PHÒNG GD&ĐT LỆ THỦY
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THCS NGƯ THỦY TRUNG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ngư Thủy Trung, ngày 29 tháng 04 năm 201….
BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
MODULE 14, 18, 20, 23
NĂM HỌC 201…-201…..
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Văn Hải
Sinh ngày : Ngày 7 tháng 5 năm 1983
Trình độ chuyên môn: Đại học TDTT
Năm vào nghành : 2004
Chức vụ, tổ chuyên môn: Giáo Viên
Công việc chuyên môn và kiêm nhiệm được giao: giảng dạy thể dục K6,7,8,9 - ,
BD HSNK, chủ nhiệm lớp 7B.
Qua quá trình thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của cá nhân tôi và
vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học tập bồi dưỡng thường xuyên vào quá trình
thực hiện nhiệm vụ năm học. Bản thân tôi đã tiếp thu được nội dung bồi dưỡng như
sau:
1. NỘI DUNG 1
Câu 1: Những căn cứ thực hiện công tác bồi dưỡng thường xuyên năm học 20162017?
Căn cứ Thông tư 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của Bộ GD&ĐT về việc
ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên MN, PT và GDTX;
Căn cứ Thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 08/8/2011 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo ban hành Chương trình BDTX giáo viên trung học cơ sở;
Căn cứ công văn số 698/SGDĐT-GDCN-TX ngày 16/4/2013 của Giám đốc Sở
dục và đào tạo
Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp
đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo
dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu. Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo
của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
2- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo
hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học
Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa
đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo
hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng
thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
3- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo
dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan
2
Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các
tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận.
Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng
giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng
năng lực học sinh.
4- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập
suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với
quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Thống nhất
tên gọi các trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra. Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp sau trung học
phổ thông, liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
5- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất;
tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản
Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự
chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá và thành tựu khoa học, công nghệ
của nhân loại.
Câu 5: Hãy cho biết tên những văn bản của Quốc hội, Thủ tướng, Bộ GD&ĐT, Tỉnh
Quảng Bình triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban
Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
- Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính phủ về ban hành Chương
trình hạnh động của chính phủ thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW.
- Quyết định 2653/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành kế hoạch
hành động của ngành giáo dục triển khai chương trình hành động của chính phủ.
- Kế hoạch số 610/KH-UBND ngày 09/6/2015 của UBND tỉnh về việc Thực hiện
Chương trình hành động số 27-CTr/TU ngày 29/9/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực
hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)về “Đổi
mới căn bản, toàndiệngiáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóatrong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩavà hội nhập quốc tế”.
- Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT ngày 26/8/2016 của Bộ Giáo dục và đào tạo về
nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017.
- Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương
trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
- Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê
duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
4
2. NỘI DUNG 2
I. CĂN CỨ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH:
Căn cứ Công văn số 687/GDĐT-THCS ngày 18/9/2015 của Phòng GD&ĐT Lệ
Thủy về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ cấp THCS năm học 2016 - 2017
bền, độ linh hoạt trong các khớp, phải tối ưu về mặt chức năng tâm lý. Một động tác toàn
vẹn như chạy, nhảy, ném có thể chia thành các giai đoạn (thí dụ như chạy đà, giậm nhảy,
…). Mỗi giai đoạn lại gồm nhiều bộ phận cấu thành (thí dụ như bước đà…) và các thời
điểm xác định những tư thế riêng của cơ thể VĐV (thí dụ như thời điểm kết thúc đạp sau
trong chạy…)
Chạy là phương pháp di chuyển tự nhiên của con người, là dạng phổ biến nhất trong
các bài tập thể lực và được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các môn thể thao. 1.
Nguyên lý chung của hoạt động chạy
Điền kinh là môn thể thao tổng hợp nhiều hoạt động mang tính chất tự nhiên
như đi, chạy, nhảy, ném, đẩy… Vì vậy, khi thực hiện các bài tập này tương đối dễ dàng
và ai cũng có thể hoàn thành được. Song để đạt được thành tích vận động cao trong từng
môn điền kinh, đòi hỏi người tập phải có thể lực phát triển ở mức cao, đồng thời phải có
sự hoàn thiện về kỹ thuật. Có nghĩa là phải biết sử dụng năng lực của bản thân một cách
hợp lý nhất, hiệu quả nhất để đạt được thành tích cao nhất.
