BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Dƣơng Thị Ngọc Giàu
BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 2
TRONG GIỜ KỂ CHUYỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Dƣơng Thị Ngọc Giàu
BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 2
TRONG GIỜ KỂ CHUYỆN
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục tiểu học)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn Đỗ Thị Mỹ Lệ, Đoàn Văn Hiếu
cùng tập thể lớp Cao học Giáo dục TH, khoá 26 trường ĐHSPTPHCM- TG đã động
viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
TP.HCM, ngày tháng năm 2017
Người viết
Dương Thị Ngọc Giàu
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 2 QUA GIỜ KỂ CHUYỆN .... 10
1.1. Một số khái niệm công cụ ...................................................................................... 10
1.2. Lý thuyết hội thoại và hoạt động giao tiếp ............................................................. 12
1.2.1. Khái niệm về hội thoại .................................................................................... 13
1.2.2. Các loại hội thoại ............................................................................................ 13
1.2.3. Các nhân tố hội thoại bao gồm ........................................................................ 14
1.2.4. Hoạt động giao tiếp ......................................................................................... 14
1.3. Đặc điểm tâm lí nhận thức, ngôn ngữ của học sinh lớp 2 ...................................... 15
1.3.1. Đặc điểm về tâm lí nhận thức ......................................................................... 15
1.3.2. Đặc điểm về ngôn ngữ .................................................................................... 16
1.4. Giáo dục và phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho học sinh lớp 2 ............................... 16
1.4.1. Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh tiểu học ............ 16
3.3.1. Nhóm bài tập rèn luyện năng lực quan sát, năng lực lắng nghe qua kiểu
bài tập nhận diện cấu trúc bài Kể chuyện ...................................................... 38
3.3.2. Nhóm bài tập rèn luyện năng lực phản hồi thông tin, năng lực tạo lập
mối quan hệ qua kiểu bài nhận diện các nhân tố giao tiếp ............................. 41
3.3.3. Nhóm bài tập rèn luyện năng lực chia sẻ thông tin, năng lực giải quyết
mâu thuẫn qua kiểu bài khắc phục lỗi sai ...................................................... 43
3.3.4. Nhóm bài tập tích hợp rèn luyện các năng lực giao tiếp qua kiểu bài tập
vận dụng ......................................................................................................... 46
3.4. Phạm vi sử dụng bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp qua giờ
Kể chuyện ............................................................................................................. 49
3.4.1. Trong giờ học chính khóa ............................................................................... 49
3.4.2. Trong hoạt động ngoại khóa về kể chuyện cho HSTH ................................... 49
3.5. Tài liệu, phương tiện dạy học trong giờ Kể chuyện ............................................... 50
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................................ 51
Chƣơng 4. THỰC NGHIỆM BÀI TẬP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 2 QUA GIỜ KỂ
CHUYỆN ................................................................................................ 52
4.1. Chọn mẫu thực nghiệm .......................................................................................... 52
4.1.1. Cách thức chọn đối tượng thực nghiệm .......................................................... 52
4.1.2. Mô tả mẫu ....................................................................................................... 52
4.2. Công cụ khảo sát và đánh giá: ................................................................................ 52
4.3. Tổ chức thực nghiệm .............................................................................................. 53
4.3.1. Nguyên tắc thực nghiệm ................................................................................. 53
4.3.2. Phương pháp thực nghiệm .............................................................................. 54
4.3.3. Quy trình thực nghiệm .................................................................................... 54
4.4. Kết quả thực nghiệm và phân tích kết quả ............................................................. 54
4.4.1. Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm qua bài làm của học sinh ............. 54
4.4.2. Khảo sát ý kiến sau thực nghiệm .................................................................... 58
Sở Giáo dục và Đào tạo
SGK
Sách giáo khoa
Giáo dục PT
Giáo dục phổ thông
Giáo dục TH
Giáo dục Tiểu học
GV
Giáo viên
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
HS
Học sinh
TH
Tiểu học
Bảng 2.3.
Nhận thức của học sinh lớp 2 về các phân môn của Tiếng Việt ................ 25
Bảng 2.4.
Lý do yêu thích học các môn học của HS lớp 2 ........................................ 26
Bảng 2.5.
Nhận thức của học sinh lớp 2 về các năng lực giao tiếp............................ 26
Bảng 2.6.
