BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN
NGHIÊN CỨU CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN
ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM
PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS NGHỆ AN NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN
NGHIÊN CỨU CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN
ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM
PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS NGHỆ AN NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
TS. Trần Khánh Toàn
HÀ NỘI - 2017
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ...................................................................................... vii
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................4
1.1. Dịch tễ học về sử dụng chất gây nghiện ..............................................................4
1.1.1. Trên thế giới ..............................................................................................4
1.1.2. Ở Việt Nam ...............................................................................................4
1.2. Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone ..................5
1.2.1. Nghiện chất dạng thuốc phiện và điều trị thay thế bằng methadone ........5
1.2.2. Tình hình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng methadone ......................7
1.2.3. Hiệu quả của chƣơng trình điều trị methadone ở Việt Nam .....................9
1.3. Chất lƣợng cuộc sống .........................................................................................10
1.3.1. Khái niệm ................................................................................................10
1.3.2. Các phƣơng pháp đo lƣờng chất lƣợng cuộc sống ..................................10
1.4. Nghiên cứu về chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân điều trị methadone ..........13
1.4.1 Trên thế giới .............................................................................................13
1.4.2. Tại Việt Nam ...........................................................................................15
1.5. Các yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân điều trị methadone ..................16
1.5. Khung lý thuyết nghiên cứu ...............................................................................18
1.6. Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu .............................................................18
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................20
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................20
2.2. Đối tƣợng nghiên cứu.........................................................................................20
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân ........................................................................20
Tiêu chuẩn loại trừ ............................................................................................20
2.3. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................21
ii
2.4. Mẫu và phƣơng pháp chọn mẫu .........................................................................21
iii
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................67
Phụ lục 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn bệnh nhân điều trị methadone ..............................73
Phụ lục 2: Các thông tin từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân ........................................81
Phụ lục 3. Bảng chuyển đổi điểm các lĩnh vực của CLCS đo bằng công cụ
WHOQOL-BREF ......................................................................................................87
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngƣời
(Aquired Immunodeficiency Syndrome)
ART
Điều trị kháng virut (Antiretroviral treatment)
ARV
Thuốc kháng virus HIV (Anti Retrovirus)
BN
Bệnh nhân
TCMT
Tiêm chích ma túy
UNODC
Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
WHOQOL-BREF Bản tóm tắt bộ công cụ đánh giá chất lƣợng cuộc sống do
WHO đề xuất
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt nội dung các biến số nghiên cứu .................................................24
Bảng 2.2: Sai số và cách khắc phục sai số trong nghiên cứu ....................................25
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân (n=338) ....................................30
Bảng 3.2: Một số thông tin về gia đình của bệnh nhân .............................................28
Bảng 3.3: Đặc điểm sử dụng ma tuý và nhiễm HIV của bệnh nhân .........................29
Bảng 3.4: Thông tin về điều trị cai nghiện của bệnh nhân........................................30
Bảng 3.5: Tiếp cận các dịch vụ y tế, xã hội của bệnh nhân ......................................31
Bảng 3.6: Tự đánh giá tình trạng sức khỏe và CLCS tổng thể của bệnh nhân .........32
Bảng 3.7: Điểm trung bình chất lƣợng cuộc sống trong 4 lĩnh vực ..........................32
Bảng 3.8: Liên quan đặc điểm cá nhân, gia đình với điểm số lĩnh vực thể chất ......34
Chất lƣợng cuộc sống (CLCS) là một chỉ số đánh giá hiệu quả điều trị thay thế
bằng methadone cho bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện. Tuy nhiên, chủ đề
này chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
nhằm mô tả thực trạng CLCS và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang đƣợc
điều trị methadone tại cơ sở điều trị thuộc Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Nghệ
An năm 2016.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích thực hiện trên toàn bộ 338 bệnh nhân
đang điều trị methadone giai đoạn ổn định liều trong khoảng thời gian từ tháng
11/2015 đến tháng 6/2016. Bệnh nhân đƣợc phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cấu trúc,
với bộ công cụ đánh giá CLCS của WHO, bản tóm tắt (WHOQOL-BREF) đã đƣợc
Việt hoá và kết hợp với thu thập một số thông tin sẵn có trong hồ sơ bệnh án của
bệnh nhân.
Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình CLCS của bệnh nhân cao nhất là
về lĩnh vực tâm lý với 61,2 điểm và thấp nhất về lĩnh vực xã hội với 50,3 điểm;
điểm về thể chất và môi trƣờng lần lƣợt là 58,8 và 60,6 điểm. Vẫn còn 11,2% bệnh
nhân không hài lòng với tình trạng sức khoẻ và 5,3% bệnh nhân đánh giá chất lƣợng
cuộc sống ở mức xấu và rất xấu. Điểm CLCS cao hơn có ý nghĩa thống kê (hệ số
hồi quy coefficients >0, p
một tỉnh trọng điểm của cả nƣớc về dịch HIV/AIDS, tuy nhiên đến tháng 8/2016
mới chỉ có 12 cơ sở điều trị methadone, với hơn 1.900 bệnh nhân đƣợc điều trị, chỉ
đạt 55,9% chỉ tiêu Chính phủ giao. Mặc dù vậy, kết quả đánh giá sơ bộ cho thấy
chƣơng trình điều trị methadone đã giúp bệnh nhân giảm rõ rệt các hành vi nguy cơ
và cải thiện đƣợc tình trạng sức khỏe [12]. Do đó, việc mở rộng dịch vụ điều trị
2
methadone là một trong những biện pháp quan trọng, cấp thiết góp phần đạt mục
tiêu 90-90-90 trong phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh.
CLCS của bệnh nhân là một trong các chỉ số đầu ra phản ánh rõ nhất chất
lƣợng dịch vụ và tác động của chƣơng trình điều trị methadone [38],[47]. Đo lƣờng
CLCS của bệnh nhân giúp đánh giá một phần chất lƣợng và hiệu quả công tác điều
trị methadone trên cơ sở đó cung cấp các bằng chứng để cải thiện và mở rộng mô
hình điều trị trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Câu hỏi đặt ra là “Thực trạng CLCS của
bệnh nhân đang điều trị methadone ở Nghệ An hiện nay ra sao? có những yếu tố
nào ảnh hƣởng đến CLCS của bệnh nhân đang điều trị?”
Để trả lời câu hỏi trên, nghiên cứu "Nghiên cứu chất lƣợng cuộc sống và một
số yếu tố liên quan ở bệnh nhân điều trị methadone tại Trung tâm phòng, chống
HIV/AIDS Nghệ An năm 2016" đƣợc thực hiện. Kết quả của nghiên cứu sẽ cung
cấp các bằng chứng để cải thiện và nâng cao chất lƣợng dịch vụ điều trị cho bệnh
nhân đang điều trị và mở rộng chƣơng trình tại Nghệ An.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mô tả thực trạng chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị methadone
tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Nghệ An, năm 2016.
lên 31%, và ở các tỉnh Đông Nam Bộ tăng từ 10,2% lên 23% [1].
Tính đến 30/09/2014, cả nƣớc có 204.337 ngƣời nghiện ma túy đã đƣợc lập hồ
sơ quản lý; tuy nhiên, số ngƣời nghiện trên thực tế có thể cao hơn nhiều [1]. Số liệu
5
thống kê đến cuối năm 2014 cho thấy, 96% ngƣời nghiện ma túy ở Việt Nam là
nam giới, trong đó, 50% ở độ tuổi 16-30. Độ tuổi của ngƣời nghiện ma túy cũng có
xu hƣớng trẻ hóa.Tỷ lệ ngƣời nghiện ma túy ở độ tuổi dƣới 30 chiếm khoảng 42%
năm 1995 đã tăng lên gần 70% vào cuối năm 2010 [1]. Ngƣời nghiện ma tuý cũng
đã xuất hiện ở mọi thành phần trong xã hội, từ học sinh, sinh viên, cán bộ công
chức, viên chức đến ngƣời lao động phổ thông; tuy nhiên, đa số ngƣời nghiện ma
túy có trình độ văn hoá thấp, khoảng 10% không biết chữ, 59% có trình độ văn hóa
từ tiểu học tới trung học cơ sở. Phần lớn ngƣời nghiện ma túy không có nghề nghiệp
ổn định, chi tiêu chủ yếu từ nguồn hỗ trợ của gia đình, trong khi thu nhập hợp pháp
chỉ bằng 1/3 số tiền chi cho ma túy[1].