Để nắm vững kỹ thuật các môn điền kinh, trước hết cần hiểu rõ cơ sở hoạt động
của chúng, đó là những nguyên lý cơ bản của mỗi loại bài tập điền kinh.
Các hoạt động trong chạy được lặp đi lặp lại sau một thời gian nhất định, nên
gọi là hoạt động có chu kỳ.
Mỗi chu kỳ trong chạy gồm có hai bước, bước của chân phải và bước của chân
trái. Trong mỗi bước lại được phân thành hai thời kỳ là thời kỳ chống tựa và thời kỳ
bay. Ở thời kỳ chống tựa trên mỗi chân lại được phân thành 3 giai đoạn:
Chân chống:
- Chống trước.
- Thẳng đứng.
- Đạp sau.
Chân lăng:
- Co gấp sau.
- Thẳng đứng.
- Đưa trước.
Kết thúc các chuyển động trên, cơ thể chuyển vào thời kỳ bay, bước tiếp theo
trước của bàn chân, tiếp tục nhanh chóng chuyển sang thời điểm thẳng đứng. Cùng với
chân chống chạm đất phía trước, chân lăng cũng tích cực lăng cẳng chân ra sau, gập sát
đùi và tích cực đưa đùi về trước. Ở thời điểm thẳng đứng, để hạn chế phản lực, giảm
chấn động cho cơ thể, người chạy cần gập khớp cổ chân, gối và hông, hạ thấp trọng tâm
với góc độ thích hợp, để thực hiện giai đoạn tiếp theo – Đạp sau.
Đạp sau, giai đoạn mang tính chất quyết định tốc độ chuyển động của cơ thể về
trước. Góc độ đạp sau nhỏ, lực đạp sau càng lớn, tốc độ di chuyển của cơ thể về trước
càng nhanh. Do điểm đặt của lực tác dụng nằm sau điểm dọi của trọng tâm, nên phản
lực sinh ra cùng chiều với chiều chuyển động. Vì vậy để tăng hiệu quả đạp sau, cần
tăng lực đạp sau, chủ yếu tăng cường sức mạnh – tốc độ của các nhóm
cơ duỗi mở các khớp hông, gối và gập bàn chân. Đồng thời phải tạo ra góc đạp sau hợp
lý. Góc đạp sau phụ thuộc tốc độ chạy, góc độ đạp sau trong chạy ngắn 420 – 450;
trong chạy cự ly trung bình là 500 – 550 và ở các cự ly dài là 550 – 600.Cùng với hoạt
động của chân chống thực hiện đạp sau, chân lăng phải hoạt động tích cực co gập cẳng
chân, đưa nhanh đùi về trước – lên trên.
Đạp sau kết thúc, cơ thể rời khỏi mặt đất, chuyển vào thời kỳ bay. Ở thời kỳ này,
hai chân tạo thành hình “kéo mở” thân trên giữ thẳng. Cuối thời kỳ bay, chân lăng phía
trước chủ động miết cẳng chân xuống dưới – ra sau, tiếp đất, thực hiện chống trước,
các chuyển động được lặp lại như ban đầu.
Riêng trong giai đoạn chạy lao sau xuất phát trong chạy cự ly ngắn, những bước
đầu tiên, hiện tượng phản lực sản sinh ở giai đoạn chống trước không gây cản trở
chuyển động của cơ thể, do ở những bước này, điểm đặt của chân chống trước luôn ở
sau điểm dọi của trọng tâm cơ thể, nên lực sinh ra cùng chiều với chiều chuyển động của
trọng tâm.
7
Chạy còn là sự chuyển động phối hợp nhịp nhàng của hai chân, thân, tay. Sự
chuyển động hợp lý giữa tay, vai và thân tạo cho cơ thể giữ thăng bằng, đồng thời còn
không tạo nên được phản lực chống, vì thế rút ngắn thời gian bay càng nhiều thì tốc độ
chạy càng tăng. Biên độ động tác đánh tay phụ thuộc vào tốc độ chạy, tốc độ càng cao,
biên độ đánh tay càng lớn. Hoạt động chéo nhau giữa tay và chân khi chạy làm cho trọng
tâm cơ thể đỡ bị dao động sang hai bên, giữ được thăng bằng và kéo dài bước chạy. Khi
chạy trên đường vòng, do xuất hiện lực ly tâm nên kỹ thuật có thay đổi. Tốc độ chạy trên
đường vòng càng lớn thì lực ly tâm càng mạnh và độ nghiêng thân người vào phía trong
càng nhiều. Sự dao động lên xuống của trọng tâm cơ thể trong chạy có thể lên tới 40 cm.
