Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận án tiến sĩ) - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ CHÍ HÙNG

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở
NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN VÀ BÀI HỌC
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ CHÍ HÙNG

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở
NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN VÀ BÀI HỌC
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế
Mã số
: 9.31.01.06

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

2.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển của công nghiệp hỗ trợ .................. 38
2.3. Các nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp hỗ trợ............................... 41
Chương 3: THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở
NHẬT BẢN, HÀN QUỐC VÀ ĐÀI LOAN ..................................................... 50
3.1. Thực tiễn phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Nhật Bản .................................... 50
3.2. Thực tiễn phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Hàn Quốc ................................... 65
3.3. Thực tiễn phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Đài Loan ..................................... 83
3.4. Đánh giá chung về phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Nhật Bản, Hàn Quốc
và Đài Loan .......................................................................................................... 99
Chương 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM NHẰM THÚC
ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ .......................................... 103
4.1. Khái quát tình hình phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam .................. 103
4.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về phát triển công nghiệp hỗ trợ............ 125
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 148
CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ........................................................................................... 150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

ii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ tiếng Anh
1
ASEAN
The
Association
of
Southeast Asian Nations
2

MITI
(METI)

13
14
15

MNCs
R&D
SMEs

16

TNCs

17

UNIDO

18

VCCI

19

VDF

Chữ viết đầy đủ tiếng Việt
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á

thương Nhật Bản
Cơ quan Hợp tác Quốc tế
Nhật Bản
Khu công nghiệp
Khoa học - công nghệ
Bộ Kinh tế công nghiệp và
Thương Mại Nhật Bản

The
United
Nations
Industrial
Development
Organization
Vietnam
Chamber
of
Commerce and Industry

Tổ chức phát triển công
nghiệp của Liên hợp quốc

Việt Nam
Forum

Công ty đa quốc gia
Nghiên cứu và phát triển
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Công ty xuyên quốc gia


Hình 4.3. Số lượng các doanh nghiệp CNHT ngành dệt may năm 2012........... 108
Hình 4.4. Vốn đầu tư của doanh nghiệp sản xuất sợi và dệt vải. ....................... 108

iv


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hỗ trợ (Supporting Industry) (CNHT) có vai trò rất quan trọng
trong nền kinh tế, là động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, giúp tăng sức cạnh
tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa quốc gia. Ở tầm vĩ mô, phát triển CNHT không chỉ góp phần làm
giảm nhập siêu, giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài trong sản xuất sản phẩm hoàn
chỉnh, mà còn tăng tính nội địa hóa sản phẩm, chủ động hơn trong các quan hệ
thị trường, cạnh tranh để hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn. Trong bối cảnh toàn
cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, phát triển CNHT còn đáp ứng một cách linh
hoạt, kịp thời trước nhu cầu phải thay đổi tính năng, kiểu dáng, mẫu mã, dây
chuyền, công nghệ của nhà sản xuất công nghiệp do thị hiếu tiêu dùng ngày càng
cao và cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Ngoài ra, phát triển CNHT sẽ góp phần
cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao sức hút đầu tư vào những lĩnh vực công
nghiệp mà CNHT đó đi trước một bước để “mở đường”. Chính vì vậy, phát triển
CNHT sẽ nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, ngành công
nghiệp nói riêng cũng như của cả nền kinh tế quốc dân nói chung đảm bảo sự
tăng trưởng và phát triển nhanh và bền vững.
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
và hội nhập quốc tế với mục tiêu hình thành những ngành công nghiệp hiện đại
có năng lực cạnh tranh cao không chỉ tại thị trường trong nước mà trên thị
trường thế giới. Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi rất nhiều nhân tố khác nhau,
trong đó sự hình thành và phát triển CNHT chính là chìa khóa quan trọng và
quyết định. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp và chính sách của Việt Nam hiện nay

nghĩa góp phần lựa chọn giải pháp thiết thực để đáp ứng yêu cầu phát triển
CNHT, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành công nghiệp Việt Nam xét
trên cả tầm nhìn trung và dài hạn.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài“Phát triển công
nghiệp hỗ trợ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam” được đặt ra hết sức cấp thiết trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, là
một trong những hướng nghiên cứu cơ bản, quan trọng và chiến lược của khoa
học xã hội và nhân văn trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
ở Việt Nam hiện nay.

