VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH THIỆN
HÀNH VI CẦU NGUYỆN
CỦA TÍN ĐỒ ĐẠO CÔNG GIÁO
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 9 31 04 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Phùng Đình Mẫn
2. GS.TS. Vũ Dũng
HÀ NỘI - 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Lê Minh Thiện
ii
Tác giả luận án
Lê Minh Thiện
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án .....................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án .....................................................3
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án.................................3
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án ................................................................4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án ...............................................................4
7. Cấu trúc của luận án ..............................................................................................5
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ
HÀNH VI CẦU NGUYỆN CỦA TÍN ĐỒ ĐẠO CÔNG GIÁO ................................. 6
1.1. Những nghiên cứu về nguồn gốc tôn giáo, cảm xúc tôn giáo ............................6
1.2. Những nghiên cứu về niềm tin tôn giáo ...........................................................12
1.3. Những nghiên cứu về hành vi tôn giáo ............................................................20
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI CẦU
NGUYỆN CỦA TÍN ĐỒ ĐẠO CÔNG GIÁO .............................................................. 29
2.1. Tôn giáo và tín đồ tôn giáo ..............................................................................29
2.2. Hành vi cầu nguyện của tín đồ .........................................................................37
Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................. 58
3.1. Tổ chức nghiên cứu ..........................................................................................58
3.2. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................64
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI
CẦU NGUYỆN CỦA TÍN ĐỒ ĐẠO CÔNG GIÁO ................................................... 71
Bảng 4.19: Niềm tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa ........................................101
Bảng 4.20: Niềm tin vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời (so sánh theo mức
sống) ......................................................................................................................102
Bảng 4.21: Niềm tin vào sức mạnh của Đức Chúa Trời .......................................104
Bảng 4.22: Niềm tin vào sức mạnh của Đức Chúa Trời (so sánh theo mức
sống) ......................................................................................................................106
Bảng 4.23: Niềm tin của tín đồ vào Thiên đàng ...................................................107
Bảng 4.24: Niềm tin của tín đồ vào Thiên đàng (so sánh theo giới tính) .............108
Bảng 4.25: Niềm tin vào Kinh thánh và giáo lý....................................................109
Bảng 4.26: Niềm tin vào Kinh thánh và giáo lý (so sánh theo tuổi) .....................110
Bảng 4.27: Niềm tin vào Kinh thánh và giáo lý (so sánh theo trình độ học
vấn) ........................................................................................................................111
Bảng 4.28: Nhận thức của tín đồ về hành động cầu nguyện .................................112
Bảng 4.29: Chuẩn bị cho hành động cầu nguyện của tín đồ .................................113
v
Bảng 4.30: Chuẩn bị cho hành động cầu nguyện của tín đồ (so sánh theo giới
tính) .......................................................................................................................114
Bảng 4.31: Nội dung hành động cầu nguyện của tín đồ .......................................117
Bảng 4.32: Nội dung hành động cầu nguyện của tín đồ (so sánh theo giới
tính) .......................................................................................................................118
Bảng 4.33: Nội dung hành động cầu nguyện của tín đồ (so sánh theo mức
sống) ......................................................................................................................120
Bảng 4.34: Tâm trạng của tín đồ khi kết thúc cầu nguyện....................................121
Bảng 4.35: Ảnh hưởng của các yếu tố từ gia đình đến hành vi cầu nguyện
của tín đồ Công giáo .............................................................................................123
Bảng 4.36: Ảnh hưởng của các yếu tố từ gia đình đến hành động cầu nguyện
(so sánh theo giới tính) ..........................................................................................124
Bảng 4.37: Ảnh hưởng của các yếu tố từ Công giáo ............................................125
ngục, Niết bàn…) mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại, cuộc sống hàng ngày
của con người. Tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang đậm màu sắc tâm lý. Nó
phản ánh rõ nét đời sống tâm lý của con người và yếu tố tâm lý mang màu sắc tôn
giáo này lại có ảnh hưởng đến hoạt động thực tiễn của con người. Việc nghiên cứu
tôn giáo với tư cách là một hiện tượng xã hội quan trọng thì không thể không tìm hiểu
dưới góc độ tâm lý. Bên cạnh đó, vai trò của hành vi cầu nguyện đối với đời sống của
tín đồ được thể hiện rõ qua các mặt đó là: nhận thức của tín đồ khi thực hiện hành vi
cầu nguyện; tình cảm của tín đồ khi thực hiện hành vi cầu nguyện và niềm tin của tín
đồ khi thực hiện hành vi cầu nguyện.