Phương pháp giảng dạy mà giáo viên thường sự dụng nhằm phát
triển năng lực giao tiếp của học sinh ......................................................... 30
Bảng 2.7.
Biểu hiện của học sinh về năng lực giao tiếp ............................................ 33
Bảng 4.1.
Kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm qua
phiếu bài tập 1 ............................................................................................ 54
Bảng 4.2.
Kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm qua
phiếu bài tập 2 ............................................................................................ 56
Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm qua 2 lần thực nghiệm ................................................................... 57
Hình 4.4.
Biểu đồ thể hiện ý kiến của Ban giám hiệu và GV về dạy học có sử
dụng bài tập phát triển năng lực giao tiếp .................................................. 59
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2
qua giờ Kể chuyện
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, sự tiếp xúc giữa người và người, là
hoạt động hình thành, phát triển và vận hành các quan hệ người với người thông qua
giao tiếp cá nhân gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, tiếp thu nền văn hoá xã hội lịch
sử, biến nó thành cái riêng của mình, đồng thời cũng góp phần vào sự phát triển văn
hoá chung. Xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật càng hiện đại càng ảnh hưởng đến
hành vi, sự suy nghĩ và cuộc sống con người nên mối quan hệ giữa con người với con
người càng được quan tâm, vì thế giao tiếp được xem là vấn đề thời sự trong nhiều lĩnh
vực, nhất là những lĩnh vực làm việc trực tiếp với con người như Giáo dục, dạy học,
ngoại giao… Ngày nay giao tiếp là phương tiện để con người hợp tác cùng nhau,
hướng tới mục đích bình đẳng, hạnh phúc. Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu quan trọng của
con người. Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống con người.
Khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại là ngữ dụng học và lí thuyết về
năng lực giao tiếp ngôn ngữ cùng với một số lí thuyết về học tập đã góp phần phát
triển trào lưu dạy tiếng theo cách tiếp cận giao tiếp trên thế giới. Tiếng Việt cũng là
một ngôn ngữ với chức năng chủ yếu là giao tiếp. Do đó, nguyên tắc hướng vào hoạt
động giao tiếp được xem là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quá trình dạy học
được nhiều nhà Giáo dục quan tâm.
Nước ngoài bàn gì về vấn đề này, tác giả V.I Ca-pi-nox đã chú ý đến lí thuyết
hoạt động trong lĩnh vực tâm lí học có tác động cơ bản tới sự hình thành và phát triển
lời nói của HS [50, tr. 10]. Từ đó, các tác giả đã đưa ra kết luận: Hoạt động nói cần
được đặt trong hoạt động giao tiếp.
Từ quan điểm trên, nhìn từ phương diện dạy học, cuốn sách “Curriculum
Guidance for the Foundation Stage” đã đặt sự phát triển ngôn ngữ và năng lực sử
dụng ngôn ngữ trong giao tiếp làm trung tâm trong hoạt động học tập của HS [50].
Ở khía cạnh khác, tác giả người Úc Jonh Munro trong cuốn Teaching oral
language (xuất bản đầu tiên năm 2011) không chỉ đưa ra những căn cứ xác định tầm
quan trọng của kĩ năng nghe – nói mà còn đề cập đến vấn đề trọng tâm của ngôn ngữ
trong giao tiếp ở những năm đầu bật TH thông qua mô hình có tên gọi ICPALER [50].
Ở Việt Nam theo quan điểm giao tiếp, dạy học tiếng Việt ở TH nói riêng và phổ
thông nói chung là quá trình hình thành năng lực bằng tiếng Việt cho người học, hơn
3
là quá trình nắm vững kiến thức ngôn ngữ đó.
Quan điểm trên đã được khẳng định ở nước ta từ thập kỉ 1980. “Mục đích cơ bản
của việc giảng dạy và Giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường (trước hết là nhà trường
phổ thông) là nhằm tạo ra được một trình độ phát triển nhất định của HS về mặt ngôn
ngữ, thể hiện ở năng lực nghe, nói, đọc, viết đúng là tốt tiếng Việt văn hóa, tiến tới
năng lực sử dụng chính xác và thành thạo tiếng nói đó trong học tập, công tác, trong
mọi mặt hoạt động của đời sống” [19].
Qua khảo sát tài liệu và thực trạng dạy học Tiếng Việt hiện nay, nhiều nhà
nghiên cứu có chung kết luận thống nhất đang tồn tại trình trạng học lí thuyết Việt ngữ
học để nắm vững kiến thức về đặc điểm cấu trúc của tiếng Việt hơn là nắm vững kiến
thức về quy tắc sử dụng tiếng Việt và trau dồi năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS [5].