2


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là phân tích, đánh giá quan điểm và giải pháp phát
triển CNHT của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan nhằm rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam để thúc đẩy phát triển ngành kinh tế này ở đất nước ta
trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án có nhiệm vụ:
Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến phát triển CNHT ở
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam.
Thứ hai, làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển CNHT (khái niệm, đặc
điểm, vai trò, tiêu chí đánh giá và các nhân tố tác động đến sự phát triển CNHT).
Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn phát triển CNHT ở Nhật Bản, Hàn Quốc và
Đài Loan từ năm 1980 đến nay, từ đó rút ra những kinh nghiệm về phát triển
CNHT.
Thứ tư, rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển
CNHT trong giai đoạn tới.

công nghiệp (industrial cluster) để phân tích và làm rõ vấn đề nghiên cứu.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết
học Mác - Lênin, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương
pháp thu thập tài liệu, phương pháp hệ thống hóa lý luận, phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê, mô hình, đồ thị và phương pháp chuyên gia.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đã hệ thống hóa một cách toàn diện những vấn đề lý luận về phát
triển CNHT, đặc biệt làm rõ vai trò, tiêu chí và những nhân tố tác động đến việc
phát triển CNHT. Luận án đã phân tích và đánh giá thực tiễn phát triển CNHT
của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, đặc biệt có những phân tích so sánh về
chính sách cũng như điều kiện phát triển CNHT ở ba nền kinh tế này. Luận án đã
rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về phát triển ngành CNHT trong
bối cảnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về phát
triển CNHT.

4


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án cung cấp các luận cứ, cơ sở khoa học cho Việt Nam trong việc
hoạch định các chính sách cho phát triển CNHT; rút ra bài học kinh nghiệm phát
triển CNHT đã được thực hiện ở ba nền kinh tế phát triển nhất Đông Á, bao gồm
Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan để áp dụng vào Việt Nam. Thông qua việc
nghiên cứu, luận án đã gợi mở một số cách thức để giải quyết các vấn đề còn tồn
tại trong phát triển CNHT ở Việt Nam cho cả phía Nhà nước và doanh nghiệp,
như thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển nguồn nhân lực năng động, sáng

và các nhà cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản đã được phân
tích trong “Chi nhánh các nhà lắp ráp Nhật Bản ở châu Á” (Japanese-Affiliated
Manufactures in Asia), JETRO thực hiện năm 2003 [123]; và “Báo cáo khảo sát
các bộ phận ở nước ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản” (Survey report on
overseas business operations by Japanese manufacturing companies) do Ngân
hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) xuất bản năm 2004 [122]. Báo cáo chỉ ra
rằng, chi nhánh các tập đoàn Nhật Bản ở châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia,
Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành với vai trò mạnh mẽ
của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tư từ Nhật Bản.
Porter E. Michael (1990) trong tác phẩm“The competitive advantage of
nations, Harvardbusiness review” (Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia), Trường
Đại học Havard - New York Mỹ [135], đã phân tích, giải thích thuật ngữ “Công
nghiệp liên quan và hỗ trợ”. Tác giả phân tích khá sâu sắc thuật ngữ này thông
qua việc đưa ra lý thuyết về khả năng cạnh tranh quốc gia qua mô hình “viên
kim cương”. Trong đó, công nghiệp liên quan và hỗ trợ được coi là một trong
bốn yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. “Công nghiệp
liên quan và hỗ trợ” được coi là sự tồn tại của ngành cung cấp và ngành công

6


nghiệp liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế. Tác giả đã chia yếu tố này thành
hai phần là CNHT và công nghiệp liên quan. Theo đó, sự phát triển của một ngành
công nghiệp đạt được phải dựa trên khả năng sáng tạo, đổi mới và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn đầu tư thông qua mối quan hệ tác động qua lại và sự liên kết bền
vững như cấu trúc tinh thể của kim cương giữa bốn nhóm yếu tố, trong đó có nhấn
mạnh vai trò của CNHT.
Bộ Công thương Nhật Bản (MITI, nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và
Thương mại, METI) (1985), trong công trình “White paper on Industry and
Trade” (Sách trắng về hợp tác kinh tế), Tokyo [140], thuật ngữ CNHT lần đầu

ngành CNHT tại Việt Nam.
Trong đề tài khoa học cấp Nhà nước “CNHT - kinh nghiệm từ các nước và
giải pháp cho Việt Nam” do Hoàng Văn Châu làm chủ nhiệm (2010) [23], , các
tác giả đã đi sâu phân tích những vấn đề chung về CNHT, phân tích kinh nghiệm
phát triển CNHT của thế giới, trong đó đặc biệt phân tích phát triển CNHT các
nước ở khu vực châu Á như: Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia... từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển CNHT tại Việt Nam.
Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp - Bộ Công thương,
(2010), Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu chính sách tổng thể phát triển CNHT trong
điều kiện hội nhập” [100], đã đưa ra những vấn đề chung về CNHT như: khái
niệm, những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT, sự cần thiết phải phát
triển CNHT ở Việt Nam và các lựa chọn ưu tiên cho phát triển CNHT.
Bàn về vai trò của chính sách phát triển công nghiệp của các nước Đông Á
không thể không kể đến một ấn phẩm là “Industrial Development In East Asia:
A Comparative Look at Japan, Korea, Taiwan and Singapore” (2009), [129], đã
có những đánh giá mô tả về chính sách công nghiệp trong bốn nền kinh tế Đông
Á - Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore. Tác giả K. Ali Akkemik đã
cung cấp một cái nhìn tổng quan về chính sách công nghiệp ở Đông Á và đánh
giá định lượng của các chính sách thông qua phân tích năng suất và mô hình
CGE. Qua đó đánh giá vai trò tích cực của chính sách công nghiệp và các hoạt
động của Chính phủ trong cải thiện phúc lợi và phát triển công nghiệp. Đồng
thời, cuốn sách còn đưa ra một so sánh giữa chính sách phát triển công nghiệp
của Singapore (khi áp dụng mô hình CGE cho nền kinh tế Singapore) với các
nước Đông Nam Á.
Năm 1998, nghiên cứu của Goh Ban Lee, Đại học Sains, Malaysia “Liên
kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và các ngành CNHT nội địa” (Linkage
between the Multinational Corporations and Local Supporting Industries) [124],

8


năng lực về chính sách cho mũi đột phá chiến lược đó.