2. Xuất phát từ vai trò của các đặc điểm tâm lý đối với các tín đồ Công giáo
Đối với tín đồ tôn giáo, các đặc điểm tâm lý như: nhận thức, cảm xúc, niềm tin
tôn giáo định hướng, quy định và điều chỉnh các hành vi tôn giáo, cũng như hoạt
động sống hàng ngày của họ. Các đặc điểm tâm lý tôn giáo này cũng ảnh hưởng to
lớn đến thái độ của các tín đồ, ảnh hưởng trực tiếp đến các quan hệ xã hội.
nước ta, theo số liệu thống kê 2016 của Văn phòng Tổng Thư ký Hội đồng
Giám mục Việt Nam, Công giáo có 6.756.303 tín đồ gồm đủ các dân tộc chiếm
khoảng 7% dân số Việt Nam. Tính đến ngày 31/12/2015 có 3.057 giáo xứ thuộc 26
giáo phận và tổng giáo phận, có 46 giám mục và tổng giáo mục, 3.907 linh mục
triều và 1.290 linh mục dòng, 4.334 nam tu và 18.862 nữ tu, 4.786 chủng sinh và dự
tu, 66.624 giáo lý viên. Công giáo trở thành tôn giáo có số lượng tín đồ lớn thứ hai
trong số các tôn giáo ở Việt Nam, có quy mô hoạt động chặt chẽ so với các tôn giáo
đang có mặt tại Việt Nam. Công giáo đã có những thích nghi để phù hợp, phát triển
và thu hút đông đảo tín đồ. Cùng với sự phát triển của đạo, tín đồ Công giáo cũng
dần hình thành những đặc điểm văn hóa, ứng xử, sinh hoạt tôn giáo, những đặc
điểm tâm lý gắn liền với đời sống văn hóa dân tộc trong việc thực hành các hành vi
tôn giáo.
1
nguyện của tín đồ Công giáo.
4) Đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế
những mặt tiêu cực trong việc thực hiện hành vi cầu nguyện của tín đồ Công giáo.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ hành vi cầu nguyện của tín đồ Công giáo.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận án khảo sát 392 tín đồ Công giáo; Phỏng vấn sâu 10 linh mục, tu sĩ,
các vị chức sắc trong Ban chấp hành giáo xứ; 20 tín đồ Công giáo; Phỏng vấn và
phân tích 4 tín đồ Công giáo điển hình tại 4 giáo xứ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1) Phạm vi về nội dung: Luận án chỉ tập trung khảo sát biểu hiện của hành vi
cầu nguyện, mức độ thực hiện hành vi cầu nguyện tại gia đình và tại nhà thờ của tín
đồ, thể hiện ở các mặt: Nhận thức, cảm xúc, niềm tin và hành động của tín đồ khi
thực hiện hành vi cầu nguyện. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi cầu
nguyện của tín đồ Công giáo.
2) Phạm vi về không gian: Khảo sát tín đồ Công giáo tại 4 giáo xứ trên địa bàn
thành phố Hà Nội bao gồm: Giáo xứ Hà Đông (Quận Hà Đông); Giáo xứ Phùng
Khoang (Phường Trung Văn, Quận Nam Từ Liêm); Giáo xứ Thạch Bích (xã Bích
Hòa, Huyện Thanh Oai); Giáo xứ Đại Ơn (xã Ngọc Hòa, huyện Chương Mỹ).
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên các nguyên tắc phương pháp luận sau:
- Nguyên tắc hoạt động
Nghiên cứu hành vi cầu nguyện của tín đồ Công giáo dựa trên hoạt động sinh
hoạt tôn giáo của tín đồ thực hiện hàng ngày cũng như trong tuần. Chính qua hoạt
động tôn giáo trong phạm vi gia đình và phạm vi cộng đồng, hành vi cầu nguyện của
các yếu tố ảnh hưởng. Đây là vấn đề còn chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta
hiện nay. Kết quả nghiên cứu về mặt lý luận cũng là cơ sở lý luận cho việc nghiên
cứu các đề tài về tâm lý của tín đồ Công giáo ở nước ta.
