MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lựa chọn nghề nghiệp, định hướng tương lai luôn là chủ đề nóng thu
hút sự quan tâm của xã hội. Việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh
phổ thông được xem là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, không ít học sinh đã có những
quyết định không chính xác trong lựa chọn nghề nghiệp. Việc này không
chỉ khiến học sinh lãng phí thời gian, công sức, tiền của mà còn gây nên sự
mất cân bằng trong xã hội.
Công tác GDHN cho học sinh trường THPT A Bình Lục, huyện Bình
Lục, tỉnh Hà Nam trong những năm gần đây đã được coi trọng, đã đạt
được những kết quả khả quan, góp phần tích cực trong việc giáo dục toàn
diện cho HS. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được quan tâm hơn nữa,
trong đó có những vấn đề liên quan đến công tác quản lý của nhà trường.
Để công tác GDHN cho HS luôn đảm bảo yêu cầu, nhà trường cũng đã có
một số biện pháp quản lý GDHN, tuy nhiên các biện pháp đó chưa thực sự
phát huy hết tác dụng trong công tác GDHN. Điều đó, đòi hỏi nhà trường
cần có các biện pháp quản lý mới phù hợp và có hiệu quả hơn, góp phần
nâng cao chất lượng toàn diện của nhà trường.
Xuất phát từ những lý do nói trên, tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trường THPT A Bình Lục,
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho HS trường
THPT A Bình Lục, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nhằm phát triển một số
năng lực của học sinh phù hợp với đặc điểm cá nhân, định hướng nghề
nghiệp, tạo cơ hội cho học sinh chuẩn bị cho giai đoạn học tập sau giáo
dục phổ thông tiếp cận với các lĩnh vực đào tạo đại học, cao đẳng, nghề
bậc cao hoặc đi vào cuộc sống.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Phương pháp chuyên gia
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
Phần mở đầu.
Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở
trường THPT A Bình Lục, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở
trường THPT A Bình Lục, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Kết luận và khuyến nghị.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài
Ở Cộng hòa dân chủ Đức trước đây các nhà sư phạm như: Heinz
Frankiez, Ubrich Viets…đã đề xuất và áp dụng hình thức giáo dục hướng
nghiệp và giáo dục phổ thông cho học sinh phổ thông tại các trung tâm kỹ
thuật tổng hợp và các nhà máy, xí nghiệp.
Tại Pháp, năm 1848 xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên.
Năm 1909, Frank Parsons – được biết đến như cha đẻ của nghề hướng
nghiệp ở Mỹ, bàn đến hướng nghiệp cho học sinh cần phải dựa trên năng
lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân qua cuốn “Chọn lựa một
1.2.3. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là những tác động tự giác (có ý thức, có kế
hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu
trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giáo viên, nhân viên và người
học,…) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt
tới mục tiêu giáo dục.
1.2.4. Hướng nghiệp
Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động của gia đình,
nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm
hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành
nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với
hứng thú, năng lực cá nhân.
1.2.5. Giáo dục hướng nghiệp
GDHN là hệ thống các biện pháp GD của nhà trường, gia đình và xã
hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng để họ
có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất và cuộc sống.
GDHN góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời
góp phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu
cầu phân công lao động trong xã hội.
1.2.6. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Quản lý hoạt động GDHN là một bộ phận của quản lý GD, là hệ
thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy
luật của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí của hoạt động GDHN nhằm
thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GDHN cho học sinh phổ
thông.
