm tỷ lệ thất
nghiệp mà mọi quốc gia đều kỳ vọng,… Do vậy tăng trưởng kinh tế và
nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế là vấn đề luôn
thu hút sự quan tâm của chính phủ và các nghiên cứu cũng như nhà
hoạch định chính sách kinh tế - xã hội.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ
giữa đầu tư công với tăng trưởng kinh tế song mối quan hệ giữa hai yếu
tố này vẫn còn nhiều tranh luận. Trong số đó, có không ít các công trình
nghiên cứu, khẳng định tác động tích cực của đầu tư công đến tăng
trưởng kinh tế như các nghiên cứu của Easterly và Rebelo, 1993; Abiad
3
bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên, việc phát triển vùng
đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập chưa tương
xứng với tiềm năng vốn có của vùng. Tình trạng chậm phát triển kinh tế
ở Đồng bằng sông Cửu Long xuất phát từ nhiều nguyên nhân như kết
cấu hạ tầng – xã hội còn yếu kém, công nghiệp phát triển chậm, hệ thống
giáo dục còn nhiều hạn chế,… (Nguyễn Hữu Thịnh, 2015).
Bắt nguồn từ thực tế đó, mục tiêu đặt ra cho đề tài nghiên cứu:
Hệ thống hóa các lý thuyết về tác động của đầu tư công đến tăng
trưởng kinh tế để đối chiếu và vận dụng phù hợp với các điều kiện đặc
thù của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Vận dụng hệ thống lý thuyết này và phân tích thực tế để rút ra
thực tiễn của Đồng bằng sông Cửu Long và tìm ra các giải pháp tương
ứng.
Đề xuất các giải pháp trong mối quan hệ giữa tác động của đầu tư
công đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng đầu
tư phát triển đồng bộ trên các phương tiện như: Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, đào tạo, phúc lợi an sinh xã
hội và trong các mối quan hệ biện chứng của chúng.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Chọn lọc và hệ thống hóa các quan điểm lý luận để hình thành
khung lý thuyết, cơ sở lý luận về đầu tư công và ý nghĩa của đầu tư công;
những tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, tạo môi trường
cho sự phát triển bền vững; đồng thời vận dụng kết quả đó vào nghiên
cứu cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Một vùng kinh tế trọng điểm
của đất nước với nhiều tiềm năng nhưng chưa hội đủ các cơ hội để bức
phá. Đồng thời, bằng sự kết hợp giữa lý luận với phân tích thực tế để rút
5
1.4 Các câu hỏi được đặt ra
Để đạt được các mục tiêu trên, câu hỏi được đặt ra để giải quyết là:
Đầu tư công có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của
vùng Đồng bằng sông Cửu Long?
Thực trạng quy trình đầu tư công vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long giai đoạn 2001-2014 là như thế nào?
Giải pháp nào cho đầu tư công hướng đến mục tiêu tăng trưởng tại
vùng Đồng bằng sông Cửu Long ?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thực trạng đầu tư công, tăng
trưởng kinh tế cũng như mối quan hệ giữa hai yếu tố này ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, luận án tập trung nghiên cứu những
đặc điểm riêng biệt về kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu
Long, phân tích những lợi thế, khó khăn cũng như những cơ hội và
thách thức của vùng trong thời kỳ hội nhập kinh tế, cụ thể là từ 2001 2014.
Nghiên cứu hướng đến phân tích hiện trạng của các ngành kinh tế
- xã hội: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, giáo dục đào tạo và các vấn
đề an sinh xã hội; đặc biệt là cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong mối
quan hệ với đầu tư công và sự tác động của đầu tư công đến tăng trưởng
kinh tế của vùng làm cơ sở cho quá trình phát triển bền vững.
Nghiên cứu cũng tập trung phân tích cơ cấu đầu tư công, hiệu quả
đầu tư công cũng như cơ chế và thực trạng quản lý đầu tư công tại vùng
Đồng bằng sông Cửu Long nhằm khái quát bức tranh toàn diện về đầu tư
công của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đó sẽ là tiền đề để nghiên
vốn đầu tư, trong đó nguồn quan trọng hơn cả là đầu tư công trình ngân
sách TW và ngân sách địa phương. Mặt khác, luận án cũng đề cập đến sự
cần thiết phải kết hợp đồng thời giữa đầu tư công từ ngân sách nhà nước
với các loại hình đầu tư khác, mới có thể tạo điều kiện để Đồng bằng
sông Cửu Long chuyển biến tích cực theo xu hướng hội nhập.