Đóng góp về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu thực trạng hành vi cầu nguyện của
tín đồ Công giáo cho thấy: hành vi cầu nguyện của tín đồ thể hiện ở tất cả các khía
cạnh: nhận thức, cảm xúc, niềm tin và hành động. Hành vi cầu nguyện của tín đồ
được thực hiện ở mức độ thường xuyên, nghiêm túc và tự giác cao. Kết quả nghiên
cứu là cơ sở khoa học có ý nghĩa lớn đối với việc quản lý tôn giáo nói chung và
Công giáo nói riêng ở nước ta. Việc hiểu đúng về hành vi cầu nguyện của tín đồ
giúp những người quản lý ở địa phương có cách ứng xử phù hợp với Công giáo. Kết
quả nghiên cứu làm tài liệu tham khảo bổ ích phục vụ công tác nghiên cứu về tôn
giáo và giảng dạy môn Tâm lý học tôn giáo ở các trường cao đẳng, đại học, học
viện ở nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận án
Từ việc tổng quan một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan
đến đề tài luận án. Luận án đã xây dựng một cách tương đối hệ thống về lý luận
hành vi cầu nguyện của tín đồ Công giáo, từ khái niệm đến biểu hiện và các yếu tố
ảnh hưởng. Đây là vấn đề còn chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta hiện nay. Do
4
vậy, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận đối với
một phân ngành tâm lý học còn khá mới mẻ ở nước ta là tâm lý học tôn giáo và là cơ
sở lý luận cho việc nghiên cứu các đề tài về tâm lý của tín đồ Công giáo ở nước ta
sau này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu thực trạng hành vi cầu nguyện của tín đồ Công giáo cho
thấy: Tín đồ thực hiện cầu nguyện ở mức độ thường xuyên, nghiêm túc và tự giác
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ
HÀNH VI CẦU NGUYỆN CỦA TÍN ĐỒ ĐẠO CÔNG GIÁO
1.1. Những nghiên cứu về nguồn gốc tôn giáo, cảm xúc tôn giáo
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại rất sớm trong lịch sử loài
người. Song những nghiên cứu về hiện tượng này dưới góc độ khoa học tâm lý (Tâm
lý học tôn giáo) còn rất ít. Có thể nói, Tâm lý học tôn giáo là ngành khoa học còn rất
trẻ, chỉ mới xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tâm lý học tôn giáo là một
phân ngành trong tâm lý học, được nghiên cứu trong mối quan hệ với các ngành khoa
học khác, nhất là khoa học tôn giáo, thần học và xã hội học tôn giáo. Tuy nhiên,
những nghiên cứu có liên quan đến vấn đề Tâm lý học tôn giáo nói chung, nhận thức,
cảm xúc, niềm tin và hành vi tôn giáo nói riêng cũng đã được đề cập ở những mức độ
khác nhau và xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển loài người.
Trước khi Tâm lý học tôn giáo ra đời, trong các nghiên cứu về tôn giáo, một số
nhà nghiên cứu đã đề cập tới những vấn đề liên quan đến tâm lý như sau:
Khi nghiên cứu về tôn giáo dưới góc độ tâm lý học chúng ta cần lý giải về
nguồn gốc của tôn giáo. Các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận tôn giáo khác
nhau. Theo đó:
+ Cách tiếp cận theo thuyết xung đột
Theo hướng này, các nhà nghiên cứu giải thích nguồn gốc hình thành tôn giáo
bắt nguồn từ xung đột. Đó là các nghiên cứu của Sigmund Freud (1856 - 1939) và
Anton Boisen (1876). Theo Freud, tôn giáo được sản sinh bởi cảm giác tội lỗi và tâm
lý hối hận. Khi nói về nguồn gốc của tôn giáo, Freud viết: “Sự phân tích tâm lý cho
chúng ta thấy có sự liên hệ mật thiết giữa mặc cảm người cha và niềm tin vào Chúa
Trời. Cá nhân Chúa Trời không phải là cái gì khác mà chính là tâm lý sùng bái người
cha” [15, tr. 26 - 30]. Như vậy, Freud dựa vào mặc cảm Ơ đíp để giải thích nguồn gốc
tôn giáo cũng như coi xung đột là cơ sở để hình thành tôn giáo. Nhưng Anton Boisen
lại cho rằng do những rối loạn tâm thần nảy sinh tôn giáo [15, tr. 31].