Năng lực giao tiếp là năng lực sử dụng ngôn ngữ thích hợp với các tình huống
giao tiếp khác nhau. Năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ không đơn thuần là kiến thức
Kể chuyện là một trong những phân môn của dạy học Tiếng Việt có vị trí đặc
biệt trong dạy học tiếng mẹ đẻ, trước hết vì hành động “kể” là một hành động „nói”
đặc biệt trong hoạt động giao tiếp. Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp các kĩ năng
tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoạt động giao tiếp. Khi kể lại câu chuyện, HS cố
gắng sử dụng những từ, câu có hình tượng học từ các tác phẩm nghệ thuật.
Các em thể hiện suy nghĩ của mình một cách chặt chẽ, tuần tự, chính xác và có hình
ảnh [15, tr.8-9].
Tất cả các sách văn học về Kể chuyện trong nhà trường nói chung và dạy Kể
chuyện ở trường TH nói riêng điều đề cập đến việc Kể chuyện cho HS. Chẳng hạn như
quyển: “Sơ thảo nguyên lý văn học” của Nguyễn Lương Ngọc, các bộ sách lý luận văn
học của trường Đại học sư phạm và trường Đại học Tổng hợp thập kỉ 60. Tuy nhiên,
các giáo trình trên chỉ nói đến ngôi kể khi phân tích phương thức tự sự của văn học
trong đó có việc Kể chuyện bằng lời của nhân vật.
Kể chuyện là một trong những phân môn quan trọng ở TH. Vì vậy, phân môn Kể
chuyện đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Trong số đó, nổi bật nhất phải nói
đến tác giả Chu Huy với cuốn “Dạy Kể chuyện ở trường TH”, Nhà xuất bản Giáo dục,
2000 [33].
Tác giả Chu Huy đã đưa ra ý kiến của mình về Kể chuyện như sau:
Khi ở vị trí một thuật ngữ, Kể chuyện bao hàm bốn phạm trù ngữ nghĩa sau:
5
a. Chỉ lại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình, loại hình hài
kịch) – còn gọi là truyện hoặc tiểu thuyết.
b. Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giảng.
c. Chỉ tên một loại văn thuật chuyện trong phân môn Tập làm văn.
d. Chỉ tên một phân môn học ở các lớp trong trường TH.
Ở phạm trù ngữ nghĩa (b) Kể chuyện là một phương pháp trực quan sinh động
bằng lời nói. Khi cần thay đổi hình thức diễn giảng nhằm thu hút sự chú ý của người
dùng xen kẽ phương pháp Kể chuyện [33].
có giá trị của Việt Nam và thế giới, từ truyện cổ tích đến truyện hiện đại. Nhờ đó, vốn
văn học của HS được tích lũy dần. Đây là những hành trang quý sẽ theo các em trong
suốt cuộc đời mình. Giờ kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khêu gợi trí tưởng
tượng cho các em. Qua từng câu chuyện, thế giới muôn sắc màu mở rộng trước các
em. Các em tìm thấy ở trong truyện từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, từ
những thân phận và biết bao hành động nghĩa hiệp của con người trong muôn vàn
trường hợp khác nhau. Truyện kể đã làm tăng vốn hiểu biết về thế giới và xã hội loài
người xưa và nay cho HS. Truyện kể còn chắp cánh cho trí tượng tượng và ước mơ
của HS, thúc đẩy sự sáng tạo ở các em [70].
Hiện nay, chương trình TH mới, phân môn Kể chuyện được giảng dạy theo
phương pháp mới, ở đó HS được chủ động Kể chuyện dưới sự hướng dẫn của GV chứ
không thụ động nghe, ghi nhớ và kể lại như trước nữa [23, tr.9].
Với phương pháp này, GV trở về đúng vị trí chủ đạo của mình và HS thực sự là
người tự giác, tích cực và tự lực trong học tập. Tuy nhiên phương pháp mới này chỉ
được thực hiện đại trà trong nhiều năm gần đây, nó còn khá mới mẻ. Do đó, các công
trình nghiên cứu còn chưa nhiều. Đề cập đến việc rèn kỹ năng nói qua môn Kể chuyện
cho HS, tác giả Nguyễn Minh Thuyết [61] đã nêu lên các mức độ của Kể chuyện bằng
lời của nhân vật. Song do giới hạn của cuốn sách nên tác giả chỉ mới nói được cái
chung mà chưa đi vào cụ thể từng biện pháp.