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu phù hợp với mục
tiêu được đặt ra. Các phương pháp nghiên cứu được vận dụng để thực
hiện các luận án là:
- Phương pháp phân tích dữ liệu thống kê.
Luận án tập hợp chọn lọc và sử dụng hệ thống số liệu “thứ cấp” đã
được xử lý của các cơ quan thống kê từ TW và địa phương. Đồng thời,
hệ thống hóa, phân loại theo các tiêu chí để phân tích đánh giá hiện
tượng thực đối tượng nghiên cứu và đúc kết thành những nội dung cần
thiết phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp điều tra khảo sát.
Điều tra và khảo sát ở đây được thực hiện trên 3 phương diện:
+ Khảo sát các điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội các địa phương
vùng Đồng bằng sông Cửu Long để tạo thêm căn cứ phân tích đánh giá
khả năng, tiềm lực cũng như những thuận lợi, khó khăn trong tiếp nhận
vốn đầu tư công và hiệu quả của nó đối với tăng trưởng kinh tế.
+ Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý, các nhà
hoạch định chiến lược chính sách về đầu tư công và tác động của đầu tư
công đến tăng trưởng kinh tế đối với điều kiện kinh tế - xã hội vùng
Đồng bằng sông Cửu Long như: NGND GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền –
nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP.HCM và Trường Đại
8
Một trong những lý do để luận án thực hiện đề tài nghiên cứu này
xuất phát từ lược khảo và tổng hợp các tài liệu nghiên cứu trước cùng
lĩnh vực. Luận án tham khảo một cách có hệ thống các công trình nghiên
cứu trong cùng lĩnh vực đã được công bố, nhằm kế thừa tri thức đã được
trải nghiệm; đồng thời để tích luỹ thêm kiến thức và vận dụng nó trong
nghiên cứu khoa học.
1.7.1 Lược khảo nghiên cứu của thế giới
Các nghiên cứu thường xem xét tác động của đầu tư công chung
(Pereira, 2000, 2001; Dessus & Herrera, 2000; Bose & cộng sự, 2003;
Le & Suruga, 2005; Arslanalp & cộng sự, 2010) đến tăng trưởng kinh tế
hoặc xem xét tác động đầu tư công trong một lĩnh vực cụ thể đến tăng
trưởng kinh tế, thường là đầu tư công trong phát triển cơ sở hạ tầng
(Aschauer, 1998; Pereira, 2001; Ramirez, 2004), năng lượng ( Lee &
Chang, 2005; Hye & Riaz, 2008), nông nghiệp (Mishra & Chand, 1995;
Mogues & cộng sự, 2012) hay giáo dục (Kuhl Teles & Andrade, 2008).
Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu thường nghiên cứu với dữ liệu
chuỗi thời gian đầu tư công của một quốc gia (Aschauer, 1989; 1998;
2010; Pereira, 2000, 2001; Pereira & Andraz, 2001; Chen, Shen-Tung,
& Lee, 2005; Hye & Riaz, 2008; Abounoori & Nademi, 2010 ) hoặc dữ
liệu bảng với nhiều quốc gia (Devarajan & cộng sự, 1996; Dessus &
Herrera, 2000; Bose & cộng sự, 2003; Haque, 2004; Gupta & cộng sự,
2005; World Bank, 2007; Arslanalp & cộng sự, 2010). Các nghiên cứu
cấp vùng hoặc địa phương còn khá khiêm tốn. (Auteri & Constantini,
2004; Matinez-López, 2005; Ezcurra & cộng sự, 2005; Schaltegger &
Torgler, 2006; Kortelainen & Leppänen, 2013).
Kết quả thực nghiệm về tác động của đầu tư công còn chưa thống
10
phạm vi nghiên cứu rộng là tất cả các tỉnh thành tại Việt Nam, việc xem
xét tác động của đầu tư công đến một vùng cụ thể như Đồng bằng sông
Cửu Long dường như khá khiêm tốn. Việc này gây ra những khó khăn
nhất định trong việc đề xuất ý tưởng, hàm ý chính sách hiệu quả về đầu
tư công cho từng vùng miền cụ thể.