đình theo Tin lành, chứ chưa đề cập tới nhận thức tôn giáo của các tín đồ, mà nếu
có, cũng chỉ mới đề cập tới khía cạnh nhận thức về Chúa.
Ikhnaton đã từ chối những truyền thống tôn giáo của những thầy tu, thánh
đường để tìm đến những giá trị tinh thần (tâm lý) của tôn giáo mới. Trên cơ sở
những bài thánh ca và những ghi chép còn lại chứng tỏ tôn giáo đã được biết đến và
được hiểu như kinh nghiệm mang tính xúc cảm.
Jonathan Edwards (1703 - 1758) và Friedrich Schleirmacher (1768 - 1834) đã
sử dụng Tâm lý học vào tìm hiểu Thần học. Các tác giả này đã đề cập tới cảm xúc
và tình cảm tôn giáo.
7
Những quan điểm của đạo Cơ đốc giúp chúng ta hiểu một cách đáng kể về tâm
lý tín đồ. Tình cảm của tín đồ là biểu hiện của đời sống nội tâm, nó thể hiện từ
những biểu hiện bên ngoài đến những mong muốn, động cơ, tình yêu thương và suy
nghĩ bên trong của mỗi người.
Gordon W. Allport (1897 - 1967) đã mô tả tình cảm tôn giáo dưới góc độ Tâm
lý học. Theo ông, hệ thống sở thích, sự quan tâm trong cấu trúc nhân cách của cá
nhân là tiền đề quyết định nên tình cảm tôn giáo. Sự hình thành tình cảm tôn giáo ở
các cá nhân rất khác nhau. Tình cảm là động lực để con người thực hiện lợi ích cá
nhân. Tình cảm tôn giáo ở một cách nhìn khác, nó khác với dạng tình cảm khác của
con người, đặc biệt là tình cảm thể hiện ở mức độ sâu sắc.
James H. Leuba (1868 - 1946), một nhà khoa học dành suốt cuộc đời mình để
nghiên cứu tôn giáo, qua những nghiên cứu dựa vào những quan điểm của chủ
nghĩa tự nhiên của mình, ông đã giải thích và làm sáng tỏ sự khác biệt về tư tưởng,
tình cảm và ý thức của những người theo và không theo tôn giáo. Theo ông, chân lý
của tôn giáo là sự rút ra từ kinh nghiệm và sự nhầm lẫn chủ quan của mọi người.
Ông nghiên cứu niềm tin vào Chúa trời và sự bất tử. Ông đã chỉ rõ nguồn gốc tâm
lý, sự phát hiện ra niềm tin tôn giáo phát sinh từ 2 nguồn gốc đó là: nhu cầu giải
các cấp độ khác nhau, phản ánh tâm lý được thực hiện
dưới các hình thức khác nhau [74, tr. 244 - 258].
Trong Từ điển Thuật ngữ Tâm lý học (2012), khái niệm nhận thức được xác định
một cách đơn giản là “Hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức nào đó,
hiểu biết những quy luật về hiện tượng, quá trình nào đó” [23, tr. 366 - 387].
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về tôn giáo của các tác
giả Việt Nam đã tăng lên về số lượng. Việt Nam đã có những cơ quan làm công tác
tôn giáo, nghiên cứu về những vấn đề tôn giáo. Có cả những nhà nghiên cứu tôn
giáo thuộc các lĩnh vực, những người có niềm tin tôn giáo và những người không có
niềm tin tôn giáo cùng nghiên cứu về lĩnh vực này.
Các công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Nghiêm Vạn về tín ngưỡng, tôn
giáo; về niềm tin và việc thực hành các lễ nghi tôn giáo của tín đồ Công giáo nhưng
mới chỉ dừng lại ở mức khái quát từ góc độ Xã hội học.
Tác giả Đỗ Quang Hưng (1990, 2003, 2005, 2012) đã đi vào nghiên cứu lịch
sử của quá trình truyền giáo và sự phát triển của Công giáo ở nước ta, những đóng
góp của các chức sắc tôn giáo và giáo dân trong các cuộc đấu tranh giải phóng đất
nước. Bên cạnh đó, ông đi sâu vào nghiên cứu hình ảnh của người Công giáo dưới
lăng kính của nhà khoa học, đó là những đóng góp của tín đồ, đời sống tôn giáo và
xã hội của các tín đồ và chức sắc tôn giáo. Những tín đồ, chức sắc Công giáo đã
đóng góp công sức của mình cho công cuộc phát triển đất nước.