Nhìn chung, mỗi nghiên cứu trên đây điều nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau
đều có giá trị và bổ ích đối với GVTH. Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên đây là
tiền đề cơ sở, sự gợi ý cho nhiều vấn đề trong dạy học Kể chuyện được nghiên cứu
trong đề tài, việc đề xuất các biện pháp để khắc phục tình trạng trên cũng được đưa ra.
Tuy nhiên ta thấy đa số việc áp dụng phát triển năng lực giao tiếp trong giờ Kể chuyện
chưa thực sự được đi sâu nghiên cứu, giải pháp xây dựng bài tập rèn kĩ năng giao tiếp
7
trong giờ Kể chuyện chưa đề cập hay chỉ đề cập đến mà chưa phân tích chuyên sâu. Từ
đó khẳng định tính cấp thiết vấn đề bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho HS
8
trình lớp 2 năm học 2016 – 2017.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu trong phân môn Kể chuyện có bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp
phù hợp và phương pháp sử dụng hệ thống bài tập đó một cách hợp lí thì sẽ góp phần
vào việc phát triển năng lực giao tiếp nói riêng, và năng lực sử dụng tiếng Việt nói
chung cho HS lớp 2.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu sách, tài liệu có liên quan tới đề tài, đọc và hệ thống hóa các tài liệu
có liên quan đến cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu và tài liệu có liên quan đến cơ sở
hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HSTH.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp của
GV và HS lớp 2 Trường TH TB.
Thực nghiệm sư phạm, xác nhận tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
Thống kê kết quả điều tra, thực nghiệm, phân tích mô tả kết quả nghiên cứu.
9. Đóng góp của luận văn
Về lý luận: Góp phần khẳng định dạy Kể chuyện phải chú ý tới dạy khả năng
giao tiếp cho HS; phương pháp dạy học kể chuyện theo quan điểm giao tiếp.
Về thực tiễn: Góp phần mô tả thực trạng dạy học phát triển năng lực giao tiếp
thông qua giờ kể chuyện cho HS lớp 2; góp phần xây dựng mô hình bài giảng giờ Kể
chuyện theo quan điểm giao tiếp. Và bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp qua
giờ Kể chuyện.
10. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 4
chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 2
trong giờ Kể chuyện.
Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn của của vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho HS
Kể chuyện được dùng với ý nghĩa là kể một câu chuyện bằng lời, kể cả câu
chuyện có hình thức hoàn chỉnh, được in trên sách báo [34].
Giờ Kể chuyện hay tiết Kể chuyện là thời gian học các em được nghe Thầy (cô)
kể lại câu chuyện đã học trước đó bằng giọng điệu, bằng ngôn ngữ của mình. Thông
thường giờ Kể chuyện của lớp 2 được nằm ngay ngày thứ 3 của mỗi tuần theo mục lục
sách giáo khoa Tiếng Việt sau khi các em đã học bài tập đọc.
Kể chuyện vận dụng tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để HS rèn
luyện một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoạt động
giao tiếp [44]. Qua những câu chuyện được GV kể trong giờ Kể chuyện giúp cho các
em được lắng nghe kết hợp với quan sát những bức tranh, sau đó được chia sẻ, bày tỏ
thái độ của mình về các nhân vật trong câu chuyện bằng giọng điệu, bằng ngôn ngữ
của mình.
b. Giao tiếp, năng lực giao tiếp
Có nhiều cách hiểu về giao tiếp và phát triển năng lực giao tiếp cũng như các
khái niệm mà đề tài sử dụng nhưng do giới hạn, phạm vi nghiên cứu và để thuận tiện
11
cho việc nghiên cứu tác giả luận văn chọn những cách hiểu sau về khái niệm giao tiếp
và năng lực giao tiếp trong luận văn:
b.1. Giao tiếp là một quá trình mà thông tin được trao đổi giữa các cá nhân thông
qua một hệ thống các biểu tượng, kí hiệu, hoặc hành vi chung. GT là trao đổi, tiếp xúc
với nhau, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp.
b.2. Năng lực gồm ba thành tố cơ bản là tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm
(thái độ), trong đó “yếu tố cốt lõi trong bất cứ năng lực cụ thể nào đều là kĩ năng (hoặc
những kĩ năng).