1.3. Chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông và định hướng giáo dục
hướng nghiệp trong trường THPT
Những chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông và định hướng giáo
GDHN trong trường phổ thông được thực hiện qua năm con đường:
- Hướng nghiệp qua dạy học các môn văn hóa
- Hướng nghiệp qua giáo dục nghề phổ thông và lao động sản xuất
- Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khóa, tham quan
- Hướng nghiệp thông qua bộ môn hoạt động GDHN
- Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp
1.4.3. Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp
- Ý nghĩa giáo dục
- Ý nghĩa kinh tế
- Ý nghĩa xã hội
1.5. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường
THPT
1.5.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp
1.5.2. Tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp
1.5.3. Chỉ đạo hoạt động giáo dục hướng nghiệp
1.5.4. Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục hướng nghiệp ở
trường trung học phổ thông
1.6.1. Nhận thức của CBQL, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh
về GDHN trong trường phổ thông
1.6.2. Đội ngũ giáo viên
1.6.3. Cơ sở vật chất, tài chính cho giáo dục hướng nghiệp
1.6.4. Cơ chế chính sách, điều kiện kinh tế - xã hội
1.6.5. Hệ thống tài liệu và nguồn thông tin
Tiểu kết chương 1
GDHN cho học sinh THPT là yêu cầu tất yếu trong thời kỳ hội nhập
của nền kinh tế thị trường. GDHN là một mặt giáo dục quan trọng trong
giáo dục toàn diện cho học sinh. Hoạt động GDHN phải trở thành một
- Tình hình trường lớp năm học 2014 - 2015:
+ Về cơ sở vật chất: Trường có tổng diện tích là 14730m 2, có 35
phòng học cao tầng kiên cố, có phòng học bộ môn, phòng y tế học đường,
phòng truyền thống…
+ Về đội ngũ: nhà trường có 71 cán bộ, giáo viên, nhân viên. 100%
có trình độ đạt chuẩn (trong đó có 8 người có trình độ thạc sĩ).
+ Học sinh: Tổng số học sinh đầu năm học là 1189 học sinh với 27
lớp.
+ Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao; tỷ lệ học sinh tốt
nghiệp THPT, thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng, TCCN ngày càng
tăng; số học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh tăng theo
từng năm. Tình hình phân luồng học sinh ở trường THPT A Bình Lục
trong những năm qua luôn được quan tâm.
2.3. Thực trạng GDHN ở trường THPT A Bình Lục, tỉnh Hà Nam
2.3.1. Thực trạng nhận thức về GDHN của cán bộ, giáo viên, học sinh
và CMHS ở trường THPT A Bình Lục, tỉnh Hà Nam
2.3.1.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ, giáo viên về GDHN
Qua khảo sát cho thấy, 100% cán bộ, giáo viên đều thể hiện có quan
tâm đến GDHN, tuy nhiên mức độ quan tâm có khác nhau: chỉ có 9/45 cán
bộ, giáo viên được hỏi (20,0%) cho là rất quan tâm đến GDHN, số cán bộ,
giáo viên quan tâm ở mức bình thường là 31/45 (chiếm 68,9%) và có 5/45
cán bộ, giáo viên (11,1%) thể hiện thái độ ít quan tâm đến GDHN.
Khi khảo sát giáo viên về những khó khăn trong việc tổ chức hoạt
động GDHN cho học sinh, chúng tôi nhận được kết quả như sau:
Bảng 2.3. Ý kiến của giáo viên về những khó khăn khi tổ chức hoạt
động GDHN cho học sinh
ST
T
3
2
1
20
8
4
0
3,93
14
7
6
1
3,89
15
12
Các ý kiến trả lời được mã hóa theo các mức độ, cụ thể: 5- Rất đúng;
4- Tương đối đúng; 3- Không hoàn toàn đúng; 2- Hầu như không đúng; 1Rất không đúng. Với kết quả ở bảng trên cho thấy có nhiều khó khăn khi
tổ chức hoạt động GDHN ở trường THPT A Bình Lục.