Tác giả Vũ Dũng cũng đã tập trung nghiên cứu một khía cạnh tâm lý của tín đồ
một số tôn giáo như đạo Tin lành, Công giáo, Phật giáo ở nước ta. Cụ thể nghiên cứu
về khía cạnh tâm lý của cộng đồng tín đồ đạo Tin lành ở Tây Nguyên (2013), tác giả
tập trung vào những khía cạnh: nhận thức, niềm tin, hành vi tôn giáo của tín đồ khi
9
động. Những cảm xúc tích cực giúp cho hoạt động của con người đạt năng suất,
hiệu quả hơn trong lao động, quan hệ người người trở nên nhân ái hơn. Những cảm
10
xúc tiêu cực làm cho con người mệt mỏi, lao động kém năng suất, ít quan tâm, ít
giúp đỡ nhau trong lao động cũng như trong sinh hoạt hàng ngày.
Nếu trong đời sống con người, cảm xúc lan tỏa đến hết mọi lĩnh vực và khía
cạnh của đời sống thì trong tôn giáo, cảm xúc cũng chi phối từ nhận thức đến hành
vi của tín đồ. Sẽ không hiểu đúng và đầy đủ về tín đồ và tôn giáo nếu không hiểu về
tình cảm tôn giáo của tín đồ.
Cảm xúc tôn giáo là một khía cạnh tâm lý quan trọng nhất của bất kỳ tôn giáo
nào. Trong Công giáo, cảm xúc của tín đồ đối với Chúa qua hành vi cầu nguyện là
một khía cạnh tâm lý thể hiện ở tầng bậc sâu của mỗi cá nhân, đó là tình yêu Thiên
Chúa, sự sùng kính, tôn thờ Thiên Chúa và chỉ có cá nhân mới nhận thức được cảm
xúc đó một cách rõ nét nhất. Cảm xúc này không chỉ thể hiện qua hành động cầu
nguyện ở gia đình, ở nhà thờ mà còn thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc. Nếu thiếu lòng
yêu mến và sự sùng kính thì tín đồ không thể đến với Chúa.
tín đồ Công giáo tồn
tại hai dạng tình yêu: tình yêu Thiên Chúa và tình yêu con người. Trong hai dạng
tình yêu này thì tình yêu Thiên Chúa giữ vị trí thứ nhất sau mới đến tình yêu con
người. Tuy nhiên, hai tình yêu này không mâu thuẫn với nhau.
Cảm xúc của tín đồ đối với Chúa bao gồm những cảm xúc tích cực và tiêu cực.
Những cảm xúc tích cực gồm tình yêu, sự kính phục, tôn kính, yêu mến… đối với
lực lượng thần thánh hay đối với cộng đồng tôn giáo. Cảm xúc này góp phần tạo
nên đặc trưng xu hướng tôn giáo. Còn cảm xúc tiêu cực là những cảm xúc lo lắng,
hồi họp, sợ hãi, cảm giác nhỏ bé trước lực lượng siêu nhiên... Những cảm xúc của
Các nhà triết học khi nghiên cứu nguồn gốc nảy sinh niềm tin tôn giáo đã cho
rằng, niềm tin tôn giáo là do các trạng thái tâm lý của con người gây ra, mà trạng
thái tâm lý này lại do tác động của hoàn cảnh kinh tế xã hội tạo nên. Theo các nhà
triết học Demokrit (460 - 370 TCN), Baruch Spinoza (1632 - 1677), Ludwig
Feuerbach (1804 - 1872), khi con người lâm vào hoàn cảnh sống khó khăn, bế tắc,
không tìm được cách giải quyết, họ đã có trạng thái tâm lý hoang mang, lo lắng, sợ
hãi. Do vậy, họ đã tin và các lực lượng thần thánh để tìm kiếm sự che chở và giúp đỡ
[15, tr. 44 - 46].