Một số nghiên cứu đi vào phân tích thực trạng cơ chế quản lý đầu
tư công ở Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu thường xem xét một vài
khía cạnh cụ thể của cơ chế quản lý đầu tư công (Nguyễn Hồng Thắng,
2008; Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài, 2012; Nguyễn Xuân Điền,
2015; Phạm Thị Anh Đào, 2015). Hơn nữa, do tập trung vào cơ chế quản
lý đầu tư công, các bằng chứng thực nghiệm về tác động của đầu tư công
đến tăng trưởng kinh tế ở các nghiên cứu này chưa được chú trọng.
Như vậy, vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế đã và
đang được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên
cứu được phát triển nhiều hướng khác nhau. Trong đó, các nghiên cứu
về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở cấp độ vùng, địa
phương còn khá khiêm tốn. Bên cạnh đó, việc kết hợp tìm kiếm bằng
chứng thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế
và phân tích cơ chế quản lý công ở cùng một trường hợp nghiên cứu
chưa được chú trọng. Chính vì vậy, luận án hướng đến mục tiêu kiểm
định thực nghiệm tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và
phân tích thực trạng về cơ chế quản lý đầu tư tại các tỉnh, thành vùng
Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001-2014.
1.8 Những điểm mới của luận án
Đầu tiên, luận án kết hợp giữa phân tích thực trạng và đánh giá
thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu chỉ ra đầu tư công
13
mà vùng đồng bằng sông Cửu Long phải đối mặt trong tình hình mới.
Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đương đầu với biến đổi khí hậu và
nhiễm mặn, do đó, một trong những vấn đề cấp thiết được đặt ra là phải
tái cấu trúc qui hoạch kinh tế - xã hội toàn vùng Đồng bằng sông Cửu
Long và đầu tư công cần có sự thích ứng để hiệu quả đầu tư được nâng
cao hơn.
Tuy nhiên, bởi năng lực nghiên cứu của tác giả còn hạn chế; do đó
những ý tưởng này, trong chừng mực vẫn chưa thể đáp ứng đầy đủ như
mong muốn.
1.9 Cấu trúc của luận án
Luận án được cấu trúc thành 6 chương ứng với các nội dung
nghiên cứu được rút ra:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư công và tác động của đầu tư
công đến tăng trưởng kinh tế.
Chương 3: Phân tích thực trạng và đánh giá thực nghiệm về tác
động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu
Long.
Chương 4: Phân tích cơ chế và thực trạng quản lý đầu tư công
vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Chương 5: Những dự báo về kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu
Long.
Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách.
14
Tương tự, mặc dù có những khác biệt trong quy trình quản lý đầu
tư công ở các quốc gia, quản lý đầu tư công được hiểu là một hệ thống
tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính
sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực
thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu
quả và hiệu lực của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng
và phát triển chung của nền kinh tế.
Để trình bày các nội dung trên, Chương 2 được cấu trúc như sau:
Phần thứ nhất của chương trình bày các khái niệm chính của đề tài như
đầu tư công, tăng trưởng kinh tế và quản lý đầu tư công; Phần thứ hai
trình bày khung phân tích, một số mô hình lý thuyết điển hình lý giải về
tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế dựa trên nhiều nền
tảng, lập luận khác nhau. Trong khi đó, phần thứ ba của bài nghiên cứu
xem xét các vấn đề lý thuyết liên quan đến cơ chế quản lý công. Bên
cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm và các vấn đề có liên quan cũng
được trình bày.
2.1 Các khái niệm chính
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng
quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người
qua một thời gian nhất định. Theo đó, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng
tổng các giá trị hàng hóa và dịch vụ do các ngành kinh tế của một quốc
gia tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.
Tăng trưởng kinh tế biểu hiện bằng quy mô tăng trưởng và tốc độ
tăng trưởng (trong đó quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng hay sụt
giảm đi; tốc độ tăng trưởng là phép so sánh tương đối phản ánh sự gia
tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế). Khi nghiên cứu quá trình tăng
16
17
viễn thông, giáo dục,… từ đầu tư công tạo ra môi trường kinh doanh
thuận lợi hơn cũng như giảm được chi phí sản xuất cho khu vực tư nhân
để tăng cường đầu tư và nhu cầu hàng hóa dịch vụ từ chính phủ khiến
cầu về sản phẩm của khu vực tư nhân gia tăng, khuyến khích khu vực
này đầu tư nhiều hơn do kỳ vọng về doanh thu và lợi nhuận tốt hơn. Nếu
giả thuyết này được kiểm định đúng, không nhất thiết phải giảm đầu tư
công, bởi những ngoại ứng tích cực là cần thiết cho khu vực tư nhân và
theo đó là cho tăng trưởng.