2.3.1.2. Thực trạng nhận thức của học sinh về GDHN
Bảng 2.4. Ý kiến của học sinh về sự cần thiết của hoạt động GDHN
5
Vai trò của GDHN đối với HS
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Rất cần thiết
165
55,0%
Cần thiết
117
39,0%
Có cũng được, không có cũng được
15
5,0%
Không cần thiết
3
1,0%
Qua bảng thống kê cho thấy, đa số các em học sinh đều có nhu cầu
được giáo dục hướng nghiệp. Điều này cho thấy, nếu như GDHN được tổ
chức một cách chuyên nghiệp, quy mô, bài bản sẽ thu hút được sự tham
gia, ủng hộ từ phía các em học sinh.
Bảng 2.5. Ý kiến của học sinh về dự định của bản thân sau khi
tốt nghiệp THPT
Khối, lớp
Lớp 10
Bảng 2.6. Ý kiến của học sinh về lý do chọn nghề của bản thân
Tổng
Số lượng
Tỉ lệ %
Lý do chọn nghề
1 Thích
51
17,0%
2 Phù hợp với khả năng
143
47,7%
3 Do gia đình định hướng
42
14,0%
4 Dễ xin việc
20
6,7%
5 Ổn định
22
7,3%
6 Kiếm được nhiều tiền, thu nhập cao
16
5,3%
7 Những lý do khác
6
2,0%
Nhìn chung, các em học sinh bước đầu đã có sự nhận thức khả năng
của bản thân để lựa chọn nghề nghiệp phù hợp cho mình, đa số các em đều
quan tâm đến lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai và thấy GDHN là cần
thiết.
5%
7
7%
1
1%
Thông tin học sinh có được về ngành học của mình nhiều nhất qua
các phương tiện truyền thông như tivi, sách báo, internet, đặc biệt qua
cuốn sách “Những điều cần biết về tuyển sinh Đại học, Cao đẳng”. Việc
lựa chọn nghề nghiệp của học sinh cũng có sự tác động nhất định từ phía
gia đình (32%).
Qua kết quả khảo sát trên ta thấy, học sinh trường THPT A Bình Lục
đã có nhận thức khởi đầu về hướng nghiệp nhưng vẫn còn khá mơ hồ về
các ngành nghề cụ thể. Việc chọn nghề còn mang tính tự phát là chủ yếu
do thiếu sự hướng dẫn của hoạt động tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp.
Điều đó đòi hỏi những nhà giáo dục cần phải làm tốt công tác giáo dục tư
vấn hướng nghiệp cho học sinh và làm tốt công tác phân luồng cho học
sinh trong các nhà trường để giảm bót gánh nặng, áp lực của kỳ thi Đại
học.
2.3.1.3. Thực trạng nhận thức của cha mẹ học sinh về GDHN
Đa số phụ huynh trường THPT A Bình Lục đều rất quan tâm tới vấn
đề chọn trường, chọn ngành học, chọn nghề cho con em mình, họ cho rằng
hoạt động GDHN trong nhà trường là rất cần thiết (58%).
Và đa số phụ huynh hướng con đến các nghề dễ xin việc sau khi ra
trường (38%), ổn định (25%), kiếm được nhiều tiền, thu nhập cao (15%).
Số phụ huynh lựa chọn nghề nghiệp cho con dựa trên cơ sở năng lực, sở
trường, sở thích và sự phù hợp của con mình với nghề nghiệp chưa nhiều
chỉ có 10%, do con thích 5% và một số phụ huynh không lựa chọn những
lý do trên là 7%.
GDHN
Nhà trường tổ chức tốt GDHN thông
3 qua dạy nghề phổ thông và lao động 49 143 98 10 2,77
sản xuất.
Nhà trường tổ chức tốt hoạt động ngoại
4 khóa, tham quan giúp HS định hướng 63 120 96 21 2,75
nghề nghiệp.
Nhà trường tổ chức sinh hoạt hướng
5
53 135 95 27 2,78
nghiệp phong phú
Qua bảng trên ta thấy, việc thực hiện GDHN thông qua các hình thức
GDHN ở trường THPT A Bình Lục được thể hiện ở mức trung bình khá.