Trong nghiên cứu của mình về tôn giáo, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin đều cho rằng, niềm tin tôn giáo là niềm tin vào những đối tượng hư ảo, không
tồn tại trong thực tế. Niềm tin đó là do những bất lực của con người trước cuộc đấu
tranh chống thiên nhiên và trong cuộc đấu tranh chống giai cấp bóc lột. C. Mác
(1818 - 1883) cho rằng, niềm tin tôn giáo là niềm tin vào “những bông hoa tưởng
tượng”. Theo Ăng-ghen (1820 -1895), niềm tin tôn giáo chỉ là niềm tin vào lực
lượng không tồn tại trên trần thế. Theo V.I. Lê-nin, niềm tin tôn giáo là niềm tin vào
thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu… [15, tr. 53 - 54].
Niềm tin tôn giáo được một số tác giả tiếp cận theo hướng xã hội học trong
mối liên hệ với sự phát triển kinh tế nói riêng, sự phát triển xã hội nói chung. Max
12
Weber (1864 - 1920) cho rằng, niềm tin của những người theo đạo Tin lành là niềm
tin vào Chúa Trời - người có quyền uy tối thượng... Để đạt được niềm tin đó con
người phải làm việc không mệt mỏi [15, tr. 54]. Theo E. Durkheim (1858 - 1917),
niềm tin tôn giáo không thể tách rời các tổ chức xã hội. Ông đã gắn niềm tin tôn
giáo vào niềm tin và tình cảm của các cá nhân trong một tập thể [15, tr. 55].
S. Freud (1856 - 1939) với hai tác phẩm Totem et Tabou (Vật tổ và Cấm kỵ)
xuất bản năm 1913 và The Future of an Illusion (Tương lai của một ảo tưởng), xuất
bản năm 1927 là những tác phẩm lớn đề cập tới tôn giáo và niềm tin tôn giáo. Trong
Chương 4 cuốn Vật tổ và Cấm kỵ (Sự hồi quy ấu trĩ của Totem giáo), ông đi sâu
niềm tin tôn giáo [15, tr. 46 - 47], [142, tr. 30].
Hai nhà tâm lý học E. Ôđôgerti, G. Gephund nghiên cứu nguồn gốc niềm tin
tôn giáo từ nhận thức và tình cảm cá nhân. E. Ôđôgerti cho rằng, niềm tin tôn giáo
được bắt nguồn từ hoạt động nhận thức về các khách thể siêu nhiên, tồn tại ngoài
không gian, thời gian và không thể đạt được bằng kinh nghiệm con người. G.
Gephund lại cho rằng, tình cảm là cơ sở của niềm tin tôn giáo [15, tr. 55 - 56].
Theo Karl Barth (1886 - 1968), niềm tin tôn giáo phản ánh sự đối xử từ bi của
Thượng đế với con người. Niềm tin của tín đồ Kitô giáo bắt đầu từ Thượng đế. Đó
là niềm tin vào sự hùng hậu và sức mạnh vô biên của Thượng đế, đồng thời các tín
đồ lại ý thức về sự nhỏ bé, yếu ớt của mình. Theo ông, niềm tin tôn giáo được cấu
thành từ hai mặt tương phản: sức mạnh của lực lượng siêu nhiên và sự yếu ớt của
con người trước lực lượng đó.
Về đặc điểm của niềm tin tôn giáo, trên cơ sở so sánh sự khác nhau giữa niềm
tin tôn giáo và niềm tin phi tôn giáo, nhà tâm lý học Nga D.M. Ugrinovich (1986)
đã chỉ ra các đặc điểm của niềm tin tôn giáo. Theo ông, niềm tin tôn giáo là niềm tin
hư ảo, niềm tin không có tính lôgíc và niềm tin bền vững ở các tín đồ.
B. Russell (1872 - 1970) quan tâm về các vấn đề tôn giáo như: Mối quan hệ
giữa tôn giáo và khoa học, niềm tin tôn giáo; những đóng góp của tôn giáo trong
nền văn minh nhân loại. Những vấn đề này được thể hiện ở nhiều tác phẩm: Bản
chất của tôn giáo (1912), Tôn giáo và Giáo hội (1916), Những điều tôi tin (1925),
Tại sao tôi lại không phải là tín đồ Kitô giáo? (1927), Tôn giáo có đóng góp hữu
ích gì cho nền văn minh hay không? (1930), Tôn giáo và khoa học (1935).