Mô hình sử dụng ma tuý cũng đã thay đổi. Tỷ lệ ngƣời nghiện sử dụng heroin
vẫn chiếm đa số nhƣng đã giảm dần trong thời gian qua trong khi tỷ lệ sử dụng các
loại ma tuý tổng hợp đang có xu hƣớng gia tăng, nhất là trong đối tƣợng trẻ tuổi [2].
Tỷ lệ sử dụng ma tuý qua đƣờng tiêm chích tăng từ 8% năm 1995 lên đến hơn 3/4
tổng số ngƣời nghiện vào cuối năm 2009. Nhóm ngƣời tiêm chích ma túy có tỷ lệ
lây nhiễm HIV cao (17,2%) [21], tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT ở Việt Nam
gần đây đang có xu hƣớng giảm trên phạm vi toàn quốc (còn 10,3% năm 2013) [4].
1.2. Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone
1.2.1. Nghiện chất dạng thuốc phiện và điều trị thay thế bằng methadone
Các chất dạng thuốc phiện (CDTP) nhƣ thuốc phiện, morphin, heroin là
những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh) có thời gian bán hủy ngắn do
đó thƣờng phải sử dụng nhiều lần trong ngày và nhanh chóng xuất hiện triệu chứng
nhiễm độc hệ thần kinh trung ƣơng. Vì vậy, ngƣời nghiện ma túy (đặc biệt heroin)
của việc sử dụng heroin và không gây ngộ độc).
Giai đoạn duy trì, ổn định liều: đƣợc xác định khi ngƣời bệnh đƣợc sử dụng
liều có hiệu quả tối ƣu duy trì trong ít nhất 4 tuần liên tục. Ngƣời bệnh không tái sử
dụng CDTP trong ít nhất 4 tuần liên tục. Liều duy trì hay liều có hiệu quả tối ƣu, là
liều có hiệu quả và phong tỏa đƣợc tác dụng gây khoái cảm của heroin hết thèm nhớ
heroin. Liều hiệu quả tối ƣu khác nhau ở từng ngƣời bệnh, tuỳ thuộc một số bệnh lý
đồng diễn, tình trạng đặc biệt (có thai, đa nghiện) và sử dụng các thuốc có tƣơng tác
với methadone. Tiêu chuẩn đánh giá liều duy trì là phù hợp khi ngƣời bệnh hết hội
7
chứng cai; giảm đáng kể sự thèm nhớ CDTP; không tái sử dụng hoặc không còn
khoái cảm (phê) khi sử dụng lại CDTP, đôi khi còn có thể gây khó chịu cho ngƣời
bệnh, và không có dấu hiệu nhiễm độc [3].
1.2.2. Tình hình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng methadone
1.2.2.1 Điều trị methadone trên thế giới
Trên thế giới, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone (gọi
tắt là điều trị thay thế bằng methadone) không phải là một trong những giải pháp
mới trong hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV. Ở Hồng
Kông, chƣơng trình methadone đã đƣợc triển khai từ những năm 1970, ở Hà Lan
đƣợc triển khai từ những năm 1980 và Trung Quốc cũng đã thực hiện chƣơng trình
này vào năm 2003 [51].
Hiện nay, trên thế giới có ít nhất 70 quốc gia đang sử dụng phƣơng pháp này
với quy mô khoảng 580.000 ngƣời thuộc khu vực châu Âu và 200.000 ngƣời ở châu
Á. Quy mô áp dụng chƣơng trình điều trị methadone tại một số nƣớc khá lớn, tại
Mỹ có hơn 900.000 ngƣời nghiện heroin, trong đó có hơn 200.000 bệnh nhân đang
đƣợc điều trị bằng methadone. Đến năm 2008, Thụy Sỹ có 3.000 cơ sở điều trị, Tây
Ban Nha có 5.000 cơ sở, Đức có 4.000 cơ sở, Trung Quốc có 500 cơ sở. Tại khu
vực Đông Nam Á, có nhiều nƣớc đã áp dụng chƣơng trình này nhƣ: Thái Lan,
suất sử dụng các CDTP, giảm các hành vi tội phạm, cải thiện sức khỏe và chất
lƣợng cuộc sống bệnh nhân. Để mở rộng các cơ sở điều trị phục vụ ngƣời nghiện
CDTP cần có các đánh giá sâu về các yếu tố ảnh hƣởng đến điều trị methadone.