Đầu tư công
Trên thế giới, khái niệm đầu tư công hay còn gọi là đầu tư của nhà
nước hoặc là đầu tư công cộng gắn liền với hoạt động chi tiêu của chính
phủ. Tuy nhiên, tùy theo quan niệm của từng quốc gia mà khái niệm đầu
tư công có thể có những khác biệt nhất định. Nhìn chung, khác biệt chủ
yếu là đầu tư công có thể bao gồm các dự án cho các mục đích kinh
doanh thông qua khu vực DNNN hoặc các dự án chỉ thuần tùy mục đích
công ích.
Ví dụ, ở Úc, đầu tư công bao gồm xây dựng cơ bản hạ tầng thiết
yếu đường bộ, đường sắt, nhà ở, hệ thống giáo dục và hỗ trợ tài chính
cho quỹ hưu trí, người lao động, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ như miễn thuế
thu nhập doanh nghiệp trong ngắn hạn, các dự án đào tạo,... Đối với
nước Áo, đầu tư công gồm cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các chương trình đầu tư
bằng các biện pháp về thuế và các chương trình việc làm mang tính vùng
miền. Một số quốc gia như Canada đầu tư công gồm đầu tư vào đường,
cầu và giao thông công cộng, hệ thống nước sạch và chăm sóc y tế, đầu
tư và nâng cấp nhà xã hội, hỗ trợ người mua nhà, giảm thuế thu nhập cá
nhân và thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ các thành phần kinh tế và cộng
đồng dễ ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế như nông nghiệp, công
xanh và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, phát triển bền vững.
Theo Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2009), căn cứ theo tính
chất kinh tế, đầu tư công là một phần của chi tiêu công, là nhóm chi gắn
19
liền với chức năng kinh tế của nhà nước như chi xây dựng các công trình
thuộc kết cấu hạ tầng - xã hội. Năm 2014, Luật Đầu tư công được Quốc
hội thông qua, đưa ra định nghĩa về đầu tư công là hoạt động đầu tư của
nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, có thể thấy, có nhiều khái niệm về đầu tư công khác
nhau và cũng có nhiều khác biệt nhất định tùy theo quan điểm của từng
quốc gia. Tuy nhiên, tựu chung lại, một cách khái quát nhất, có thể hiểu
đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự
án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương
trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu đầu tư vào các
lĩnh vực phục vụ lợi ích chung.
2.1.3 Nguồn vốn đầu tư công
Theo Trần Văn (2012), vốn đầu tư là tiền đề cơ bản trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Cũng theo tác giả, về
nguồn vốn đầu tư công, nguồn vốn tài trợ cho đầu tư công không chỉ từ
nguồn ngân sách của chính phủ mà còn của chính quyền địa phương, đầu
tư từ nguồn trái phiếu chính phủ, tín dụng đầu tư qua kênh ngân hàng
phát triển, và kể cả đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, ở
Việt Nam, nguồn vốn chủ yếu tài trợ đầu tư vẫn là vốn ngân sách nhà
nước.
Tương tự, Luật Đầu tư công năm 2014 cũng quy định rõ, nguồn
vốn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư công bao gồm vốn ngân sách nhà
nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu
2012). ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém
phát triển được các cơ quan chính thức và cơ quan thừa hành của chính
phủ hoặc các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ.
2.1.4 Đối tượng đầu tư công
Đối tượng của đầu tư công ở hầu hết các nước đều là các chương
21
trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội,
môi trường, quốc phòng, an ninh; chương trình mục tiêu, dự án phục vụ
hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định
bằng vốn sự nghiệp; các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức
chính trị - xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước; chương
trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ.
Theo đó, đầu tư công ở Việt Nam hiện diện ở hầu khắp các lĩnh vực
của nền kinh tế, từ, giáo dục - đào tạo, y tế đến phát triển cơ sở hạ tầng,
truyền thông. các lĩnh vực đầu tư công bao gồm: (i) Đầu tư các chương
trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; (ii) Đầu tư phục vụ hoạt
động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội ở trong nước và ở nước ngoài; (iii) Đầu tư và hỗ
trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích; (iv) Đầu tư bằng vốn
đầu tư công trong phần Nhà nước tham gia thực hiện các dự án theo hình
thức đối tác công tư (Luật Đầu tư công 2014).
Có thể nói, trong nền kinh tế thị trường, vốn đầu tư của nhà nước
hiện diện ở nhiều lĩnh vực kinh tế và chiếm một vị trí quan trọng, tuy
nhiên, tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước trong tổng vốn đầu tư xã hội ở hầu
hết các lĩnh vực đều đang có xu hướng giảm.
2.1.5 Đặc điểm của đầu tư công
trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển các thành phần kinh tế, thu hút
đầu tư trong nước và nước ngoài và tạo động lực, cú hích cho sự tăng
trưởng.
- Quy mô và cơ cấu chi đầu tư công của ngân sách nhà nước phụ thuộc
vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước trong từng thời
kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, quy mô
23
đầu tư công chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tư xã hội. Do khu vực
kinh tế tư nhân còn yếu, chính sách thu hút vốn đầu tư chưa hoàn thiện
nên đầu tư từ ngân sách nhà nước đã tạo đà cho tiến trình công nghiệp
hóa.
Đi đôi với sự gia tăng quy mô, cơ cấu chi đầu tư cũng rất đa dạng
để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra, như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương
trình mục tiêu kinh tế - xã hội,… Quy mô chi đầu tư công của nhà nước
sẽ giảm dần theo mức độ thành công của chiến lược công nghiệp hóa và
mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Khi đó chi đầu tư phát
triển của nhà nước chủ yếu hỗ trợ các chương trình mục tiêu của quốc
gia như an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo nhằm đạt tới sự ổn định
của kinh tế vĩ mô và các khoản chi cho vay chỉ định, chi thực hiện
chương trình mục tiêu kinh tế xã hội sẽ được cắt giảm.
- Chi đầu tư công phải gắn chặt với chi thường xuyên nhằm nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư.
Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên
sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở
hạ tầng. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu
cho các nguồn đầu tư khác vào trong nước góp phần tăng trưởng kinh tế.
Đầu tư công góp phần giải quyết việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất
nghiệp, tạo việc làm và thu nhập cho toàn xã hội.
2.1.7 Hiệu quả đầu tư công
Với nguồn lực có hạn, không chỉ quan tâm đến số lượng, việc
đánh giá hiệu quả chi tiêu công nói chung và đầu tư công nói riêng là
điều cần thiết, tạo cơ sở để điều chỉnh quy mô và cơ cấu chi tiêu công,
đầu tư công hợp lý, hiệu quả, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế.
Theo Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2009), để đánh giá chi tiêu
25
công, đầu tư công cần phân tích trên hai khía cạnh là định tính và hiệu
quả. Trong đó, mặt định tính là lựa chọn những loại hàng hóa công mà
chính phủ nên cung cấp cho xã hội và mặt định lượng là xem xét chi phí
bỏ ra để cung cấp hàng hóa công và lợi ích mà hàng hóa công mang lại.
Theo đó, xét về hiệu quả kinh tế, vốn đầu tư công nói riêng và
hiệu quả đầu tư nói chung biểu hiện mối tương quan so sánh giữa các lợi
ích thu được với khối lượng vốn đầu tư đã bỏ ra nhằm thu được các lợi
ích đó.
Với cùng mức vốn bỏ ra, khoản đầu tư nào đem lại lợi ích lớn hơn
thì hiệu quả lớn hơn và ngược lại, với cùng lợi ích thu được thì khoản
đầu tư nào được thực hiện với số vốn thấp hơn thì có hiệu quả cao hơn.
- Hiệu quả tổng thể: là hiệu quả được xem xét trên phạm vi một
ngành, một địa phương hay trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
- Hiệu quả tài chính của các dự án: là hiệu quả được xem xét cho
từng dự án đầu tư.
Chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nói chung và vốn đầu
tư công nói riêng phổ biến hiện nay là chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu