ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG CHUYÊN
DẠY - HỌC CÁC BÀI THƠ
THUỘC VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 11
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CẢM THỤ THẨM MỸ CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG CHUYÊN
DẠY - HỌC CÁC BÀI THƠ
THUỘC VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 11
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CẢM THỤ THẨM MỸ CHO HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
biệt, với tất cả tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm
ơn TS. Hoàng Hữu Bội - Người đã hết lòng tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp đã giúp
đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân yêu đã luôn bên em,
động viên, khích lệ em trong những ngày học tập ở trường.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Chuyên
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC .......................................................................................................... iii
DANH MỤC VIẾT TẮT.................................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................. v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề.................................................................................................. 3
2.1. Tình hình nghiên cứu dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam.....................
3
2.2. Tình hình nghiên cứu dạy - học thơ trung đại Việt Nam theo hướng phát
triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh..................................................... 5
2.2. Định hướng riêng cho từng bài thơ ............................................................ 37
2.2.1. Về bài thơ Tự tình (Bài II) của Hồ Xuân Hương .................................... 37
2.2.2. Về bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến .................. 40
2.2.3. Về bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương ............................................. 43
2.2.4. Về bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ ........................... 48
2.2.5. Về bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca) của Cao Bá
Quát......... 54
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM........................................................ 59
3.1. Dạy học bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến .............................. 59
3.1.1. Phương án dạy học bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến của sách
giáo viên (Ngữ văn 11 tập 1, NXB GD, 2007, GS. Phan Trọng Luận tổng chủ
biên). .................................................................................................................. 59
3.1.2. Định hướng dạy học bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến do luận
văn đề xuất ......................................................................................................... 63
3.2. Dạy học bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương ....................................... 67
3.2.1. Phương án dạy học bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương trong sách giáo
viên (Ngữ văn 11 tập 1, NXB GD,2007, GS Phan Trọng Luận tổng chủ biên) ...
67
3.2.2. Định hướng dạy học bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương do luận văn
đề xuất................................................................................................................ 72
3.3. Dạy học thực nghiệm đối chứng bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương ......
85
iv
3.3.1. Mục đích .................................................................................................. 85
3.3.2. Đối tượng thực nghiệm............................................................................ 85
3.3.3. Kế hoạch thực nghiệm ............................................................................. 85
3.3.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm ....................................................... 86
3.3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................................. 87
NL
: Năng lực
NXB
: Nhà xuất bản
SGK
: Sách giáo khoa
T.S
: Tiến sĩ
THPT
: Trung học phổ thông
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.
Tâm lý HS THPT với các bài thơ trữ tình Trung đại Việt Nam
trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 1........................................ 28
phát vấn, đàm thoại… Để nền giáo dục nước nhà phát triển và theo kịp các
nước tiên tiến trên thế giới, Bộ Giáo dục thường xuyên có chủ trương đổi mới
phương pháp dạy học. Những năm gần đây, vấn đề dạy học phát triển NL cho
HS đã được xác định cụ thể hơn, đặc biệt là môn học Ngữ văn, ngoài những
NL chung cần thiết qua quá trình dạy học thì dạy học Ngữ văn còn nhằm phát
triển NL thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mỹ ở HS. Năng lưc cam thụ
thâm mi thê hiên kha năng cua môi ca nhân trong viêc nhân ra đươc cac gia
1
tri thâm mi cua sư vât, hiên tương, con ngươi va cuôc sống, thông qua nhưng
cam nhân, rung đông trươc cai đep va cai thiên, tư đo biết hương nhưng suy
nghi, hanh vi cua minh theo cai đep, cai thiên… Dạy học theo định hướng
phát triển năng lực HS là cách dạy mới mà chúng ta đang áp dụng hiện nay
chúng tôi thấy khá hiệu quả.
Trong thời điểm này, giáo dục không chỉ giữ vai trò cung cấp kiến thức
cho người học mà cần giúp người học hình thành và phát triển các năng lực cần
thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Như vậy, giáo dục đã trở thành
xu thế tất yếu. Với mục tiêu chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, việc dạy học
Ngữ văn ở trường phổ thông vừa góp phần giúp HS có khả năng tự sử dụng
thuần thục kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề của thực tiễn, vừa làm công
cụ để tư duy, tìm tòi và sáng tạo trong cuộc sống.
Chúng tôi muốn thực thi lối dạy học hình thành năng lực và phẩm chất cho
HS vào dạy học cụ thể những bài thơ có trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn
11 tập 1 để mong có thể rút ra được một điều gì đó cho phương pháp dạy học
thơ theo định hướng mới của chương trình. Bởi vậy, chúng tôi chọn đề tài: Dạy
học các bài thơ thuộc văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ
văn lớp 11 theo hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh để
nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả dạy, học môn Ngữ văn ở trường trung học
chức năng quan trọng, thơ có thể bỏ vần, bỏ đối, bỏ quan hệ đầu đàn về số chữ,
nhưng tiết tấu thì không thể bỏ được”[51] bởi trong thơ trữ tình nhịp thể hiện
những diễn biến của trạng thái tâm hồn.
Trong công trình này, các tác giả đã cung cấp những tri thức cần thiết
giúp những người dạy học văn có thêm kiến thức về thơ cổ.
Theo tác giả Nguyễn Sĩ Cẩn, dạy học thơ cổ phải xuất phát từ kết cấu,
xuất phát từ ngôn ngữ thơ Đường và phải xuất phát từ đặc điểm tổng hợp trong
thơ cổ.
Trong hướng xuất phát từ kết cấu, tác giả cho rằng: “Với thơ Đường luật
nên áp dụng theo phương pháp bổ ngang dựa theo kết cấu mà phân tích” [49].
Ở hướng xuất phát từ ngôn ngữ thơ Đường luật tác giả chỉ rõ: “Thơ xưa
hàm súc nên việc nghiên cứu và giảng dạy cần coi trọng khai thác từng tiếng,
3
từng từ” [51]. Riêng điểm xuất phát từ đặc trưng thẩm mỹ có tính tổng hợp trong
thơ cổ thì: “Việc đọc phải được coi trọng đúng mức”[51].
Đây là công trình mà tác giả đã giải quyết vấn đề trên cả hai bình diện: lý
luận và thực tiễn khá triệt để và sâu sắc. Về mặt lý thuyết tác giả đã trình bày
một số đặc điểm thẩm mỹ của thơ văn cổ. Về thực tiễn, đã có những đề xuất về
phương pháp dạy học văn cổ khá chi tiết. Qua công trình này, tác giả đã góp
một phần lớn cho việc giảng dạy văn học cổ nói chung.
Tuy nhiên, tác giả chỉ đi vào nghiên cứu việc dạy thơ văn nói chung, còn
mảng trữ tình chưa được tách riêng để nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết.
Gs. Nguyễn Thanh Hùng trong bài Tác phẩm trữ tình và phương
pháp giảng dạy đã khẳng định vị trí của thể loại trữ tình trong lịch sử, bản chất,
khả năng tác động và đặc trưng riêng của thể loại trữ tình. Từ đó, tác giả
nêu ra những kết luận về phương pháp: “Cần phải lưu ý đặc biệt đến nhà thơ –
tác giả khi dạy tác phẩm trữ tình và cần phải quan tâm đến bình diện diễn đạt
ngôn ngữ nghệ thuật [50].
viên sẽ dẫn đường cho thơ đi vào tâm hồn của HS. Mỗi một bài thơ có một nội
dung và nghệ thuật độc đáo, đòi hỏi một lời giảng, cách giảng riêng, thích hợp
với nó. Không có lời giảng, cách giảng nào phổ biến, áp dụng cho mọi bài thơ.
Nắm được đặc trưng của thơ, chúng ta sẽ có phương hướng chung để đi vào
nắm được quy luật chung, tìm ra phương pháp cơ bản của việc giảng dạy thơ.
2.2. Tình hình nghiên cứu dạy - học thơ trung đại Việt Nam theo hướng phát
triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh
Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo
định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT do Bộ
Giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 cũng đã nêu ra lý thuyết về dạy học
vượt trội được sử dụng trong giáo dục hiện nay đó là thuyết kiến tạo của J.
Bruner và định hướng thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực
HS và tiến trình của việc dạy học theo thuyết kiến tạo.
Tư tưởng cốt lõi của thuyết kiến tạo là: con người kiến tạo những sự hiểu
biết và tri thức về thế giới thông qua trải nghiệm và phản ánh… Trong mô hình
5
kiến tạo, HS được tạo cơ hội để hoạt động trong tiến trình học tập của mình.
Giáo viên đóng vai trò như là người cố vấn, giúp HS phát triển và đánh giá
những hiểu biết về việc học tập của các em, một công việc lớn nhất của GV khi
vận dụng thuyết kiến tạo vào dạy học là biết cách “hỏi những câu hỏi tốt”.
Tiến trình của dạy học kiến tạo bao gồm 3 bước:
Bước 1: Làm bộc lộ quan niệm của HS
Bước 2: Tổ chức điều khiển HS thảo luận
Bước 3: Tổ chức điều khiển HS vận dụng kiến thức
Theo tinh thần trên, tài liệu cũng đưa ra việc thiết kế bài học trong tài
liệu hướng dẫn theo mô hình trường học mới VNEN. Theo mô hình VNEN,
thiết kế bài học được biên soạn theo các chủ đề, tổ chức hoạt động cho HS theo
trường phổ thông tác giả cũng nhấn mạnh: “Gắn với nội dung về văn học, mạch
kỹ năng đọc cũng nhấn mạnh đến nội dung dạy đọc hiểu ý nghĩa của từ, câu,
hình ảnh, giá trị nghệ thuật, ý nghĩa thẩm mỹ của văn bản văn học.Đây chính là
yếu tố để hình thành nên năng lực cảm xúc…”. Cùng với đó, tác giả đã đưa ra
một số biện pháp nhằm phát triển năng lực cảm xúc cho HS qua dạy học tác
phẩm văn học: Đọc diễn cảm văn bản tác phẩm; Khơi gợi liên tưởng, tưởng
tượng trong việc phân tích, khám phá hình tượng thẩm mỹ của tác phẩm; Tạo
cơ hội, tình huống để HS được trải nghiệm trong việc đọc tác phẩm văn
chương; Đa dạng hóa phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá giúp HS
phát huy năng lực cảm xúc, khả năng sáng tạo trong cảm thụ tác phẩm văn học.
Theo tác giả, tất cả những phương pháp trên đều nhằm mục đích hướng
HS phát triển năng lực cảm xúc cho HS phổ thông qua dạy học tác phẩm văn
học, tuy nhiên, tác giả chưa đặt ra vấn đề giảng dạy tác phẩm trữ tình trung đại
Việt Nam một cách cụ thể.
Trong cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại của nhóm
tác giả Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Huỳnh Lý, Phan Sĩ Tấn, Đàm Gia
Cẩn có bài viết Thơ và giảng dạy thơ tác giả Trần Thanh Đạm đã đề cập đến
đặc điểm của thơ. Trong phần Đi tìm đặc trưng của thơ ông viết: "Thơ là một
hiện tượng phong phú, phức tạp, thơ có một hàm nghĩa rất rộng. Người ta
thường xác định vị trí của thơ bằng cách phân ranh giới giữa thơ và văn xuôi.
Sự phân biệt này cũng có chỗ khó. Bởi vì có văn xuôi giàu chất thơ và có cả thơ
bằng văn xuôi" [10, tr.35].