2.3.2.1. Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh qua dạy các
môn văn hóa
Nội dung hướng nghiệp tích hợp trong giảng dạy các môn văn hóa
hầu như chưa được đề cập nhiều trong giáo án và cũng chưa đề cập đến
trong các buổi sinh hoạt tổ, nhóm. Đa số giáo viên chưa chú trọng đến
công tác hướng nghiệp, coi hướng nghiệp là công việc thực hiện ngoài giờ
lên lớp, coi đó là công việc của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên dạy hướng
nghiệp và của gia đình học sinh. Chỉ một số ít giáo viên quan tâm, tâm
huyết với hướng nghiệp mới tiến hành.
2.3.2.2. Thực trạng GDHN cho học sinh thông qua các buổi sinh
hoạt hướng nghiệp
Hàng năm, nhà trường đều tổ chức buổi sinh hoạt hướng nghiệp cho
học sinh khối 12. Tuy nhiên, hoạt động này thường được tổ chức theo
khối, số lượng học sinh rất đông nên khó lòng đáp ứng được nhu cầu tìm
hiểu ngành nghề của từng em.
2.3.2.3. Thực trạng GDHN cho học sinh thông qua dạy môn hoạt
động GDHN
và tự phân công nhau giảng dạy.
2.4.3. Thực trạng về kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt
động giáo dục hướng nghiệp
Việc kiểm tra chủ yếu là đảm bảo chuyên đề được giảng dạy đúng,
đủ tiết và đủ sĩ số học sinh tham gia, chưa có chuẩn đánh giá, chưa quan
tâm nhiều đến đánh giá phương pháp tổ chức và mục tiêu đạt được của giờ
dạy, chưa tạo được không khí thi đua tổ chức hoạt động GDHN tốt cho
giáo viên.
2.4.4. Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho
hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Việc đầu tư cho sách tham khảo, băng hình, tranh ảnh, các bản mô tả
nghề, các trắc nghiệm, các thông tin dữ liệu về hướng nghiệp…phục vụ
cho hoạt động GDHN chưa phong phú, nhà trường chưa đầu tư sâu hơn
cho các tài liệu chuyên sâu về GDHN. Nhà trường cũng chưa có phòng
hướng nghiệp riêng, do đó cơ sở vật chất cho hoạt động GDHN chưa được
đầu tư nhiều.
2.4.5. Thực trạng về quản lý các nguồn lực tham gia và xã hội hóa hoạt
động giáo dục hướng nghiệp
Ở trường THPT A Bình Lục, việc phối hợp giữa các lực lượng trong
công tác GDHN cho học sinh vẫn còn là một điểm yếu, chưa được thực
hiện thường xuyên và sự phối hợp chưa được chặt chẽ giữa các lực lượng.
Bảng 2.16. Ý kiến của giáo viên về việc nhà trường quản lý các
nguồn lực tham gia vào xã hội hóa giáo dục hướng nghiệp
Nội dung
T
T
Liên hệ với các tổ chức, đoàn thể, xã hội để
đẩy mạnh GDHN trong nhà trường
15 13 12 5 2,84
hồ sơ thi vào ĐH, CĐ
2.5. Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động GDHN cho học
sinh trường THPT A Bình Lục, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
2.5.1. Điểm mạnh
- Công tác quản lý của Hiệu trưởng ngày càng nhận được sự ủng hộ
của toàn thể giáo viên cũng như hội cha mẹ học sinh.
- Trường có cơ sở vật chất khang trang, với đội ngũ giáo viên trẻ, có
năng lực, nhiệt huyết với nghề.
- Cha mẹ học sinh luôn quan tâm tới con em mình, sẵn sàng phối hợp
với nhà trường để làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh,
tạo điều kiện phát triển tốt nhất cho con em của mình.
- Nhà trường luôn nhận được sự ủng hộ, đầu tư của các lực lượng
giáo dục.