8
Vị trí cao nhất của trọng tâm là trong giai đoạn bay và thấp nhất là trong thời gian chống
tựa khi thẳng đứng. Việc dao động của trọng tâm cơ thể trong khi chạy có ảnh hưởng xấu
đến tốc độ chạy, vì thế người tập cần cố gắng hạn chế sự dao động này tới mức thích hợp.
II. KỸ THUẬT CHẠY CỰ LY NGẮN
Chạy cự ly ngắn được chia một cách quy ước thành 4 giai đoạn: xuất phát, chạy lao sau
xuất phát, chạy giữa quãng và về đích.
1. XUẤT PHÁT: Trong chạy ngắn người ta áp dụng cách xuất phát thấp vì kỹ thuật này
giúp vận động viên bắt đầu chạy nhanh hơn và sớm đạt được tốc độ cực đại trong
khoảng thời gian ngắn. Để xuất phát nhanh, người ta sử dụng bàn đạp xuất phát, bàn đạp
xuất phát bảo đảm cho vận động viên có điểm tỳ vững chắc để đạp sau, sự ổn định khi đặt
chân. Có 3 cách bố trí bàn đạp xuất phát cơ bản.
- Cách “thông thường”: bàn đạp trước đặt cách vạch xuất phát 1 – 1.5 bàn chân, còn bàn
đạp sau cách bàn đạp trước một khoảng bằng độ dài cẳng chân (gần 2 bàn chân).
- Cách “kéo dãn”: vận động viên rút ngắn khoảng cách giữa hai bàn đạp xuống còn một
bàn chân hoặc ít hơn. Khoảng cách từ bàn đạp trước đến vạch xuất phát gần 2 bàn chân
(khoảng cách này được kéo dãn).
- Cách “làm gần”: khoảng cách giữa 2 bàn đạp được rút ngắn lại còn một bàn chân hoặc
nhỏ hơn, song khoảng cách từ vạch xuất phát đến bàn đạp trước chỉ còn khoảng 1 – 1.5
bàn chân (như vậy khoảng cách từ bàn đạp sau đến vạch xuất phát được làm gần lại). Việc
đặt bàn đạp xuất phát gần nhau bảo đảm sự nổ lực đồng thời của cả hai chân khi bắt đầu
đùi và cẳng chân của chân tỳ trên bàn đạp sau khoảng 115 – 138 độ . Góc giữa thân trên
và đùi chân trước khoảng 19 – 23 độ (V.Borzop – 1980)
- Trong tư thế “sẵn sàng”, vận động viên không nên quá căng thẳng, gò bó. Điều quan
trọng lúc này là tập trung chú ý đợi tín hiệu xuất phát.
- Khi nghe súng nổ (hay những tín hiệu xuất phát khác), vận động viên phải đột ngột lao
nhanh về trước. Động tác này được bắt đầu bằng đạp mạnh hai chân à đánh tay nhanh.
Đạp sau vào mặt tựa bàn đạp xuất phát được thực hiện đồng thời bằng cả hai chân nhằm
tạo áp lực lớn trên mặt tựa để đẩy cơ thể lao nhanh về trước, song thời gian đạp bằng cả
hai chân rất ngắn. Chân sau chỉ hơi duỗi và sau đó nhanh chóng đưa đùi về phía trước,
trong khi đó, chân trước đột ngột duỗi thẳng trong tất cả các khớp
Trong bước đầu tiên, góc đạp sau từ bàn đạp của những vận động viên chạy ngắn cấp
cao khoảng 42 – 50 độ , đùi chân lăng tạo với thân trên một góc gần 30 độ . Tư thế nêu
trên giúp cho lực đạp đẩy cơ thể về trước nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho đạp sau
mạnh và giữ được độ nghiêng nói chung của cơ thể trong những bước chạy đầu tiên.
2. CHẠY LAO SAU XUẤT PHÁT
Để đạt được thành tích trong chạy ngắn, điều rất quan trọng trong xuất phát là nhanh
chóng đạt tốc độ gần cực đại trong giai đoạn chạy lao. Thực hiện đúng và nhanh các bước
chạy từ lúc xuất phát phụ thuộc vào độ lao của cơ thể dưới một góc nhọn so với mặt
đường, cũng như vào sức mạnh, sức nhanh của vận động viên. Bước đầu tiên được kết
thúc bằng việc duỗi thẳng hoàn toàn của chân đạp sau khỏi bàn đạp trước và việc nâng đùi
đồng thời của chân kia lên, ta thấy rất rõ độ nghiêng lớn khi xuất phát và việc nâng đùi
chân lăng tới mức tối ưu tạo thuận lợi cho việc chuyển sang bước tiếp theo.