Về việc giảng dạy thơ, tác giả Trần Thanh Đạm cũng nêu rõ: Xác định
đặc trưng chủ yếu của thơ có ý nghĩa về mặt phương pháp giảng dạy và học tập
thơ trong nhà trường. Trước hết cần nhận thấy tác dụng lớn lao của thơ đối với
8
việc giáo dục con người. Hiện nay ở trường phổ thông, ta thấy có hiện tượng
thấy bóng đèn mà bóng tối hóa thâm u… Tóm lại, đi vào thế giới tinh vi của
thơ văn bằng cả con người thông minh, nhạy cảm tinh vi của mình.
Tác giả cũng cho rằng: đã dạy văn thơ hay là phải dạy được những cái
đó, nói rõ hơn, phải từng bước rèn luyện được cho HS những cái trên. Được
như vậy mới gọi là dạy văn, mới giáo dục được tư tưởng, tình cảm, đạo đức,
thẩm mỹ bằng văn thơ. Như vậy là dạy được cái hay, dạy hay là đạt yêu cầu tối
đa của giảng văn tốt.
Cũng theo GS. Lê Trí Viễn (Đến với bài thơ hay - NXB GD, H.2004),
“Cảm thụ văn học là hoạt động nhận thức thẩm mỹ có tính đặc thù. Nó vừa có
tính chủ quan vừa có tính khách quan. Nó là một hoạt động tích cực và sáng tạo
của chủ thể cảm thụ. Nó huy động nhiều năng lực bên trong của con người. Nó
đặt yêu cầu là phải đi tới sự cảm xúc hóa nội dung cảm thụ. Nó cũng đòi hỏi
con người vượt giới hạn của mình để thật sự đạt khoái cảm thẩm mỹ, vô tư” [48,
tr.31].
GS cũng cho rằng, đối với người đọc thơ, quá trình từ tri giác ngôn ngữ,
vận dụng vốn sống để liên tưởng, tưởng tượng, cảm xúc, suy tưởng đến khái
quát lên vấn đề của cuộc sống từ tác phẩm là cần nhưng chưa đủ. Phát hiện ra
cái hay nằm ở chỗ nào, vì sao mà hay thì cần phải có một sự lóe sáng, một sự
bùng nổ trong tâm lý cảm thụ…
Việc dạy học văn thơ trung đại nói chung và thơ trung đại nói riêng đã
được các nhà nghiên cứu và nhiều giáo viên quan tâm. Các tác giả trong các
công trình nghiên cứu đã đóng góp những kiến thức bổ ích giúp người giáo
viên vận dụng, cảm thụ, giảng dạy thơ cổ một cách có hiệu quả hơn. Tuy nhiên,
vấn đề làm thế nào để phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho HS trong dạy
học thơ cổ chưa được bàn kỹ. Nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn đi sâu vào
việc dạy – học một số bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam theo hướng phát triển
năng lực thẩm mỹ cho HS qua một số bài thơ trung đại Việt Nam cụ thể trong
SGK Ngữ văn lớp 11, tập 1.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra khảo sát
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để điều tra, trưng cầu ý kiến của GV
và HS, khảo sát giáo án, dự giờ của GV THPT. Qua đó, nắm được thực trạng
11
dạy học các bài thơ trung đại (SGK Ngữ văn 11) ở trường THPT. Từ đó nghiên
cứu đề tài một cách tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học ở nhà trường
THPT.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong thực nghiệm dạy học.
- Xây dựng cơ sở thực nghiệm sư phạm thông qua các bài thiết kế nội
dung dạy học. Cơ sở thực nghiệm được xác định dựa vào các tri thức về giáo
dục, tâm lý, về trình độ nhận thức của từng đối tượng và căn cứ vào hệ thống tri
thức về thơ trung đại ở chương trình Ngữ văn lớp 11.
- Tổ chức thực hiện giảng dạy ở trường phổ thông.
- Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy, đánh giá nhận thức của học
sinh từ đó đưa ra một số phương pháp, cách thức, hình thức, kĩ năng và kĩ xảo
về việc giảng dạy bài Thương vợ (SGK Ngữ văn 11), đồng thời khẳng định mức
độ thành công của đề tài.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
1.1. Cơ sở lý luận.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
Chương 2: Dạy học cụm thơ Văn học trung đại Việt Nam lớp 11 theo
hướng hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho HS.
2.1. Định hướng chung
có thể là thực tại, đồng thời vừa không quên tính ước lệ của nó. Tiếp nhận thẩm
mỹ, vì vậy, mang tính hai chiều (tiếng Pháp: ambivalent): chủ thể tiếp nhận vừa
tin vừa không tin vào tính thực tại của cái được miêu tả [1].
Tiếp nhận thẩm mỹ được xác định phần lớn bởi tác phẩm nghệ thuật: tác
phẩm không chỉ là nguồn thông tin nghệ thuật chủ yếu, mà còn đề ra phương
thức “đọc”, “dịch” nó sang bình diện cảm xúc - hình tượng của chủ thể.
Tính phức tạp của tiếp nhận thẩm mỹ là ở chỗ các ý tưởng của tác phẩm
không thể dịch sang bình diện lời nói, khái niệm (theo lối nói hình ảnh của
Hêminguê, nó giống như 7/8 phần của tảng băng trôi bị chìm dưới nước). Đặc
13
tính trên là căn cứ để chủ nghĩa tượng trưng xây dựng quan niệm của họ, theo
đó tư tưởng thẩm mỹ bao giờ cũng tiềm ẩn so với ý thức thường ngày. Tuy
nhiên, ở văn bản nghệ thuật, ở hệ thống các phương tiện biểu hiện bao giờ cũng
có khóa mã cho phép giải ra các hàm nghĩa kín đáo của nó. Việc thâm nhập vào
hàm nghĩa của tác phẩm nghệ thuật còn phụ thuộc vào năng lực thẩm mỹ của
chủ thể, vào trình độ phát triển về tình cảm thẩm mỹ ở chủ thể tiếp nhận.
Tính chọn lọc và chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ bị quy định bởi trạng
thái văn hóa xã hội, bởi tiềm năng văn hóa chung của cá nhân.
Sản phẩm của tiếp nhận thẩm mỹ là một hình tượng và một hàm nghĩa
“thứ sinh”, có thể trùng hoặc không trùng với hình tượng và tư tưởng mà tác
giả trù định.
Có thể phân chia một số điểm chủ chốt trong quá trình tiếp nhận thẩm mỹ:
- Tâm thế hướng vào tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật;
- Cảm xúc sơ bộ từ việc tiếp xúc với nó;
- Vui mừng nhận ra ở tác phẩm cái hình tượng chờ đợi, phát triển nó trên
cơ sở liên tưởng với các ý niệm hợp với kinh nghiệm sống và kinh nghiệm văn
hóa của chủ thể.
Do chỗ hình tượng nghệ thuật không bao giờ hoàn toàn phù hợp với sự
nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh
nhất định” [40]. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm
chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các
hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao
gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có,
đó là các năng lực chung, cốt lõi”. Định hướng chương trình giáo dục phổ
thông (GDPT) sau năm 2015 đã xác định một số năng lực những năng lực cốt
lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như:
- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:
+ Năng lực tự học;
+ Năng lực giải quyết vấn đề;
+ Năng lực sáng tạo;
+ Năng lực quản lí bản thân.
15
- Năng lực xã hội, bao gồm:
+ Năng lực giao tiếp;
+ Năng lực hợp tác.
- Năng lực công cụ, bao gồm:
+ Năng lực tính toán;
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ;
+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC).
Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất
cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học
tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống.
Cac năng lưc ma môn hoc Ngư văn hương đên bao gồm:
. Năng lưc sang tao
. Năng lưc giai quyết vấn đề