2.5.2. Hạn chế
- Việc lên kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động GDHN đã
có nhưng vẫn còn mang tính hình thức.
- Cán bộ, giáo viên trực tiếp tổ chức hoạt động GDHN còn hạn chế
về kiến thức, kĩ năng tổ chức; Ban giám hiệu nhà trường chưa thực sự
quan tâm đến công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ GDHN.
- Nội dung, hình thức tổ chức nặng tính lý thuyết, xa rời thực tiễn,
chưa khai thác triệt để được mục tiêu, tinh thần của GDHN trong trường
phổ thông.
- Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN của nhà trường chưa
được thường xuyên, chưa có tác dụng thúc đẩy và phát triển hoạt động.
2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế
2.5.3.1. Nguyên nhân khách quan
- Chương trình giáo dục của học sinh phổ thông quá nặng.
Để nâng cao chất lượng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trường
THPT A Bình Lục, tác giả xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp và nội
dung này sẽ được đề cập ở chương 3.
Chương 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG
NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT A BÌNH LỤC,
HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
3.1. Một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính bền vững
3.2. Một số biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho học sinh trường
THPT A Bình Lục, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
3.2.1. Nâng cao nhận thức về GDHN cho cán bộ quản lý, giáo viên, học
sinh, phụ huynh học sinh và các lực lượng khác
3.2.1.1. Mục đích của biện pháp
Làm cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các
lực lượng xã hội hiểu rõ tầm quan trọng của GDHN, yêu cầu và trách
nhiệm của bản thân đối với GDHN trong nhà trường phổ thông và công tác
phân luồng học sinh sau THPT.
3.2.1.2. Nội dung thực hiện biện pháp
Nội dung công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức tập trung vào:
- Mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng và mục tiêu của GDHN trong
nhà trường phổ thông và công tác phân luồng học sinh sau THPT.
- Vai trò, trách nhiệm của cá nhân và đơn vị đối với việc tổ chức hoạt
động GDHN trong nhà trường phổ thông và công tác phân luồng học sinh
sau THPT
- Tạo điều kiện, hướng dẫn, khích lệ giáo viên tự học hỏi, tìm hiểu
thông tin về hướng nghiệp và GDHN.
3.2.2.4. Điều kiện thực hiện biện pháp
- Ban Giám hiệu nhà trường, Ban hướng nghiệp và các giáo viên cần
phải hợp tác, hỗ trợ cùng nhau xây dựng kế hoạch GDHN chung cũng như
kế hoạch cá nhân cụ thể và thiết thực hơn.
3.2.3. Tăng cường xã hội hóa hoạt động giáo dục hướng nghiệp
3.2.3.1. Mục đích của biện pháp
Biện pháp này nhằm huy động, phối hợp, sử dụng và khai thác tối đa
các nguồn (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài ngành giáo dục tham
gia GDHN, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đạt được mục tiêu GDHN.
3.2.3.2. Nội dung của biện pháp
- Huy động mọi lực lượng xã hội tham gia vào công tác GDHN.
- Chuẩn bị cho xã hội một lực lượng thanh niên có trình độ, có tay
nghề cơ bản, có hiểu biết về khoa học kỹ thuật và kỹ thuật công nghệ, sẵn
sàng đi vào cuộc sống lao động .
- Nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gai của toàn dân đối với
GDHN.
- Trong quá trình thực hiện mục tiêu, nội dung GDHN, các lực lượng
tham gia cần phải có sự thống nhất thì mới có hiệu quả.
3.2.3.3. Cách thức thực hiện biện pháp
- Nhà trường chủ động lên kế hoạch hoạt động phối hợp trong năm
học và có ký kết giao ước thực hiện; xây dựng nội dung thực hiện vào thời
gian cụ thể trong năm đối với từng chuyên đề trong đó phân công cụ thể
trách nhiệm, nhiệm vụ của nhà trường, trách nhiệm, nhiệm vụ các tổ chức
phối hợp.
