BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
DƯƠNG VÂN ANH
PHÒNG NGỪA CÁC TỘI PHẠM VỀ CỜ BẠC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và điều tra tội phạm
Mã số: 60 38 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN NGỌC HÒA
HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
DƯƠNG VÂN ANH
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ....................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu.............................................................................. 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ........................................... 2
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ...................................... 3
5. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn .......................................... 3
6. Kết cấu của luận văn............................................................................... 4
Chương 1: TÌNH HÌNH CÁC TỘI PHẠM VỀ CỜ BẠC TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN 2006 – 2011 ............................ 5
1. 1. Thực trạng các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh
trong thời gian 2006 – 2011 ........................................................................ 5
1.2. Diễn biến của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh
trong thời gian 2006 – 2011 ........................................................................ 9
1.3. Cơ cấu của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh
trong thời gian 2006 – 2011 ...................................................................... 16
1.3.1. Cơ cấu theo tội danh ................................................................... 16
1.3.2. Cơ cấu theo loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm
trọng ..................................................................................................... 17
1.3.3. Cơ cấu theo loại hình phạt và mức hình phạt tù được áp dụng .... 17
1.3.4. Cơ cấu theo hình thức đánh bạc .................................................. 19
1.3.5. Cơ cấu theo quy mô thực hiện tội phạm ...................................... 20
1.3.6. Cơ cấu theo tính chất tổ chức thực hiện tội phạm........................ 21
1.3.7. Cơ cấu theo địa bàn xảy ra tội phạm ........................................... 22
KẾT LUẬN ................................................................................................ 652
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Là một trọng điểm của vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, cửa ngõ quan
trọng của hành lang kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, có hệ thống
cảng biển nước sâu và hệ thống cửa khẩu phân bố dọc tuyến biên giới với
Trung Quốc cùng với một trữ lượng tài nguyên, thiên nhiên phong phú,
Quảng Ninh hội tụ tất cả những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã
hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong những năm
gần đây, với sự thu hút vốn đầu tư lớn từ các nhà đầu tư trong nước và nước
ngoài, Quảng Ninh phát triển mạnh mẽ về công nghiệp, dịch vụ, xếp thứ 5 cả
nước về thu ngân sách nhà nước năm 2010 và có chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh đứng thứ 7 ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 của
Quảng Ninh là 12,1%, một mức tăng trưởng cao so với bình quân cả nước và
so với các Tỉnh, Thành phố trong khu vực như Thành phố Hà Nội, Thành phố
Hải Phòng, Tỉnh Vĩnh Phúc, Tỉnh Hải Dương... Với sự phát triển trên, Quảng
Ninh đã thu hút khá nhiều lao động ngoại tỉnh.
Bên cạnh sự phát triển về kinh tế – xã hội thì Quảng Ninh cũng là Tỉnh
có tỉ lệ tội phạm cao trong cả nước. Đặc biệt là những tội phạm liên quan tới
các tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn cờ bạc.
Tệ nạn cờ bạc nói chung và các tội phạm về cờ bạc nói riêng là những
hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển của nền
kinh tế mà còn ảnh hưởng tới an toàn công cộng (ATCC), trật tự công cộng
(TTCC). Cờ bạc cũng là một trong những nguyên nhân của các tội phạm khác
phạm học). Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Phòng ngừa các tội phạm
về cờ bạc trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh” là không trùng với bất kì một công
trình nào đã có ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
a) Mục đích nghiên cứu
Đề xuất hệ thống các biện pháp phòng ngừa các tội phạm về cờ bạc trên
địa bàn Tỉnh Quảng Ninh.
3
b) Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên luận văn có những nhiệm vụ cụ
thể sau:
+ Đánh giá thực trạng, diễn biến, cơ cấu và tính chất của các tội phạm
về cờ bạc xảy ra trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh trong thời gian 2006 – 2011;
+ Giải thích nguyên nhân của các tội phạm này;
+ Dự báo tình hình các tội phạm về cờ bạc trong thời gian tới tại Tỉnh
Quảng Ninh và
+ Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa các tội phạm
này.
c) Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học các tội phạm về cờ bạc
trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh trong khoảng thời gian 6 năm (2006 – 2011).
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp
khác nhau như phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp
phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chọn mẫu...