Bước đầu tiên được kết thúc bằng việc tích cực hạ chân xuống dưới – ra sau và chuyển
thành đạp sau mạnh. Động tác này thực hiện càng nhanh thì việc đạp sau tiếp theo xảy ra
càng nhanh và mạnh. Trong một vài bước chạy đầu tiên, vận động viên đặt chân trên
đường ở phía sau hình chiếu của tổng trọng tâm thân thể. Ở những bước tiếp theo, chân
đặt trên hình chiếu của tổng trọng tâm và sau đó thì đặt chân ở phía trước hình chiếu của
tổng trọng tâm Cùng với việc tăng tốc độ, độ nghiêng thân trên về trước của vận động
viên giảm đi và kỹ thuật chạy lao dần chuyển sang kỹ thuật chạy giữa quãng. Chạy giữa
quãng thường bắt đầu từ mét thứ 25 – 30 (sau khoảng 13 – 15 bước chạy), khi đạt 90 –
duỗi thẳng chân đạp sau diễn ra khi đùi chân lăng nâng đủ cao và tốc độ nâng cao của nó
được giảm đi. Đạp sau được thực hiện do việc duỗi chân chống ở khớp gối và khớp cổ
chân. Trong lúc bay, đùi hoạt động càng nhanh càng tốt. Chân chống tựa khi kết thúc đạp
sau, theo quán tính hơi đưa ra sau – lên trên, sau đó chân được gấp lại ở khớp gối và bắt
đầu chuyển nhanh đùi về trước. Để giảm tác động kìm hãm tốc độ khi đặt chân trên
đường, chân tiếp xúc đất ở phần trước bàn chân, khi chân chống chuyển vào tư thế đạp
sau, chân lăng được đưa mạnh về trước – lên trên. Việc duỗi thẳng chân đạp sau diễn ra
khi đùi chân lăng nâng đủ cao và tốc độ nâng cao của nó được giảm đi. Đạp sau được thực
hiện do việc duỗi chân chống ở khớp gối và khớp cổ chân. Khi chạy giữa quãng, các
bước chạy được thực hiện thường không bằng nhau, do bước của chân khỏe thường dài
hơn. Để chạy có nhịp điệu và tốc độ đều hơn, nên tập để có được độ dài bước như nhau
của mỗi chân bằng cách lưu ý phát triển sức mạnh cơ chân yếu. Khi chạy trên đường
thẳng cần đặt mũi bàn chân thẳng về trước. Việc xoay mũi chân ra ngoài gây ảnh hưởng
xấu tới hiệu quả đạp sau. Cả trong chạy lao sau xuất phát cũng như chạy giữa quãng, tay
gấp ở khớp khuỷu được đánh mạnh về trước – ra sau phù hợp với nhịp điệu hoạt động của
chân. Tay đánh về trước hơi đưa vào trong còn khi ra sau thì hơi ra ngoài. Góc gấp của tay
ở khớp khuỷu không cố định, khi đánh ra trước tay gấp lại nhiều nhất, khi đưa xuống
dưới – ra sau thì hơi duỗi ra. Các ngón tay trong khi chạy nên nắm hờ hay duỗi. Không
nên duỗi thật thẳng các ngón tay hay nắm chúng lại thật chặt. Động tác đánh tay tích cực
không được làm nâng vai lên hoặc gò vai vì đó là những dấu hiệu đầu tiên của căng thẳng
quá mức. Kỹ thuật chạy ngắn sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu như vận động viên không biết thả
11
lỏng những nhóm cơ khi nó không cần tham gia tích cực vào hoạt động. Kết quả phát
triển tốc độ chạy đáng kể phụ thuộc vào việc biết chạy nhẹ nhàng, thả lỏng và không có
những căng thẳng thừa của vận động viên.
4. VỀ ĐÍCH:
Tốc độ chạy cực đại trong cự ly 100 – 200 m cần cố duy trì cho tới cuối cự ly, song ở
khoảng 15 – 20 m cuối cùng, tốc độ thường bị giảm đi từ 3 – 8%.
