Kiến thức, thực hành tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường của hộ sinh và các yếu tố liên quan tại khoa sanh bệnh viện phụ sản thành phố cần thơ năm 2016 - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ MINH HOÀNG
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH TUÂN THỦ
QUY TRÌNH ĐỠ ĐẺ THƯỜNG CỦA HỘ SINH VÀ CÁC
YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA SANH BỆNH VIỆN PHỤ
SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

TIẾN SĨ. LÊ NGỌC CỦA

THẠC SĨ. LÊ BÍCH NGỌC

HÀ NỘI – 2016


i

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................. iv
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................v-vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ.........................................................................vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ....................................................................... viii-ix
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................1-3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.............................................................................. 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..........................................................4-23
1.1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu .................................................. 4

3.3. Thực hành tuân thủ quy trình đỡ đẻ thườngcủa hộ sinh .....................33-38
3.4. Một số yếu tố liên quan đến Kiến thức đỡ đẻ thường của hộ sinh .....38-44
Chương 4: BÀN LUẬN .............................................................................45-54
4.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu .................................. 45
4.2. Kiến thức về quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm ................................46-49
4.2.1. Kiến thức về chuẩn bị đỡ đẻ thường ngôi chỏm:.............................45-46
4.2.2. Kiến thức về thực hiện quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm:............47-48
4.2.3. Kiến thức về những việc cần làm ngay sau khi thai sổ:...................48-49
4.3. Liên quan giữa kiến thức về quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm với những
đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu. ...............................................49-50
4.4. Thực hành tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường của hộ sinh ....................50-52
4.5. Liên quan giữa những đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu với thực
hành tuân thủ quy trình đỡ đẻ.....................................................................52-53
5. Một số hạn chế của nghiên cứu .............................................................53-54
KẾT LUẬN ................................................................................................55-57
KHUYẾN NGHỊ ........................................................................................58-59
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................6060-63
Phụ lục 1: PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU .......................64-65
Phụ lục 2: THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU......66-67


iii

Phụ lục 3: PHIẾU KHẢO SÁT KIẾN THỨC CHĂM SÓC SẢN PHỤ GIAI
ĐOẠN CHUYỂN DẠ CỦA HỘ SINH .....................................................68-73
Phụ lục 4: BẢNG KIỂM QUY TRÌNH ĐỠ ĐẺ........................................74-77
Phụ lục 5: Hình ảnh kỹ thuật đỡ đẻ thường ..............................................78-80


iv

Hộ sinh

ICM (International Confederation

Liên đoàn Hộ sinh Quốc tế

of Midwives)
NĐĐCKN

Người đỡ đẻ có kỹ năng

SP

Sản phụ

TB

Trung bình

XTTCGĐ3

Xử trí tích cực giai đoạn 3

WHO (The World Health Organization) Tổ chức Y tế thế giới


v

DANH MỤC CÁC BẢNG




vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Đánh giá Kiến thức về chuẩn bị đỡ đẻ .......................................... 29
Biểu đồ 2: Đánh giá kiến thức về kỹ thuật đỡ đẻ thường ............................... 31
Biểu đồ 3: Đánh giá kiến thức về những việc cần làm sau sinh ..................... 33


TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Kiến thức và thực hành về chăm sóc chuyển dạ và sự tuân thủ quy
trình đỡ đẻ thường của Hộ sinh đóng vai trò quyết định cho chất lượng cuộc đẻ vì
họ là người trực tiếp thực hiện theo dõi, chăm sóc sản phụ trong giai đoạn này.
Theo dõi sát chuyển dạ, phát hiện sớm các nguy cơ, tuân thủ thực hiện đúng các
bước chăm sóc cho bà mẹ và trẻ sơ sinh theo hướng dẫn quốc gia về các
DVCSSKSS (2009) và tài liệu hướng dẫn chuyên môn về Chăm sóc thiết yếu bà
mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ đảm bảo an toàn cho cuộc đẻ, phòng tránh
các biến chứng cũng như tử vong cho cả bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Đề tài “Kiến thức, thực hành tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường của hộ
sinh và một số yếu tố liên quan tại khoa Sanh bệnh viện Phụ sản thành phố
Cần Thơ năm 2016 ” với các mục tiêu: (1) Mô tả kiến thức, thực hành tuân thủ
quy trình đở đẻ thường của hộ sinh tại khoa Sanh Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần
Thơ năm 2016. (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành
tuân thủ quy trình đở đẻ thường của hộ sinh tại khoa Sanh Bệnh viện Phụ sản thành
phố Cần Thơ năm 2016.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, được thực hiện tại khoa Sanh Bệnh
viện Phụ sản thành phố Cần Thơ, từ tháng 01/2016 đến tháng 8/2016. Tổng cộng có
21 HS được phỏng vấn kiến thức theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn. Tỉ lệ HS đạt kiến


ĐẶT VẤN ĐỀ
Mang thai và sinh con là niềm hạnh phúc, là thiên chức của người phụ
nữ đồng thời đảm bảo chức năng duy trì nòi giống. Mọi phụ nữ đều cần được
chăm sóc trong thời kỳ mang thai, trong và sau sinh để bảo đảm có sức khỏe
tốt sau cuộc đẻ. Theo thống kê của WHO năm 2010 có khoảng 287.000 phụ
nữ tử vong trong khi mang thai và sinh đẻ, trong đó 99% tử vong mẹ xảy ra ở
các nước đang phát triển; sự chăm sóc chuyên nghiệp trước, trong và sau khi
sinh đẻ có thể cứu sống tính mạng cho mẹ và bé [18]. Khoảng 80% số trường
hợp tử vong ở bà mẹ và trẻ sơ sinh có thể phòng tránh được nếu người phụ nữ
được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sản khoa [16]. Theo Đánh giá Người
đỡ đẻ có kỹ năng của Bộ Y tế năm 2011 thì không những chăm sóc trong thời
kỳ có thai là cần thiết mà việc có sự chăm sóc của nhân viên y tế có chuyên
môn trong và ngay sau khi sinh là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm sự sống
còn và sức khỏe của sản phụ. Nhân viên y tế có kiến thức và kỹ năng là yếu tố
quan trọng để bảo vệ sức khỏe của sản phụ vì phần lớn các trường hợp tử vong,
băng huyết sau sinh, cao huyết áp, nhiễm trùng... đều xảy ra trong thời gian
chuyển dạ, sinh đẻ và 48 giờ đầu sau khi sinh. Qua quan sát của đánh giá này:
Chỉ có 53% số đối tượng được quan sát cho biết thường xuyên thực hiện xử trí
tích cực giai đoạn 3 của cuộc đẻ trong tổng số 69 đối tượng được quan sát thực
hiện chính xác tất cả các bước trên mô hình. Những con số trên cho thấy chất
lượng xử trí giai đoạn 3 chuyển dạ rất thấp. Đây là một thực trạng đáng báo
động vì hộ sinh là một nhóm cán bộ chủ yếu cung cấp dịch vụ chăm sóc thai
sản nên trình độ chuyên môn của họ có vai trò hết sức quan trọng trong việc
cứu sống tính mạng của sản phụ trong giai đoạn này [7].
Chảy máu sau đẻ hiện nay vẫn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong
mẹ ở các nước thu nhập thấp và là nguyên nhân trực tiếp của một phần tư số
ca tử vong trên toàn cầu [41]. Tại Việt Nam năm 2011 trên cả nước có tổng số




3

và một số yếu tố liên quan tại khoa Sanh bệnh viện Phụ sản thành phố
Cần Thơ năm 2016 với các mục tiêu cụ thể như sau:
1. Mô tả kiến thức và thực hành tuân thủ quy trình đở đẻ thường của hộ
sinh tại khoa Sanh Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2016.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành tuân
thủquy trình đở đẻ thường của hộ sinh tại khoa Sanh Bệnh viện Phụ sản thành
phố Cần Thơ năm 2016.