B. Russell, khi bàn về niềm tin tôn giáo, cho rằng, mọi đức tin mù quáng đều
tai hại và đức tin tôn giáo là một đức tin vô căn cứ. Vì thứ nhất, không thể đánh giá
được đức tin nào là tốt và đức tin nào là xấu; thứ hai, chúng ta chỉ có thể định nghĩa
“đức tin” là niềm tin vững chắc vào một cái gì đó không thể chứng thực được. Ông
viết: “Chúng ta không bao giờ nói đến đức tin khi hai cộng hai bằng bốn hay trái đất
hình tròn. Chúng ta chỉ nói đến đức tin khi chúng ta muốn thay thế cảm xúc cho
chứng cớ” [152, tr. 215]. Ông cũng thừa nhận rằng rất khó tìm thấy cái gì có thể
thay thế niềm tin tôn giáo. Theo ông, “Mặc dù chúng ta đã được truyền thụ về thiên
trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 1 năm 2001 công bố kết quả nghiên cứu niềm
tin tôn giáo ở các tín đồ Phật giáo, Kitô giáo và cả những người không theo tôn giáo
trên địa bàn Hà Nội. Bài viết này cho thấy niềm tin tôn giáo không chỉ có ở các tín
đồ tôn giáo mà còn có cả ở những người không theo tôn giáo [17].
Kết quả các công trình nghiên cứu thực tiễn về tôn giáo ở nước ta của tác giả
Vũ Dũng [21, tr. 28 - 30] chỉ ra những biểu hiện cơ bản của niềm tin tôn giáo và
một số đặc điểm của niềm tin tôn giáo. Đó là niềm tin vào thần thánh, niềm tin vào
một thế giới khác (đó là Thiên đàng và Địa ngục). Tác giả đã phân tích về niềm tin
của người dân nước ta về một thế giới khác [19, tr. 11 - 16]. Từ góc độ lý luận và
15
thực tiễn, tác giả Vũ Dũng đã phân tích về sự thỏa mãn nhu cầu tinh thần của người
dân nước ta qua hình thức sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng. Kết quả nghiên cứu thực
tiễn của tác giả cũng đã phân tích sâu hơn khía cạnh niềm tin của con người vào
thần thánh và chỉ ra rằng có một tỷ lệ đáng kể tín đồ và người dân không theo tôn
giáo tin vào lực lượng thần thánh [18, tr. 16 - 22].
Trong những năm gần đây, tác giả Vũ Dũng (2013, 2014) cũng đã tập trung
nghiên cứu tâm lý của tín đồ của một số tôn giáo như đạo Tin lành, Công giáo, Phật
giáo ở nước ta. Cụ thể, trong nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của cộng đồng tín đồ
Tin lành ở Tây Nguyên, tác giả tập trung vào những khía cạnh: nhận thức về đạo,
niềm tin đối với đạo và hành vi cầu nguyện của tín đồ [24]. Nghiên cứu những đặc
điểm tâm lý cơ bản của tín đồ Công giáo nước ta, tác giả tập trung và nghiên cứu về
khía cạnh nhận thức về bổn phận của tín đồ, niềm tin tôn giáo, hành vi tôn giáo, tình
cảm tôn giáo... và sự ảnh hưởng của những khía cạnh này đến đời sống tâm lý xã hội
của tín đồ [27].
Vũ Mạnh Toàn (2010) nhận xét: “Đứng trên lập trường duy vật biện chứng,
quan điểm của B. Russell là quan điểm vô thần nhất quán. Quan điểm đó chống lại
niềm tin tôn giáo mù quáng, đề cao vai trò của con người và khoa học với khát vọng
của tín đồ người dân tộc thiểu số ở Gia Lai”, tác giả Vương Thị Kim Oanh (2006)
cho rằng, niềm tin tôn giáo là định hướng giá trị vững chắc của những người theo tôn
giáo, cộng đồng tôn giáo về lực lượng siêu nhiên và một thế giới khác [86, tr. 56].
Cũng trong năm 2006, tác giả Trịnh Đức Phong và đồng nghiệp thực hiện
nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Đặc điểm tâm lý của cộng đồng người theo đạo Thiên
Chúa di cư tại một số tỉnh, thành phía Nam - Những vấn đề cần vận dụng trong
công tác công an”. Kết quả nghiên cứu cho thấy cộng đồng tín đồ Thiên Chúa giáo
di cư tại một số tỉnh thành phía Nam tuy có niềm tin tôn giáo sâu sắc nhưng lại
không sâu sắc trong nhận thức về Chúa, về giáo lý… [87].