Xuất phát trong chạy 400m cũng tương tự như trong chạy 200m. Sau khi đạt được tốc độ
cần thiết, vận động viên chuyển sang bước chạy thoải mái và cố gắng duy trì tốc độ đã đạt
được càng lâu càng tốt. Cần cố gắng vượt qua cự ly với nhịp điệu tương đối đều. Vận
động viên chạy 400m cần chạy 100m đầu tiên với thời gian chậm hơn 0.3 – 0.5 giây so
với thành tích 100m của mình; chạy 200m đầu tiên chậm hơn 1.3 – 1.8 giây so với thành
tích 200m của mình. Kỹ thuật chạy trong khoảng 300m đầu ít thay đổi. Ở 100m cuối
12
cùng do mệt mỏi, kỹ thuật bị thay đổi rõ rệt. Tần số bước chậm lại, độ dài bước cũng giảm
đi.
IV. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY KỸ THUẬT CHẠY CỰ LY NGẮN
Chạy cự ly ngắn bao gồm: 60m, 100m, 200m, 400m. Kỹ thuật chạy cự ly ngắn thường
được tiến hành giảng dạy sau khi đã dạy kỹ thuật chạy cự ly trung bình và dài. Trình tự
các nhiệm vụ và biện pháp giảng dạy được tiến hành như sau:
1.Nhiệm vụ 1: Xây dựng khái niệm kỹ thuật và tìm hiểu đặc điểm chạy của người học
thông qua các biện pháp chủ yếu sau:
- Giáo viên phân tích và làm mẫu kỹ thuật
. - Cho xem phim, ảnh kỹ thuật (đúng và sai, toàn bộ và chi tiết động tác).
- Cho người học chạy lặp lại 30m – 50m, giáo viên nhận xét ưu nhược điểm của từng
người.
2. Nhiệm vụ 2: Dạy kỹ thuật chạy trên đường thẳng thông qua các biện pháp sau:
- Chạy bước nhỏ, chạy nâng cao đùi, chạy đạp sau, chạy tăng tốc độ (tăng dần cự ly, tần
số và độ dài bước chạy).
- Chạy tăng tốc độ sau đó chạy theo quán tính từ 60 – 70m.
- Tập đánh tay (đứng tại chỗ, tăng dần biên độ và tần số động tác).
- Chạy biến tốc các đoạn ngắn (40 – 60m)..
3. Nhiệm vụ 3: Dạy kỹ thuật chạy trên đường vòng với những biện pháp sau:
- Giáo viên phân tích và làm mẫu kỹ thuật.
- Chạy trên đường vòng có bán kính lớn (ô chạy thứ 5,6) sau đó thu hẹp dần (ô chạy thứ 3,
- Chạy 100m, 200m, 400m với toàn bộ kỹ thuật.
- Thi đấu và kiểm tra ở cự ly chính.
3. NỘI DUNG 3
THCS 14 - XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
Phần 1. Nhận thức việc tiếp thu nội dung kiến thức và kỹ năng
Trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học
tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hoà, trọn vẹn cửa hệ
thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tổt nhất. Dạy học tích hợp là quá trình dạy học
mà ở đó các nội dung, hoạt động dạy kiến thúc, kĩ năng, thái độ được tích hợp với nhau
trong cùng một nội dung và hoạt động dạy học để hình thành và phát triển năng lục thục
hiện hoạt động cho người học; tạo ra mối liên kết giữa các môn học và tri thức, giúp học
sinh phát triển tư duy sáng tạo và tính tích cực học tập.
I. Các yêu cầu của một kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp.
1. Dạy học tích hợp (DHTH):
Phương thức tích hợp các môn học hay DHTH đã được vận dụng tương đối phổ
biến ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, đã có nhiều môn học, cấp học quan tâm
vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp vào quá trình dạy học đề nâng cao chất lượng giáo
dục học sinh (như các môn Sinh học, Địa lí, Ngữ văn... đưa các nội dung giáo dục vào
môn học...).
DHTH chú trọng tới chương trình, kế hoạch để nâng cao năng lực, tập trung vào
năng lực chứ không đơn thuần chỉ là kiến thức. Thực hiện một năng lực là biết sử dựng
các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa. Thay vì việc dạy một sổ
lớn kiến thức cho học sinh, người giáo viên trước hết hãy xem xét xem học sinh có thể
vận dựng các kiến thức đó vào tình huống thực tế hay không, chẳng hạn như: thay vì
nhắc lại những lời mẫu nói lễ phép trong dạy học đạo đức, hãy xem xét học sinh có khả
năng lựa chọn một mẫu lời nói lễ phép trong tình huống cho trước và biết sử dụng mẫu
đó một cách đúng đắn; hoặc thay vì học một lượng kiến thức liên quan đến môi trường
(trong môn Sinh học, Địa lí...), học sinh có khả năng hành động đề bảo vệ môi trường
xung quanh mình...