4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
- Chuyển dạ: là hiện tượng sinh lý đưa thai nhi từ trong buồng tử cung
ra ngoài qua đường âm đạo khi thai có tuổi thai từ 38- 42 tuần. Chuyển dạ được
chia thành 3 giai đoạn [3]. Cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: giai đoạn xóa mở cổ tử cung.
Giai đoạn 2: giai đoạn sổ thai.
Giai đoạn 3: giai đoạn sổ rau.
- Đỡ đẻ thường ngôi chỏm là thủ thuật tác động vào thì sổ thai để giúp
cuộc đẻ được an toàn theo đường âm đạo, không cần can thiệp (trừ trường hợp
cắt tầng sinh môn) [4].
- Giai đoạn 2 của chuyển dạ: còn gọi là giai đoạn sổ thai: Tính từ khi
cổ tử cung mở hết đến khi thai sổ [22].
- Giai đoạn 3 của chuyển dạ: giai đoạn sổ rau – tính từ khi thai sổ đến
khi rau sổ [22].

trong chăm sóc SP và trẻ sơ sinh trong thời kỳ chuyển dạ và sau đẻ nếu không
phát hiện thấy yếu tố nguy cơ nào [7].
Theo WHO, năm 2010 có 287.000 bà mẹ bị tử vong khi sinh đẻ trên
toàn thế giới; mỗi ngày, có khoảng 800 phụ nữ tử vong. Trong đó, đầu tiên
phải kể đến là nguyên nhân chảy máu nghiêm trọng sau khi sinh con (chảy
máu sau đẻ), một cấp cứu sản khoa nguy hiểm trong giai đoạn 3 của chuyển dạ
[41].
Tại Việt Nam, theo báo cáo Điều tra tử vong mẹ, tử vong sơ sinh ở Việt
Nam, tỷ suất tử vong mẹ chung trên toàn quốc là 63/100.000 trẻ đẻ sống giai
đoạn 2006-2007 [21]. Theo Liên hiệp quốc tại Việt Nam (2012), tỷ suất tử
vong mẹ ở Việt Nam tuy đã giảm hơn 3 lần từ 1990 đến năm 2009 nhưng tốc
độ giảm tử vong mẹ đang có xu hướng chậm lại trong những năm gần đây [13].
Năm 2012, tổng số ca tử vong mẹ là 289 ca. Nguyên nhân tử vong mẹ trực tiếp


6

(còn gọi là nguy cơ sản khoa) chiếm tỷ lệ cao là 65%, trong đó chảy máu sau
đẻ vẫn là nguy cơ lớn nhất với tỷ lệ (47%), theo sau là tắc mạch ối (22%), tiền
sản giật/sản giật (14%), vỡ tử cung (7,5%) [5]. WHO cũng nhận định, chảy
máu sau đẻ là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong mẹ [41].
Năm 2003, Liên đoàn Hộ sinh Quốc tế (International Federation
of Midwives – ICM) và Liên đoàn Sản phụ khoa Quốc tế (International
Federation of Gynaecologists and Obstetricians – FIGO) ban hành một tuyên
bố chung rằng SP cần được cung cấp XTTCGĐ3 "như một phương pháp giảm
tỷ lệ chảy máu sau đẻ do đờ tử cung" [29]. WHO cũng khuyến cáo các cán bộ
y tế có tay nghề cần theo dõi, tuân thủ quy trình đỡ đẻ trong tất cả các ca đẻ.
Khuyến cáo này được chấp nhận rộng rãi như là một biện pháp giảm thiểu tình
trạng chảy máu sau đẻ, một nguyên nhân chính gây tử vong ở bà mẹ và được
chấp nhận này như là một tiêu chuẩn quốc tế về chăm sóc SP trong chuyển dạ