Nguyễn Hồng Dương cũng có nhiều công trình nghiên cứu về Công giáo. Ông
đi sâu vào hướng nghiên cứu về cơ cấu tổ chức của giáo hội, đặc điểm của làng
Công giáo, các công trình nghiên cứu về nghi lễ và lối sống của tín đồ Công giáo
trong lịch sử và hiện tại. Tác giả còn nghiên cứu về văn hóa Công giáo trong mối
quan hệ và phát triển tại Việt Nam [31, tr. 50].
Tác giả LM. Trần Xuân Chiêu, trong cuốn Interreligious dialogue - The case
of Buddhism and Christianity xuất bản tại Manila năm 2001, đã đi sâu nghiên cứu
tôn giáo trong sự giao tiếp liên tôn. Đó là sự đối thoại giữa các tôn giáo mà cụ thể là
hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Công giáo. Theo tác giả thì đối thoại nhằm giúp
chúng ta hiểu nhau hơn, chia sẻ với nhau, tôn trọng nhau. Đối thoại còn là phương
tiện thúc đẩy lòng tôn trọng lẫn nhau, mối quan hệ tốt đẹp tình yêu cũng như sự
hiểu biết và khát khao nuôi dưỡng phát triển tinh thần. Giúp những người khác nhau
về niềm tin sống hòa thuận hơn [136].
Nguyễn Thị Minh Ngọc (2014), tác giả tìm hiểu niềm tin tôn giáo trong mối
quan hệ với niềm tin xã hội. Kết quả nghiên cứu về tôn giáo trong những năm 1992 1994 và năm 1994 - 1998 và cuộc khảo sát tôn giáo tại khu vực Tây Nguyên năm
2013, đã chỉ ra:
Việt Nam hiện nay có sự gia tăng niềm tin của tín đồ trong cộng
17
(Vàng Trứ) ở mức độ thấp. Những khủng hoảng cá nhân và gia đình thường là các
sự kiện dẫn nhiều người đến với đạo.
một mức độ sâu rộng, chấp nhận đạo Tin
lành có nghĩa là thay thế hoàn toàn tín ngưỡng/tôn giáo truyền thống, cũng đồng
18
nghĩa với việc từ bỏ phong tục tập quán thờ cúng tổ tiên, một điều được cho là tích
cực, tốt đẹp, thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta [50].
Qua việc điểm luận những kết quả nghiên cứu về niềm tin tôn giáo của chúng
tôi, có thể nhận thấy các tín đồ Công giáo có niềm tin tuyệt đối với Thiên Chúa,
niềm tin vào Thiên Chúa là niềm tin không cần chứng minh. Niềm tin của tín đồ
còn thể hiện ở sự tin tưởng và khát vọng được lên Thiên đàng (mục đích hướng tới
cuối cùng của con người sau khi chết); niềm tin vào các chức sắc tôn giáo. Theo
hiểu biết của các tín đồ thì chức sắc là những người thay mặt Chúa ở trần gian, làm
thừa tác viên của Thiên Chúa, tham gia vào những công việc tôn giáo như dâng lễ,
chăm lo đời sống đức tin, truyền giảng Kinh thánh, giáo lý nên niềm tin vào chức
sắc thấp hơn niềm tin vào Chúa [106]; [47].
Khi nói đến niềm tin là chúng ta nói tới một định hướng giá trị vững chắc, có
vai trò chi phối, điều chỉnh từ nhận thức đến hành vi con người. Nó là yếu tố tâm lý
trung tâm trong đời sống tâm lý con người. Niềm tin tôn giáo của tín đồ Công giáo
là định hướng giá trị vững chắc.
Niềm tin tôn giáo của tín đồ Công giáo có vai trò định hướng, chi phối và điều
chỉnh từ nhận thức đến hành vi của tín đồ. Niềm tin tôn giáo của tín đồ Công giáo
(cũng như cộng đồng các tôn giáo nói chung) được thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Niềm tin đối với Đức Chúa Trời mà trước hết là niềm tin vào sức mạnh của
Đức Chúa Trời. Các tín đồ tin rằng Đức Chúa Trời có sức mạnh vô song. Người