DHTH đuợc hiểu là quá trình dạy học sao cho trong đó toàn bộ các hoạt động học
của một môn mà cần dạy trong sự tích hợp với nhiều môn học khác nhau... Hiện nay,
nhiều môn học đã được đưa vào nhà trưởng phổ thông, các môn học đó đã có xu hướng
phải liên kết với nhau. Điều này thể hiện quá trình mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh .
Tuy nhiên với quỹ thời gian và kinh phí có hạn, không thể đưa nhiều môn học hơn nữa
vào nhà trưởng cho dù những tri thức này rất cần thiết, vì vậy, việc dạy học tích hợp các
môn học, các nội dung giáo dục trong nhà trưởng là giải pháp quan trọng.
2. Các yêu cầu của kế hoạch dạy học tích hợp:
Các yêu cầu cơ bản đối với một kế hoạch bài học
- Cấu trúc bài soạn phải bao quát đuợc tổng thể các phuơng pháp dạy học đa dạng
và nhiều chiều, tạo điều kiện vận dụng phối hợp những phuơng pháp dạy học, mềm dẻo
về mức độ chi tiết đề có thể thích ứng đuợc với cả những giáo viên đã dày dặn kinh
nghiệm lẫn những giáo viên trẻ mới ra trường hay giáo sinh thực tập sư phạm. Đồng thời
làm nổi bật hoạt động của học sinh như là thành phần cốt yếu.
- Bài soạn phải nêu đuợc các mục tiêu của tiết học. Giáo viên cần phải xác định
chính xác trọng tâm kiến thức kĩ năng của bài dạy, trên cơ sở đó có phương pháp dạy
phối hợp. Thông qua phương pháp dạy, cách hỏi, rèn kĩ năng mà thầy giáo có thể rèn
luyện bồi dưỡng phát triển tư duy, phát triển trí thông minh của học sinh. Mục đích yêu
cầu sẽ chỉ đạo toàn bộ nội dung kế hoạch thực tiễn bài dạy và chính nội dung bài dạy
15
quy định mục đích yêu cầu. chính vì vậy việc xác định mục đích yêu cầu là vấn đề hết
sức quan trọng đòi hỏi sự dày công, ý thức trách nhiệm cao khi sọan bài.
- Bài soạn phải nêu được kết cấu và tiến trình của tiết học, bài soạn phải làm nổi bật
các vấn đề sau: Sự phát triển logic từ giai đoạn này đến giai đoạn khác, từ phần kiến
thức này đến phần kiến thức khác. Giảng dạy phỏi hợp với quy luật nhận thức, dẫn giải,
suy luận từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp một cách có hệ thống. Làm rõ sự phát
triển tất yếu từ kiến thức này đến kiến thức khác. Cụ thể là đảm bảo mối liên hệ logic
giữa các phần, bảo đảm bài dạy là một hệ toàn vẹn, mỗi phần là một phân hệ, các phân
hệ gắn bó chãt chẽ tạo nên một hệ toàn vẹn.
huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này làm công dân, làm người lao động, làm cha
mẹ, có năng lực sống tự lập.
- Xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học.
16
Trong quá trình học tập, học sinh có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những
phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biết đặt các khái niệm đã học
trong những mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như giã các môn
học khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có
như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức
đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp.
2. Phương pháp
Phương pháp dạy học theo hướng tích hợp là lồng ghép nội dung tích hợp vào các bài
dạy, tùy theo từng môn học mà lồng ghép tích hợp ở các mức độ như liên hệ, lồng ghép bộ
phận, toàn phần, ... từ đó giáo dục và rèn kĩ năng sống, giá trị sống cho học sinh.
Để vận dụng quan điểm tích hợp vào việc giảng dạy, chúng ta cần chú ý đến ba hình
thức tích hợp sau:
+ Tích hợp ngang.
+ Tích hợp dọc.
+ Tích hợp liên môn.
3.Nội dung cơ bản của dạy học tích hợp.
- Dạy học theo hướng lồng ghép tích hợp thực hiện ở một số nội dung môn học và
các hoạt động giáo dục.