3.2.3.4. Điều kiện thực hiện biện pháp
- Lập danh sách các tổ chức, cơ quan, nhà máy đóng trên địa bàn
- Giáo viên, học sinh tích cực sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
hướng nghiệp, đảm bảo phát huy hiệu quả.
3.2.5. Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các hoạt động
GDHN
3.2.5.1. Mục đích của biện pháp
Kịp thời phát hiện những mặt chưa đạt nhằm điều chỉnh, uốn nắn và
phát huy những mặt mạnh trong quá trình thực hiện hoạt động GDHN. Kết
quả kiểm tra, đánh giá là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả GDHN,
đổi mới và hoàn thiện tổ chức, đồng thời là cơ sở để lạp kế hoạch GDHN
tiếp theo.
3.2.5.2. Nội dung thực hiện biện pháp
- Kiểm tra việc lập kế hoạch hoạt động GDHN của các cá nhân, đơn
vị thực hiện hoạt động GDHN có phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ, nội
dung GDHN hay không.
- Xem xét các hoạt động GDHN được thực hiện có phù hợp với
nhiệm vụ đã đề ra trong kế hoạch GDHN hay không.
- Động viên, khích lệ cán bộ, giáo viên thực hiện công tác GDHN và
uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ kịp thời.
3.2.5.3. Cách thức thực hiện biện pháp
- Ban hướng nghiệp lập kế hoạch kiểm tra định kì và kiểm tra chuyên
đề GDHN. Qua mỗi lần kiểm tra đều có đánh giá và rút kinh nghiệm để
xây dựng ý thức tự kiểm tra của mỗi giáo viên và học sinh.
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của giáo viên trong công
tác GDHN. Đối chiếu và đo lường kết quả đạt được của mỗi hoạt động
GDHN với chuẩn đã đề ra để đánh giá kết quả GDHN so với kế hoạch
GDHN.
3.2.5.4. Điều kiện thực hiện biện pháp
- Có đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, đánh giá thành thạo về
1
3
2
1
pháp
TB
TB
BP1
45
0
0
3,0
45
0
0
3,0
BP2
45
0
0
3,0
43
2
0
2,96
BP3
43
2
0
2,96
Qua khảo nghiệm, thực nghiệm, ý kiến chuyên gia cho thấy, các biện
pháp đề xuất đều được đánh giá là cần thiết và khả thi. Các biện pháp quản
lý GDHN do tác giả đề xuất không chỉ áp dụng được đối với trường THPT
A Bình Lục, mà còn có thể áp dụng cho các trường THPT khác có những
điều kiện tương tự.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Ở trường THPT A Bình Lục, tỉnh Hà Nam GDHN đã có những
chuyển biến tích cực và đạt hiệu quả nhất định.
- Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, GDHN ở trường chưa nhận
được sự quan tâm đúng mức và kết quả còn hạn chế.
- Từ thực trạng của trường THPT A Bình Lục, chúng tôi mạnh dạn đề
xuất 5 biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý hoạt động
GDHN.
2. Khuyến nghị
2.1. Với Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Xây dựng chương trình, nội dung GDHN mang tính cập nhật. Bố trí
thời lượng hợp lý cho hoạt động giáo dục này.
- Tổ chức biên soạn, xuất bản các loại tài liệu tham khảo về nội dung,
phương pháp GDHN cho học sinh phù hợp với giai đoạn hiện nay.
- Xây dựng hệ thống văn bản pháp quy xác định nhiệm vụ, quy định
trách nhiệm, nội dung thực hiện việc quản lý hoạt động GDHN cho từng
cá nhân, tổ chức, chức danh trong các trường THPT.
2.2. Với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nam
- Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thực hiện công tác GDHN.
- Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra công tác GDHN tại các trường THPT.
- Cần ủng hộ các sáng kiến mới có tính khả thi cao và mạnh dạn đưa
vào áp dụng trong nhà trường.