Để thấy rõ được thực trạng của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn
Tỉnh Quảng Ninh trong thời gian 2006 – 2011chúng ta có thể khảo sát qua các
bảng thống kê sau:
Bảng 1: Thống kê số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm của Tòa án
các cấp ở Tỉnh Quảng Ninh trong 6 năm (2006 – 2011):
Các tội phạm về cờ bạc
Năm
Số vụ
Số bị cáo
2006
32
171
2007
41
174
2008
45
338
2009
6
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy số vụ xét xử về các tội
phạm về cờ bạc ở Tỉnh Quảng Ninh là không nhiều, nhưng số bị cáo bị xét xử
lại khá đông. Tổng 6 năm (2006 – 2011) là 209 vụ với 1173 bị cáo bị xét xử.
Cao nhất trong 6 năm là năm 2008 với 45 vụ và 338 bị cáo và thấp nhất là
năm 2010 với số vụ chỉ là 18 vụ và 65 bị cáo. Trung bình mỗi năm có hơn
34,8 vụ và 195,5 bị cáo bị xét xử, mỗi tháng có hơn 2,9 vụ và xấp xỉ khoảng
16,3 bị cáo bị đưa ra xét xử. So sánh với hai Tỉnh khác cùng khu vực trung
du, miền núi phía bắc là Tỉnh Lạng Sơn và Tỉnh Thái Nguyên thì Tỉnh Quảng
Ninh có số vụ án xét xử nhiều hơn gần gấp ba Tỉnh Lạng Sơn (trong 6 năm
Tỉnh Lạng Sơn xét xử 81 vụ với 593 bị cáo, trung bình 13,5 vụ/năm và 98,8 bị
cáo/năm (1)); nhưng lại ít hơn rất nhiều so với Tỉnh Thái Nguyên (trong 6 năm
Tỉnh Thái Nguyên xét xử 319 vụ với 1566 bị cáo, trung bình 53,2 vụ/năm và
261 bị cáo/năm (2)).
Bảng 2: So sánh số vụ và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về các tội phạm
về cờ bạc so với nhóm tội xâm phạm ATCC, TTCC và với tội phạm nói
chung:
1
2
Nguồn: Phòng thống kê VKSND tỉnh Lạng Sơn.
Nguồn: Phòng thống kê VKSND tỉnh Thái Nguyên.
7
Các tội
phạm về cờ
vụ
cáo
Số vụ
So với nhóm
So với tội
Số bị
tội XP ATCC,
phạm nói
cáo
TTCC
chung
2/4
3/5
2/6
3/7
450
1526
2417
12,5%
38%
2,1%
7,1%
2007
41
174
247
435
1425
2387
16,6%
38
193
208
444
1457
2654
18,3%
43,5%
2,6%
7,3%
2010
18
65
210
331
2,2%
8,3%
Tổng
209
1173
1386
2720
8762
14990
15,1%
43,1%
2,4%
7,8%
Nguồn: Phòng thống kê tội phạm VKSND Tỉnh Quảng Ninh
Trong 54 Điều luật thuộc nhóm tội xâm phạm ATCC, TTCC thì các tội
phạm về cờ bạc chỉ quy định ở 2 Điều luật với các tội danh (Tội đánh bạc, tội
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Số vụ/100.000 dân
2,9
3,6
4,0
3,3
1,6
3,0
Số bị cáo/100.000 dân
15,4
tương quan với thực trạng của các tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm ATCC,
TTCC cũng như của tội phạm nói chung trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh và với
thực trạng của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn một số Tỉnh khác.
1.2. Diễn biến của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh
trong thời gian 2006 – 2011
Để xem xét diễn biến của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn Tỉnh
Quảng Ninh, tác giả lấy năm 2006 làm năm gốc và coi là 100% để xác định
mức độ tăng, giảm hàng năm của loại tội phạm này trong những năm tiếp
theo.
Bảng 4: Mức độ tăng, giảm hàng năm của các tội phạm về cờ bạc trên
địa bàn Tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011:
Năm
Các tội phạm về cờ bạc
Mức độ gia tăng hàng năm (%)
(Lấy năm 2006 làm mốc)
Số vụ
Số bị cáo
Số vụ
Số bị cáo
2006
32
193
118,8%
112,9%
2010
18
65
56,3%
38,0%
2011
35
232
109,4%
135,7%
Nguồn: Phòng thống kê VKSND Tỉnh Quảng Ninh
Năm 2008 so với năm 2007 tăng 4 vụ (tăng 9,8%) nhưng lại tăng mạnh
về số bị cáo bị xét xử: 164 bị cáo (tăng 94,3%).
Tới năm 2009 thì xu hướng lại giảm so với năm 2008 là 7 vụ (giảm
29,6%) với 145 bị cáo (giảm 42,9%).
Năm 2010 tiếp tục giảm so với năm 2009 là 20 vụ (giảm 52,6%) với
128 bị cáo (giảm 66,3%).