* Các giai đoạn của cuộc chuyển dạ: có 3 giai đoạn, thời gian mỗi giai
đoạn dài, ngắn khác nhau.
- Giai đoạn 1
Giai đoạn xoá mở cổ tử cung, tính từ khi bắt đầu chuyển dạ đến khi cổ
tử cung mở hết, giai đoạn này là giai đoạn kéo dài nhất của cuộc chuyển dạ.
Thời gian trung bình của giai đoạn này là 15 giờ bao gồm:
+ Giai đoạn 1a: Từ khi cổ tử cung bắt đầu xoá đến khi cổ tử cung mở
3 cm gọi là pha tiềm tàng, thời gian 8 giờ.
+ Giai đoạn 1b: Từ lúc cổ tử cung mở 3 cm đến 10 cm (mở hết) gọi là
pha tích cực, thời gian 7 giờ.
- Giai đoạn 2
Giai đoạn sổ thai tính từ khi cổ tử cung mở hết đến khi thai sổ ra ngoài,
thời gian trung bình 30 phút, tối đa 1 giờ. Giai đoạn này được thực hiện nhờ 2
yếu tố: sức mạnh cơn co tử cung và sự co bóp các cơ thành bụng.
- Giai đoạn 3
Là thời kỳ sổ rau, bắt đầu từ khi thai sổ ra ngoài đến khi rau bong, xuống
và sổ rau ra ngoài cùng với màng rau, thời gian 15 - 30 phút.


8

1.3.2. Kỹ thuật đỡ đẻ thường
Theo Quyết định số 4673/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 10 tháng 11 năm
2014 về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà
mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ. Gồm các hướng dẫn như sau:
- Tiêm bắp oxytocin
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo sử dụng thuốc tăng co tử cung
(thuốc được khuyến cáo là oxytocin) để xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc
chuyển dạ cho tất cả các trường hợp đẻ đường âm đạo, oxytocin sử dụng đường
tiêm bắp với liều 10 đơn vị để đề phòng chảy máu sau đẻ.

lượng máu truyền từ bánh rau sang trẻ sơ sinh khoảng 80ml và có thể lên tới
100 ml trong 3 phút sau sinh. Lượng máu thêm này có thể cung cấp một lượng
sắt tương ứng 40-50mg/kg cân nặng của trẻ, cùng với lượng sắt của cơ thể
(khoảng 75mg/kg cân nặng) có thể giúp trẻ đủ tháng ngăn ngừa được thiếu
máu thiết sắt trong năm đầu. Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng nếu kẹp rốn
đúng thời điểm, một lượng máu sẽ từ bánh rau qua dây rốn đến đứa trẻ làm
giúp cho trẻ đủ tháng không bị thiếu máu do thiếu sắt trong những tháng đầu,
và đặc biệt ở trẻ non tháng không bị thiếu máu cũng như giảm tỷ lệ xuất huyết
não do giảm prothrombin.
Xuất phát từ các bằng chứng lâm sàng của các nghiên cứu về kẹp cắt
dây rốn muộn, năm 2012, WHO đã khuyến cáo nên kẹp cắt dây rốn muộn (khi
dây rốn ngừng đập hoặc 1-3 phút sau sổ thai) cho tất cả các trường hợp đẻ
thường để ngăn ngừa tình trạng thiếu máu của trẻ. Chỉ kẹp cắt dây rốn sớm
(trước 01 phút) đối với các trường hợp trẻ ngạt cần phải hồi sức tích cực.
- Tiếp xúc da kề da
Trẻ được tiếp xúc da kề da với mẹ ngay từ những phút đầu sau khi sinh
giúp tăng sự tương tác sớm giữa mẹ và con. Trẻ sẽ không bị hạ thân nhiệt, trẻ
sẽ tìm vú mẹ sớm hơn và bú mẹ khỏe hơn. Người mẹ cũng giảm lo lắng, giảm
nỗi đau “vượt cạn một mình”. Kết quả nghiên cứu Cochrane phân tích gộp 34
thử nghiệm lâm sàng trên 2177 cặp mẹ con về tiếp xúc da kề da cho thấy các