9


Tại Hội thảo về CNHT của JETRO năm 2005, tác giả Phan Đăng Tuất,
trong “Trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Nhật Bản - Con đường nào
cho Việt Nam” [92], trong “Kế hoạch hành động về phát triển CNHT Việt Nam”
tại Diễn đàn Liên kết hội nhập cùng phát triển năm 2008 và trong “CNHT, vấn
đề trọng đại” đăng trên Báo Công Thương số Tết 2009, đã khẳng định các vai trò
quan trọng của CNHT đối với nền kinh tế, yêu cầu về DNNVV và sự hợp tác với
Nhật Bản trong phát triển CNHT ở Việt Nam.
Năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển CNHT Việt Nam
đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020, do Bộ Công nghiệp (nay Bộ Công thương)
soạn thảo [17]. Trong quy hoạch này, lần đầu tiên khái niệm CNHT được chính
thức hóa ở Việt Nam. Theo quy hoạch này, kế hoạch và các giải pháp phát triển
CNHT: tạo dựng môi trường đầu tư, phát triển khoa học công nghệ, phát triển cơ
sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, liên kết doanh nghiệp đã được đề xuất cho 5
ngành công nghiệp ưu tiên: điện tử tin học, dệt may, da giày, sản xuất lắp ráp ô
tô, cơ khí chế tạo.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Thu (2012), với chủ đề “CNHT ở Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [81], đã hệ thống hoá cơ sở lý
luận và thực tiễn về CNHT ở trong hội nhập kinh tế quốc tế; Phân tích mối quan
hệ giữa phát triển CNHT với phát triển các ngành công nghiệp. Từ đó, luận án
khẳng định sự cần thiết phát triển CNHT và làm rõ nhân tố ảnh hưởng đến
CNHT trong hội nhập kinh tế quốc tế. Luận án rút ra một số bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam từ một số nước về phát triển CNHT trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế.
Với mục tiêu sớm trở thành một nước công nghiệp, trong những năm vừa
qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển ngành

Nhật Bản ở châu Á, đặc biệt là Hàn Quốc và Đài Loan đã sử dụng hệ thống thầu
phụ được hình thành với vai trò mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh
kiện có vốn đầu tư từ Nhật Bản. Đó chính là các doanh nghiệp CNHT. Hệ thống
thầu phụ này nhằm cung cấp các nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng cho các nhà
sản xuất, lắp ráp ngay tại Hàn Quốc, Đài Loan, giúp cho các nước này hoàn
chỉnh quá trình sản xuất sản phẩm.
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) (2016), “Báo cáo nghiên cứu về
công nghiệp hỗ trợ trong công nghiệp ô tô tại Việt Nam” [26], đã phân tích và
đánh giá thực trạng công nghiệp hỗ trợ trong công nghiệp ô tô tại Việt Nam, chỉ
ra những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân. Báo cáo cũng đề cập đến xu hướng
phát triển CNHT trong ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam.

11


Đại học Ngoại thương (2008), “Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả
năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử Việt Nam” [03]. Đề tài khoa
học cấp Bộ, do Nguyễn Hoàng Ánh chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra,
trong chiến lược phát triển các ngành công nghiệp, Việt Nam nên lựa chọn, định
hướng phát triển ngành CNĐT trở thành ngành mũi nhọn, mang tính đột phá
chiến lược vì có nhiều ưu thế và lợi thế cạnh tranh. Đề tài cũng đề cập đến xu
hướng chuyển dịch một số khâu trong ngành công nghiệp điện tử (CNĐT) của
Hàn Quốc và Đài Loan trong thời gian tới. Do đó, Việt Nam nên tập trung vào
công đoạn sản xuất, là khâu có thể tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của các tập đoàn
điện tử quốc tế, chứ chưa nên tham gia vào khâu thiết kế, phân phối của chuỗi
giá trị. Trong quá trình đó, ở công đoạn sản xuất Việt Nam cần quan tâm, đầu tư
nhiều hơn nữa hệ thống các sản phẩm hỗ trợ cho phát triển ngành CNĐT.
Cuốn sách “Experiences and Lessons of Economic Development in
Taiwan” của Kwoh-ting Li và Tzong-shian Yu (Academia Sinica, Taipei,
Taiwan, Republic of China - 1982) [134]. Cuốn sách đã phân tích, làm rõ những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status