Trên cơ sở đó cải thiện chất lƣợng điều trị để phục vụ cho bệnh nhân.
9
1.2.3. Hiệu quả của chương trình điều trị methadone ở Việt Nam
1.2.3.1. Giảm hành vi nguy cơ đối với sức khỏe của bệnh nhân
Kết quả nghiên cứu của Bộ Y tế trên 1000 bệnh nhân ở 6 cơ sở điều trị
methadone ở Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4/2008 cho thấy một
số kết quả tích cực trong việc giảm hành vi nguy cơ sức khoẻ của bệnh nhân:
- Về tình trạng sử dụng các chất ma túy: việc sử dụng heroin trong nhóm bệnh
nhân tham gia điều trị đã giảm đáng kể cả về tần suất và liều sử dụng. Tỷ lệ bệnh
nhân có sử dụng heroin trƣớc điều trị là 100% giảm xuống còn 14,05% sau 6 tháng;
9,05% sau 12 tháng và 8,41% sau 24 tháng. Lúc đầu, hầu hết bệnh nhân đều sử
dụng heroin với tần suất rất cao: 48,5% bệnh nhân sử dụng trên 5 lần/ngày, 41,5%
sử dụng từ 3-4 lần/ngày và chỉ có 6,3% sử dụng 1-2 lần/ngày. Tuy nhiên, sau 12
tháng điều trị, trong số bệnh nhân còn sử dụng ma túy, không có bệnh nhân nào sử
dụng từ 2 lần/ngày trở lên với tần suất sử dụng chủ yếu 2-3 lần/tháng [9].
- Về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV: Cùng với việc dừng hoặc giảm mức độ
sử dụng ma túy, các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân tham
gia điều trị cũng đã có sự cải thiện đáng kể. Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi TCMT
giảm từ 86,9% trƣớc điều trị xuống còn 53,9% sau 6 tháng và 42,4% sau 24 tháng
điều trị, tính trong số bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng ma tuý. Tỷ lệ dùng chung bơm
kim tiêm nhóm bệnh nhân TCMT giảm rõ rệt chỉ còn 2% sau 24 tháng điều trị so
với 21% trƣớc khi điều trị [9].
Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng bao cao su thƣờng xuyên trong quan hệ tình dục với
phụ nữ bán dâm cũng nhƣ với bạn tình thƣờng xuyên trƣớc khi điều trị lần lƣợt là
chấp nhận bao gồm những đo lƣờng cá nhân về sự hài lòng trƣớc các yếu tố đa dạng
của cuộc sống. Sự đánh giá này bao gồm những phản ứng của cảm xúc trƣớc các sự
kiện của đời sống, cảm giác hài lòng với công việc cũng nhƣ những mối quan hệ cá
nhân [25]. CLCS mang tính chủ quan cao và bị tác động bởi nhiều yếu tố: thể chất,
tâm lý, mức độ độc lập, mối quan hệ xã hội. Việc đo lƣờng CLCS cần lƣu ý đến
những đặc trƣng của CLCS về tính toàn diện, đa khía cạnh [52].
1.3.2. Các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống
Là một khái niệm mang tính chủ quan nên CLCS có thể đƣợc đo lƣờng dƣới
các góc độ khác nhau với những phƣơng pháp, công cụ, thang đo và tiêu chí khác
11
nhau. Đo lƣờng CLCS đƣợc ứng dụng trong quá trình đƣa ra các quyết định lâm
sàng và quá trình hoạch định chính sách. Đo lƣờng CLCS có thể giúp các nhà lâm
sàng xác định vấn đề ƣu tiên, sàng lọc các nguy cơ, xác định và lựa chọn các
phƣơng án điều trị, theo dõi đáp ứng của bệnh nhân với điều trị [25]. Từ đó, giúp
các thầy thuốc lâm sàng điều trị theo hƣớng không chỉ điều trị bệnh mà điều trị cá
thể hoá cho từng ngƣời bệnh cụ thể. Các thông tin liên quan đến CLCS của ngƣời
bệnh cũng rất cần thiết đối với các nhà hoạch định chính sách. CLCS đƣợc coi là
một yếu tố đầu ra để đánh giá hiệu quả của các can thiệp. Khi đó, chỉ số CLCS và
chi phí của các can thiệp là hai cấu phần quan trọng giúp nhà hoạch định chính sách
cân cân nhắc và quyết định phân bổ nguồn lực cho các can thiệp khác nhau một
cách hợp lý [14].