10

trẻ được tiếp xúc trực tiếp da kề da với mẹ ngay sau sinh thì ít khóc hơn so với
các trẻ được nhân viên y tế chăm sóc, các bà mẹ cũng cảm thấy dễ dàng cho
con bú mẹ hơn trong những tháng đầu sau đẻ, thời gian cho bú cũng lâu hơn.
Các bà mẹ cũng ghi nhận trẻ gần gũi với mẹ hơn, tuy nhiên phương pháp lượng
giá về mối quan hệ mẹ con cũng khó chính xác.
- Cho trẻ bú sớm

- Xuống: ngôi di chuyển trong ống đẻ từ mặt phẳng eo trên đến mặt
phẳng eo dưới.
- Quay: điểm mốc của ngôi hoặc chẩm (thóp sau) quay về phía xương
mu hay xương cùng.
- Sổ: phần thai sổ ra ngoài qua âm hộ.
Đẻ đầu:
- Thì lọt:
Trước khi chuyển dạ: đầu cao, cúi không tốt (đường kính chẩm trán =
11cm, trình diện trước eo trên). Để chuẩn bị lọt, cơn co tử cung làm đầu cúi tốt
hơn để đường kính hạ chẩm- thóp trước = 9,5cm song song với đường kính
chéo trái của mặt phẳng eo trên (khám âm đạo sờ được rãnh dọc của đầu trùng
với đường kính này ).
Lọt thực sự: quá trình diễn tiến từ từ, khi đường kính của ngôi (đường
kính lớn nhất) đi qua mặt phẳng eo trên. Đặc biệt có một số dấu hiệu lâm sàng
khi đầu đã lọt như sau: Qua khám bụng, chỉ có thể sờ thấy 2/5 đầu thai nhi.
Qua khám âm đaỌ cho thấy phần thấp nhất của chỏm nằm ngang mặt phẳng
gai hông của SP.
Kiểu lọt: Lọt đối xứng (2 bướu đỉnh cùng xuống song song); lọt không
đối xứng (1bướu xuống trước, 1 bướu xuống sau).
- Thì xuống: Là giai đoạn di chuyển của ngôi từ mặt phẳng eo trên đến
mặt phẳng eo dưới ra phía âm đạo, khi đầu thai nhi xuống thấp là tầng sinh
môn căng phồng.


12

- Thì quay: Khi đầu thai nhi chạm vào lớp cân cơ của đáy chậu thì đầu
thai nhi bắt đầu quay để đường kính hạ chẩm- thóp trước 9,5cm trở thành sonh
song với đường kính trước sau của eo dưới. Ngôi chỏm kiểu thế trước thì đầu
sẽ quay 450 ra trước. Ngôi chỏm kiểu thế sau thì đầu quay 450 ra phía sau,