Năng lực giao tiếp là năng lực sử dụng ngôn ngữ thích hợp với các tình huống
giao tiếp khác nhau. Năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ không đơn thuần là kiến thức
về ngôn ngữ.
Trong giảng dạy ở TH, năng lực giao tiếp thường được phân loại thành các năng
Dạy học tích hợp là định hướng về nội dung và phương pháp dạy học, trong đó
GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành
những kiến thức, kĩ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng
lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống.
d. Bài tập, bài tập hỗ trợ
d1. Bài tập là bài ra cho HS làm để tập vận dụng, luyện tập những điều đã học;
các môn học đều có hệ thống bài tập để HS luyện tập, vận dụng những kiến thức, kĩ
năng đã học.
d2. Bài tập hỗ trợ là những bài tập đưa ra nhằm hỗ trợ, giúp đỡ HS rèn một kỹ
năng nào đó.
e. Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu thập thông tin về sự thay đổi số
lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng Giáo dục do người
nghiên cứu tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra.
Thực nghiệm sư phạm là so sánh kết quả tác động của nhà khoa học lên một nhóm
lớp- gọi là nhóm thực nghiệm- với một nhóm lớp tương đương không được tác độnggọi là nhóm đối chứng.
1.2. Lý thuyết hội thoại và hoạt động giao tiếp
Luận văn bàn đến vấn đề xây dựng bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp
qua giờ Kể chuyện cho HS lớp 2, nên lý thuyết hội thoại và hoạt động giao tiếp là một
cơ sở lý thuyết quan trọng mà người viết lấy làm nền tảng lí luận của vấn đề mà luận
văn đề cập.
13
1.2.1. Khái niệm về hội thoại
Hội thoại được hiểu là việc sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp.
“Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng
là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.” [12].
“Các hành vi ngôn ngữ không đứng độc lập, riêng lẻ. Chúng kế tiếp nhau thành
chuỗi. Sự kết thúc của hành vi này là tiền đề cho những hành vi tiếp theo, dù đó là lời
khoa học, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, Giáo dục, ngôn ngữ của cộng đồng, dân tộc nơi
diễn ra hội thoại.
- Môi trường hội thoại: bất kì cuộc hội thoại nào cũng diễn ra trong không gian
và thời gian xác định. Không gian và thời gian ấy là môi trường hội thoại.
- Tình huống hội thoại: là hoàn cảnh hội thoại cụ thể, xác định, được các nhân vật
tham gia hội thoại ý thức và làm nảy sinh cuộc hội thoại.
- Nhân vật hội thoại: là những người tham gia hội thoại. Có hai yếu tố của nhân
vật hội thoại gồm:
+ Vai hội thoại: là vị trí của nhân vật trong cuộc hội thoại, các cuộc hội thoại
gồm người nói và người nghe và có sự luân phiên thay đổi lượt lời với nhau.
+ Quan hệ liên cá nhân: quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật tham gia hội
thoại biểu hiện ở các phạm vi: vị thế xã hội, quan hệ thân cận, vị thế giao tiếp.
1.2.4. Hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên giữa mọi người trong xã
hội. Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở dạng lời nói nhưng cũng có khi tồn tại ở
dạng viết. Giao tiếp cũng có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện “ngôn ngữ”
khác như: cử chỉ, điệu bộ, hành động, nét mặt, các phương tiện kĩ thuật (tất cả được
gọi là các hành vi siêu ngôn ngữ). Tuy nhiên phương tiện quan trọng nhất, phổ biến
nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn là ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ và giao tiếp, con người
trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, thái độ, quan hệ... để tổ chức xã hội hoạt động
[39, tr.15].
Hoạt động giao tiếp có hai quá trình: Quá trình tạo lập lời nói, văn bản do người
nói hoặc người viết thực hiện và quá trình tiếp nhận lời nói, văn bản do người nghe
hoặc người đọc thực hiện. Hai quá trình của hoạt động giao tiếp luôn diễn ra trong
quan hệ tương tác nhau. Trong giao tiếp, người nói (viết) có thể vừa là người tạo lập
nhưng cũng lại vừa là người tiếp nhận lời nói (văn bản) bởi các vai giao tiếp luôn luôn
15
thay đổi. Chính vì vậy khi xem xét các quá trình giao tiếp, chúng ta phải đặc biệt chú ý