- Nội dung tích hợp được bao gồm những nội dung như Tích hợp giáo dục đạo đức,
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục phòng chống tham
nhũng; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo vệ môi trường; giáo dục về dân
số, đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; giáo dục về tài nguyên và môi trường, chủ
quyền biển đảo theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT.
- Mức độ tích hợp tùy theo từng môn học, nội dung để lựa chọn mức độ tích hợp:
Như vậy, với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn
thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các
hoạt động độc lập hoặc theo nhóm để học sinh tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động
đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình.
2. Các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
Ở nội dung này cung cấp cho giáo viên một số phương pháp dạy học tích cực, đó là:
- Phương pháp dạy học gợi mở, vấn đáp;
- Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề;
- Phương pháp dạy học hợp tác nhóm nhỏ; phương pháp dạy học trực quan;
- Phương pháp dạy học “Luyện tập và thực hành”;
- Phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy.
Ở mỗi phương pháp đều nêu rõ bản chất của phương pháp, quy trình thực hiện, những ưu
điểm, hạn chế của mỗi phương pháp và những lưu ý khi sử dụng từng phương pháp.
3. Sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
Nội dung này chỉ ra những vận dụng cụ thể việc sử dụng các phương pháp dạy học
tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu của bộ môn.
Cá nhân tôi, với đặc trưng bộ môn giảng dạy là Thể Dục , trong quá trình vận dụng
những phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy, tôi đặc biệt chú ý sử dụng 4 phương
pháp là: dạy học gợi mở - vấn đáp, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, hoạt động nhóm và
dạy học trực quan. Cá nhân tôi nhận thấy, việc kết hợp sử dụng hợp lý các phương pháp
dạy học tích cực trên tạo hiệu quả bài dạy cao, học sinh hứng thú, tích cực học tập, không
khí lớp học cũng đỡ nhàm chán và chất lượng học tập của học sinh được cải thiện đáng
kể, nhất là với những bộ môn học sinh thường ngại học như môn Thể Dục. Tùy theo mức
độ của đối tượng qua tìm hiểu tôi áp dụng các phương pháp truyền đạt khác nhau cho phù
hợp với tình hình học tập, khả năng tiếp thu của mỗi lớp.
18
THCS 20 - SỬ DỤNG CÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC
1. Vai trò của thiết bị dạy học trong đổi mới phương pháp dạy học
19
(Kèm theo Thông tư số
Số
Mã thiết
T
bị
T
I. TRANH ẢNH
/2009/TT-BGDĐT ngày
dục và Đào tạo)
/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo
Tên thiết bị
Mô tả chi tiết
CSTD100
1
Động tác bật nhảy
gồm:
a. Nhảy bước bộ
trên không.
b. Chạy đà chính
cho lớp chú
6,7
Kích thước (790x540)mm
dung sai 10mm, in offset 4
màu trên giấy couché có định 8, 9
lượng 200g/m2, cán láng OPP
mờ.
Nhảy cao kiểu
Kích thước (790x540)mm
bước qua (bước đà dung sai 10mm, in offset 4
cuối - giậm nhảy - màu trên giấy couché có định 8,9
trên không - tiếp
lượng 200g/m2, cán láng OPP
đất)
mờ.
II. DỤNG CỤ
4
CSTD200
4
Loại điện tử hiện số, 2 LAP trở
Đồng hồ bấm giây lên, độ chính xác 0,001 giây,
không bị ngấm nước.
7,8,9
chuẩn của Tổng cục TDTT)
Loại thông dụng theo tiêu
20
7,8,9
8,9
8,9
Số
T
T
Mã thiết
bị
Tên thiết bị
Mô tả chi tiết
chuẩn Tổng cục TDTT. (có
thể thay thế bằng xà trúc).
Bằng mút chuyên dụng
chống chấn thương, dày từ
250 – 300mm, kích thước
CSTD200
(1600x2400)mm, vỏ bọc
9
Đệm nhảy cao
9
3
TDTT
CSTD201
Theo tiêu chuẩn của Tổng cục
14
Lưới cầu đá
4
TDTT
Cột bằng sắt, có chân đế
vững, có thể dịch chuyển độ
CSTD201
15
Bộ cột đa năng
cao (01 bộ cột có 02 chiếc ),
5
dùng cho nhảy cao, đá cầu,
cầu lông.
Bằng vải màu đỏ, xanh, vàng ,
CSTD201
16
Cờ nhỏ-đồng màu kích thước (30x20)mm, cán dài
6
450mm.