Các phƣơng pháp đo lƣờng CLCS liên quan đến sức khỏe đƣợc chia thành hai
nhóm chính: phƣơng pháp trực tiếp và phƣơng pháp gián tiếp.
1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp
Phƣơng pháp này sử dụng các kỹ thuật đo lƣờng CLCS một cách trực tiếp và
tổng thể thông qua chỉ số thỏa dụng về một điều kiện sức khỏe nhất định. Hiện nay,
có 3 phƣơng pháp đƣợc sử dụng khá phổ biến là phƣơng pháp trao đổi thời gian,
bao gồm 36 mục kết hợp trong 8 khía cạnh thuộc 2 nhóm thể chất và tinh thần[18];
- Bộ công cụ EQ-5D do EuroQol group phát triển, đã đƣợc dịch ra nhiều thứ
tiếng, trong đó có tiếng Việt và đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc khác nhau. Bộ
công cụ này đánh giá CLCS liên quan đến sức khoẻ trên 5 khía cạnh: vận động, tự
chăm sóc, các hoạt động thƣờng ngày, tình trạng đau/khó chịu và lo âu/trầm cảm.
Bản tiếng Việt của EQ-5D đã đƣợc sử dụng trong nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân
HIV/AIDS ở Việt Nam [40].
- Bộ công cụ WHOQOL (World Health Organization Quality of Life
Questionnaire) do WHO đề xuất, đánh giá CLCS tổng hợp về các vấn đề sức khỏe.
WHOQOL có độ tin cậy cao, tính đến năm 2008, đã đƣợc dịch ra 20 thứ tiếng và áp
dụng tại 15 vùng khác nhau với hai phiên bản đầy đủ và tóm tắt.
13
Phiên bản gốc (WHOQOL-100) gồm 100 câu hỏi với 5 mức trả lời ở mỗi câu
và bao gồm 6 lĩnh vực: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, mức độ độc lập, các mối
quan hệ xã hội, môi trƣờng và tâm linh/tôn giáo/tín ngƣỡng[52],[36]. Phiên bản này
mặc dù đƣợc đánh giá là đề cập đến các khía cạnh của CLCS một cách toàn diện
nhƣng tƣơng đối dài khi có tới 100 câu hỏi nên ít đƣợc áp dụng rộng rãi.
Phiên bản tóm tắt (WHOQOL-BREF) gồm 26 câu hỏi thể hiện tính đa chiều
của CLCS với 4 lĩnh vực chính: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, xã hội và môi
trƣờng. Phiên bản này ngắn gọn và mang tính ứng dụng cao hơn, đƣợc sử dụng để
đo lƣờng CLCS của nhiều nhóm đối tƣợng khác nhau nhƣ bệnh nhân HIV/AIDS,
trầm cảm, tim mạch và một số bệnh không lây nhiễm khác [32], [33]. Đây là công
cụ hữu hiệu để: (1) Đánh giá tổng thể CLCS; (2) Mức độ hài lòng về sức khỏe của
bệnh nhân; và (3) Điểm trung bình sức khoẻ thể chất, tâm lý, xã hội và môi trƣờng.
Bộ câu hỏi WHOQOF-BREF đƣợc WHO khuyến cáo sử dụng để đo lƣờng
CLCS của nhóm bệnh nhân TCMT và nhiễm HIV/AIDS [29]. Bộ câu hỏi này cũng
đã đƣợc sử dụng cho các nghiên cứu đánh giá CLCS của ngƣời TCMT tại một số
làm giảm CLCS về môi trƣờng và xã hội [54].
Kết quả nghiên cứu trên 516 bệnh nhân điều trị methadone tại Giang Đông,
Trung Quốc (2011) cho thấy CLCS cũng tăng lên nhanh chóng theo thời gian điều
trị; ở ngày thứ 30 cao hơn rõ rệt so với ngày thứ nhất (p