ngửa dần, mắt, mũi, miệng, cằm sẽ lần lượt sổ ra ngoài. Hút dịch hoặc lau
miệng trẻ khi trẻ không
Đỡ vai
Quan sát xem đầu thai có xu hướng quay về bên nào thì giúp cho chẩm
quay về bên đó (chẩm trái - ngang hoặc chẩm phải - ngang), kiểm tra dây
rốn nếu quấn cổ: gỡ hoặc cắt (khi chặt không gỡ được).
Hai bàn tay ôm đầu thai nhi ở hai bên thái dương, kéo thai xuống theo
trục rốn - cụt để vai trước sổ trước.
Khi bờ dưới cơ delta tì dưới khớp vệ thì một tay giữ đầu (cổ nằm giữa
khe hai ngón cái và trỏ) tay kia giữ tầng sinh môn, nhấc thai lên phía trên và
cho sổ vai sau. Ở thì này dễ rách tầng sinh môn, vì vậy phải giữ tầng sinh
môn tốt và cho vai sổ từ từ.
Đỡ thân, mông và chi
Khi đã sổ xong hai vai, bỏ tay giữ tầng sinh môn để thân thai nhi sổ và
khi thân ra ngoài thì nắm lấy hai bàn chân, sau đó tiêm bắp 10 đơn vị (10UI)
Oxytocin khi chắc chắn không còn thai nào trong tử cung.
Giữ thai ở tư thế ngang, đầu hơi thấp (hoặc để thai nằm nghiêng trên
phần bàn đẻ đã được kéo ra hoặc cho nằm sấp trên bụng mẹ) sau đó tiến hành
cặp cắt rốn. Nếu người đỡ chính còn bế/giữ thai thì động tác cặp cắt rốn do
người đỡ phụ thực hiện. Chuyển thai ra bàn hồi sức, giao cho người phụ chăm
sóc, làm rốn.
1.2.3.2. Giới thiệu xử trí tích cực giai đoạn 3
XTTCGĐ 3 đóng vai trò rất quan trọng. WHO cũng như các tổ chức
quốc tế khác đều khuyến cáo thực hiện XTTCGĐ3 của chuyển dạ cho tất cả
mọi phụ nữ với sự tham gia của HS có kỹ năng [15].


14

Việt Nam cũng tuân theo các bước cơ bản của WHO và cụ thể hóa thông

Năm 2010, Ahrar M. Rasheid, MScN và Rabea'a M. Ali đã công bố kết
quả đánh giá kiến thức và thực hành của HS về sự tuân thủ quy trình đỡ đẻ cụ
thể là xử trích giai đoạn 2.
Nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức của HS ở mức điểm trung bình hoặc
thấp ở hầu hết các nội dung chăm sóc giai đoạn 2 của chuyển dạ. Cụ thể, điểm
trung bình kiến thức của học viên đạt mức thấp khi hỏi những câu liên quan
đến định nghĩa, các dấu hiệu và triệu chứng của chuyển dạ, cắt tầng sinh môn
và lợi ích của nó, điều kiện đỡ đẻ, và kẹp cắt rốn trong giai đoạn 2 của chuyển
dạ [25].
Tạp chí Sản Phụ khoa Quốc tế (2012) đã nhấn mạnh các khía cạnh cụ
thể của việc quản lý giai đoạn 2 trong đó nêu rõ giai đoạn 2 là giai đoạn gặp
nhiều tai biến nhất trong chuyển dạ, sự tuân thủ quy trình của HS có trình độ
và tay nghề cao là rất quan trọng đối với việc đỡ đẻ an toàn. Trong khi thực
hiện đỡ đẻ, HS cần hướng dẫn SP về cách thức phối hợp để khuyến khích mẹ
rặn khi cổ tử mở hết, khi đầu trẻ đã bắt đầu trình diện ở âm hộ và SP cảm thấy
muốn rặn đẻ, cách nín hơi, cách thổi khi không có cơn co [41]. Để đảm bảo an
toàn trong quá trình đỡ đẻ, yêu cầu cần có hai người, thường là HS hoặc bác
sỹ sản để hỗ trợ SP khi sinh. Cần phải có người chăm sóc thứ hai để duy trì
nghe tim thai và hỗ trợ cho các SP trong khi HS hoặc bác sĩ đeo găng tay vô
trùng để chuẩn bị đỡ đẻ. Điều này bảo đảm sự hỗ trợ cho HS chính khi cần
thiết, nhất là khi có biến chứng xảy ra, người thứ hai có thể giúp đỡ và bắt đầu
chăm sóc khẩn cấp theo quy định cấp cứu sản khoa trong khi không làm mất
đi sự chăm sóc liên tục của người đỡ đẻ chính. Vì vậy, việc có ít nhất 2 HS
chăm sóc trong cuộc đẻ là điều hết sức cần thiết để đảm bảo an toàn cho mẹ và
con [28].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status