CSTD201
Theo tiêu chuẩn của Tổng cục
17
Lưới bóng chuyền
7
TDTT
Bằng cao su mềm, chu vi
9
7, 8, 9
6,7,8,
9
Số
T
T
19
20
21
22
23
Mã thiết
bị
CSTD201
9
CSTD202
0
CSTD202
1
CSTD202
2
CSTD202
3
Tên thiết bị
Lưới chắn ném
6
3. Sử dụng thiết bị dạy học; kết hợp sử dụng các thiết bị dạy học truyền thống với
thiết bị dạy học hiện đại để làm tăng hiệu quả dạy học
a. Sử dụng thiết bị dạy học phải phù hợp với mục tiêu bài học và phát huy được vai trò
tối ưu của nó
- Giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, rèn luyện thói
quen và khả năng tự học,biết kết hợp lý thuyết với thực hành,có tinh thần hợp tác.
-Đồ dùng trực quan có nhiều loại,đồ dùng trực quan hiện vật,đồ dùng trực quan tạo
hình,đồ dùng trực quan quy ước...Vì thế khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn đồ dùng trực
quan phù hợp với mục đích, yêu cầu bài học,đi theo một trình tự nhất định thì mới đạt
được hiệu quả bài dạy.
- Giáo viên phải khéo léo đưa ra những câu hỏi vừa sức với học sinh, tránh những
câu hỏi thách đố để các em rơi vào thế bí điều đó chỉ làm mất thời gian tiết dạy. Giáo viên
phải biết kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như miêu tả, tường thuật, phân tích,
hướng dẫn nhằm huy động tối đa kỹ năng làm việc của học sinh: tai nghe, mắt thấy, biết
phân tích suy luận vấn đề.
-Tuy nhiên nếu sử dụng thiết bị không phù hợp với mục tiêu bài học, hoặc quá lạm
dụng nó thì dễ làm cho học sinh bị phân tâm,phân tán tư tưởng trong tiết học dẫn đến
năng lực tư duy trừu tượng bị hạn chế.
- Việc sử dụng đồ dùng trực quan không được lạm dụng quá nhiều thời gian,không
làm loãng trọng tâm bài dạy.
-Khi dạy tiết học có sử dụng thiết bị giáo viên cần quản lý,tổ chức dạy học hợp lý
nhằm huy động mọi học sinh cùng tham gia vào việc học.
22
b. Chuẩn bị tiết dạy có sử dụng thiết bị dạy học
- Để có một tiết dạy thành công,người giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài
dạy.Khi có đủ tư liệu thì phải định hướng công việc: cần dạy những gì ,sử dụng phương
hợp tốt các phương pháp dạy học tích cực khác.
+ Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến quá trình dạy
học và sự phát triển của học sinh. Công nghệ mô phỏng nếu không phản ảnh đúng nội
23
dung và thực tế thì không nên sử dụng. Chuẩn kiến thức ở mức độ vận dụng cần kết hợp
bảng và sử dụng các phương pháp dạy học khác mới có hiệu quả.
+ Đối với các giờ thực hành, luyện tập, giáo viên cần có cách tổ chức lớp học khoa học
hợp lý để huy động mọi học sinh đều tham gia vào việc học,thực hành. Tránh tình trạng
chỉ một vài học sinh thực hiện còn các học sinh khác thì không tập trung chú ý.
THCS 23 - KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
1. Vai trò của kiểm tra đánh giá
Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách để nâng cao chất
lượng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải đổi mới một cách đồng bộ từ
đổi mới nội dung sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra đánh giá kết
quả dạy học. Kiểm tra đánh giá kết quản dạy học có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao
chất lượng đào tạo. Kết quả của kiểm tra, đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy,
hoạt động học và quản lí giáo dục. Nếu kết quả đánh giá sai sẽ dẫn đến nhận định sai về
chất lượng đào tạo, gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi mới
kiểm tra đánh giá là nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và xã hội ngày nay. Kiểm tra
đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin hăng say, nâng
cao năng lực sáng tạo trong học tập.
2. Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Phương pháp kiểm tra viết dạng tự luận.
- Phương pháp trắc nghiệm khách quan
- Phương pháp kiểm tra vấn đáp.
- Phương pháp quan sát.
3. Thực hiện các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Mọi phương pháp kiểm tra, đánh giá đều có ưu điểm và hạn chế nhất định, không