Năm 2011 lại tăng đột biến so với năm 2010, tăng 17 vụ (tăng 94,4%)
với 167 bị cáo (tăng 256,9%)
Để nhìn nhận rõ hơn về diễn biến của các tội phạm về cờ bạc trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh chúng ta tiến hành so sánh với diễn biến của nhóm tội
phạm xâm phạm ATCC, TTCC và của tội phạm nói chung trên địa bàn Tỉnh
Quảng Ninh.
Biểu đồ 3: Số vụ xét xử sơ thẩm về các tội phạm về cờ bạc, về nhóm
tội xâm phạm ATCC, TTCC và về tội phạm nói chung trên địa bàn Tỉnh
Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011:
12
Biểu đồ 4: Số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về các tội phạm về cờ bạc, về
nhóm tội xâm phạm ATCC, TTCC và về các tội phạm nói chung trên địa bàn
Tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011
Nhìn vào bảng 2 và biểu đồ 3 ta thấy sự biến động về số vụ phạm các
tội phạm về cờ bạc với số vụ phạm tội thuộc nhóm tội xâm phạm ATCC,
TTCC và so với số vụ phạm tội nói chung có sự biến động không giống nhau.
Giai đoạn năm 2006 – 2007, khi mà số vụ phạm tội nói chung và số vụ phạm
tội thuộc nhóm tội xâm phạm ATCC, TTCC có xu hướng giảm thì số vụ
phạm các tội phạm về cờ bạc lại có xu hướng tăng; giai đoạn 2007 – 2008, khi
số vụ phạm các tội phạm về cờ bạc tiếp tục có xu hướng tăng cùng với số vụ
TTCC lại có xu hướng giảm). Nhưng sự khác biệt này có thể xem là không
lớn lắm. Điều đó cho thấy sự tăng, giảm số bị cáo bị xét xử về các tội phạm
về cờ bạc cũng là xu hướng chung của các tội xâm phạm ATCC, TTCC.
Quá trình xem xét thực trạng các tội phạm về cờ bạc trên đây là quá
trình xem xét thực trạng của tội phạm rõ được xác định qua các số liệu thống
kê hình sự. Trên thực tế, để phản ánh được chính xác thực trạng của các tội
phạm về cờ bạc đòi hỏi ngoài số tội phạm rõ, phải tính đến cả số tội phạm ẩn.
Qua sự nghiên cứu và khảo sát thực tế, tác giả nhận thấy loại tội phạm
này có số lượng tội phạm ẩn là rất lớn, số tội phạm rõ được phát hiện và xử lý
chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số tội phạm xảy ra trên thực tế. Sở dĩ có
thể đưa ra được nhận định trên là do tác giả thấy rằng việc đánh bạc của các bị
14
cáo đều đã thực hiện lặp đi lặp lại trong một thời gian dài mới bị phát hiện.
Trong thời gian chưa bị phát hiện trên thì số vụ phạm tội và số người phạm tội
vẫn được coi là tội phạm ẩn.
Ngoài ra, qua quan sát và tìm hiểu hoạt động của loại tội phạm này trên
khu vực một phường tại Thành phố Hạ Long trong thời gian một tháng tác giả
nhận thấy: Có ít nhất 3 vụ phạm tội cờ bạc có tổ chức/ ngày xảy ra dưới các
hình thức xóc đĩa, chắn, ba cây, liêng,... (với số lượng người dao động trong
khoảng trên dưới 10 người tại một tụ điểm, đặc biệt với tụ điểm xóc đĩa thì số
lượng người có thể lên tới trên 20 người) và một số vụ đánh bạc tự phát xảy ra
nhỏ lẻ hàng ngày tại các địa điểm khác nhau. Riêng đối với hình thức lô đề,
tác giả có đi khảo sát dọc khu vực phường này thì nhận thấy có khoảng trên
10 địa điểm nhận ghi số lô, đề (khoảng trên 10 bảng đề tại những nơi dễ nhìn
thấy) và tác giả có đi phỏng vấn một số chủ bảng thì được biết tỉ lệ ăn chia
giữa chủ bảng và chủ đề là 25%/75% (trước đây tỉ lệ này là 20%/80%), mỗi
ngày chủ bảng có thể nhận được tiền hoa hồng ít nhất là 200.000 đồng tới trên
Hơn thế nữa, một bộ phận người có thẩm quyền do bị thoái hóa, biến
chất nên đã có hành vi tham ô, nhận hối lộ hoặc do quan hệ quen biết với
người phạm tội hoặc gia đình họ mà có thái độ bao che, bỏ qua cho người
phạm tội.
Thứ tư, không thể không nhắc tới nguyên nhân từ phía những người
phạm tội, những người này thường có sự đề phòng đối với cơ quan chức năng
nên họ thường chọn những nơi kín đáo, vắng vẻ, ít người qua lại, dễ lẩn trốn
hoặc dùng các thủ đoạn khác để qua mắt cơ quan chức năng. Đặc biệt, đối với
hành vi đánh bạc có tổ chức (thường dưới hình thức xóc đĩa) còn có sự cắt cử
người canh giữ xung quanh khu vực đánh bạc có thể kịp thời thông báo nếu
phát hiện có cơ quan Công an đến điều tra, xử lý.
Từ những lý do đó, khi nghiên cứu về thực trạng các tội phạm về cờ
bạc trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh trong những năm gần đây thông qua các số
liệu nêu trên, chúng ta còn cần phải tính đến phần tội phạm ẩn ở mức đáng kể
của chúng.
16
1.3. Cơ cấu của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh
trong thời gian 2006 – 2011
Cơ cấu tội phạm thể hiện rõ nội dung bên trong của tội phạm cũng như
tạo cơ sở cho việc xem xét nguyên nhân của tội phạm [7; 224]
1.3.1. Cơ cấu theo tội danh
Trong thời gian 6 năm (2006 – 2011) tòa án các cấp trên địa bàn Tỉnh
Quảng Ninh đã xét xử 209 vụ với 1173 bị cáo phạm các tội phạm về cờ bạc.
Trong số 209 vụ án bị đưa ra xét xử có tới 195 vụ đánh bạc (chiếm 93,3%)
với 990 bị cáo (chiếm 84,4%), chỉ có 14 vụ tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
(chiếm 6,7%) với 183 bị cáo (chiếm 15,6%).
qua cơ cấu về loại hình phạt được áp dụng cũng cho thấy được phần nào thái
độ của Nhà nước đối với các hành vi phạm tội này.
Bảng 5: Thống kê loại hình phạt và mức hình phạt tù được áp dụng đối
với bị cáo phạm các tội phạm về cờ bạc:
18
Tổng số
bị cáo bị
xét xử
Phạt
không
tiền
giam
Tù từ 3 năm
giữ
trở xuống
2006
171
Cải tạo
2
Tù trên 3
Tù trên 7
năm – 7
năm – 15
năm
năm
163
6
169
5
320
16
6
2
100%
0,85%
0,85%
94,55%
3,58%
0,17%
1
Nguồn: Phòng thống kê VKSND Tỉnh Quảng Ninh
Biểu đồ 7: Cơ cấu về loại hình phạt và mức hình phạt tù được áp dụng:
Qua bảng thống kê và biểu đồ cho thấy loại hình phạt được áp dụng đối
với các bị cáo phạm các tội phạm về cờ bạc chủ yếu là phạt tù (chiếm tới
98,3%). Trong đó, hình phạt tù từ 3 năm trở xuống chiếm tới 94,55%; hình
phạt tù từ trên 3 năm tới 7 năm chiếm 3,58%; hình phạt tù từ trên 7 năm tới
19
15 năm chỉ chiếm 0,17%. Ngoài ra, trong số 1109 bị cáo bị phạt tù từ 3 năm
trở xuống thì có tới 809 bị cáo bị phạt tù cho hưởng án treo (chiếm tới 72,95%
20
cây (chiếm 18% về số vụ). Như vậy, chỉ riêng 3 hình thức này đã chiếm tới
89% trong tổng số vụ phạm tội. Còn lại 11% là các hình thức đánh bạc khác
như: chắn, liêng, tú lơ khơ, đánh bạc qua máy trò chơi...
Biểu đồ 8: Cơ cấu theo hình thức đánh bạc
(Nguồn: 100 bản án về các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh)
1.3.5. Cơ cấu theo quy mô thực hiện tội phạm
Các vụ cờ bạc trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh có quy mô rất đa dạng. Có
vụ chỉ có quy mô nhỏ, số lượng người tham gia ít, nhưng cũng có vụ có quy
mô lớn với số lượng người tham gia đông.
Qua khảo sát 100 bản án tác giả nhận thấy có tới 61% số vụ phạm tội
được thực hiện với quy mô vừa và nhỏ (dưới 10 người), chỉ có 39% số vụ
phạm tội được thực hiện với quy mô lớn (từ 10 người đánh bạc tham gia trở
lên). Nhưng lại có những vụ có tới 30 đến 50, thậm chí tới hàng trăm người
tham gia. Tuy nhiên, số người bị bắt và xét xử trong các vụ án này chỉ chiếm
khoảng 20% đến 30%.
Biểu đồ 9: Quy mô thực hiện tội phạm xác định theo số lượng người
tham gia: