Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định sử dụng phân bón trên rau cải bắp của nông hộ tại huyện Gia Lâm, Hà Nội. - Pdf 49

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG
----------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

“NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
TỚI QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN
TRÊN RAU CẢI BẮP CỦA NÔNG HỘ TẠI
HUYỆN GIA LÂM, HÀ NỘI.”

Hà Nội - 2018
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG


----------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

“NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
TỚI QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN
TRÊN RAU CẢI BẮP CỦA NÔNG HỘ TẠI
HUYỆN GIA LÂM, HÀ NỘI.”

Người thực hiện


liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố ở
bất cứ công trình nào trước đây. Những số liệu trong bảng biểu phục vụ việc
phân tích nhận xét đánh giá do chính tôi thu thập từ các nguồn khác nhau có
ghi trong phần tài liệu tham khảo.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn
gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2018
Sinh Viên

Hỏa Văn Huỳnh

3


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt đề tài luận văn tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của
bản thân mình ra tôi còn nhận được sự trợ giúp, hỗ trợ của các thầy cô, tập thể
trong và ngoài Học viện.
Lời đầu tiên cho tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo
trong Khoa Môi Trường-Học viện Nông Nghiệp Việt Nam nói chung và bộ
môn Quản Lý Môi Trường nói riêng, đã giúp tôi có những kiến thức, tài liệu
để hoàn thành tốt khoá luận này.
Đặc biệt tôi xin cảm ơn ThS.GVC Nguyễn Thị Hương Giang, người
trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian báo cáo.
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Gia Lâm, Hà Nội và bà con
nhân dân trong huyện đã ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình giúp tôi trong quá trình
thực tập tại địa phương.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh
động viên, khích lệ tôi và tạo điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện hoàn thành

mức độ áp dụng thông tin về sử dụng phân bón theo hướng dẫn trên bao bì
(r=-0,338, p=0,000) là các nhân tố có tương quan với hành vi sử dụng phân
bón cho rau của người dân. Kết quả từ nghiên cứu này đã cung cấp các thông
tin cần phải cân nhắc cho các chiến lược quản lý sử dụng phân bón trong thời
gian sắp tới của huyện.

5


MỤC LỤC

6


DANH MỤC BẢNG

7


DANH MỤC HÌNH

8


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV
BĐKH
IFA
HTX
WB

chất lượng cao để tăng giá trị, đồng thời hạ giá thành sản phẩm và 2 yếu tố để
sản lượng nông sản hàng hoá tăng lên đó là: tăng diện tích và tăng năng suất.
Trong khi mở rộng diện tích gieo trồng bị hạn chế thì tăng năng suất là mục
tiêu chính để tăng tổng sản lượng nông sản hàng hoá. Một trong những con
đường nâng cao năng suất là cải tiến giống cây trồng để có các giống mới có
tiềm năng năng suất cao. Mặt khác, để tăng và duy trì được số vụ thu hoạch
trên một đơn vị diện tích thì độ phì của đất trồng cần phải được duy trì thông
qua việc bổ sung các chất dinh dưỡng từ phân bón. Nói cách khác, cung cấp
và quản lý phân bón đóng vai trò chính trong việc nâng cao năng suất và sản
lượng nông sản lâu dài. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên
Hiệp Quốc (FAO, 1970) tổng kết nếu bón phân đồng bộ, cân đối, hợp lý thì
phân bón cho tăng năng suất cây trồng bình quân từ 35-40%, trong khi khoa
học lai tạo giống mới cây trồng tối đa cũng chỉ đạt trên 10%. Do những lợi
ích mà phân bón mang lại mà lượng phân bón sử dụng cho cây trồng ngày
càng tăng. Theo Trương Hợp Tác (2009), từ năm 1985 đến nay cho thấy, diện
tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng khoảng 60% nhưng lượng phân bón tiêu thụ
tăng tới 500%.
Tuy nhiên, không phải tất cả lượng phân bón cho đất cây sẽ hấp thụ hết
để nuôi cây lớn lên từng ngày. Theo báo cáo của Viện Thổ Nhưỡng Nông Hoá
(2007), hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm mới chỉ đạt từ 30-45%, lân từ
10


40-45% và kali từ 40-50%, tùy theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ,
phương pháp bón, loại phân bón… Như vậy, còn 60-65% lượng đạm tương
đương với 1,77 triệu tấn urê, 55-60% lượng lân tương đương với 2,07 triệu
tấn supe lân và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali
Clorua (KCl) được bón vào đất nhưng chưa được cây trông sử dụng. Trong số
phân bón cây không sử dụng được, một phần còn được giữ lại trong các keo
đất là nguồn dinh dưỡng dự trữ cho vụ sau; một phần bị rửa trôi theo nước

- Phân tích các nguyên nhân dẫn tới hành vi sử dụng phân bón của
người dân.

12


Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Vai trò của phân bón
1.1.1. Phân bón và an ninh lương thực
An ninh lương thực hay an ninh lương thực quốc gia được hiểu là sự
đảm bảo của mỗi quốc gia về nguồn cung cấp lương thực cho người dân để
hạn chế và đẩy lùi tình trạng thiếu lương thực, nạn đói và tình trạng phụ thuộc
vào nguồn lương thực nhập khẩu. Theo định nghĩa của FAO (2008) thì “An
ninh lương thực là mọi người có quyền tiếp cận các thực phẩm một cách an
toàn, bổ dưỡng, đẩy đủ mọi lúc mọi nơi để duy trì cuộc sống khỏe mạnh và
năng động”. Việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia được nhiều nước đặt
lên vai trò quan trọng trong chương trình nghị sự và hành động của quốc gia
mình đặc biệt là việc ưu tiên phát triển nông nghiệp. Trong thời đại ngày nay,
vấn đề an ninh lương thực còn là vấn đề toàn cầu và là mối quan tâm chung
của toàn nhân loại với sự ảnh hưởng của hiện tượng BĐKH, ô nhiễm môi
trường và sự gia tăng dân số.
Theo hiệp hội Phân bón quốc tế (IFA, 2013), từ năm 1961 đến đến
2008, dân số thế giới đã tăng từ 3,1 tỷ lên 6,8 tỷ người. Trong cùng thời gian
đó, sản lượng ngũ cốc toàn cầu đã tăng từ 900 triệu lên 2,5 tỷ tấn, phần lớn là
do gia tăng lượng phân bón được sử dụng, từ 30 triệu lên đến hơn 150 triệu
tấn. Nếu không sử dụng phân bón, sản lượng ngũ cốc toàn cầu sẽ chỉ bằng
một nửa hiện nay. Việc sử dụng phân bón đã và đang đóng vai trò quan trọng
cho cho mục đích tăng cường khả năng tiếp cận của con người đối với lương
thực thực phẩm. Theo Trần Văn Chiến, Phan Trung Qúy (2006), từ ngày có
công nghệ phân bón hóa học ra đời năng xuất cây trồng tăng lên rõ rệt. Trong

vitamin A và kẽm (Zn) cho nhiều người dân đang bị thiếu hụt những chất vi
dinh dưỡng này. Việc lựa chọn phương pháp sinh học hoặc phương pháp nông
nghiệp để tăng cường chất lượng cây trồng sẽ phụ thuộc vào từng loại vi dinh
14


dưỡng riêng rẽ. Hai phương pháp sinh học và nông nghiệp cũng có thể được
kết hợp với nhau. ở những cây trồng chính, phương pháp sinh học (biến đổi
gien) là phương pháp hiệu quả nhất để bổ sung sắt và vitamin A, trong khi đó
phương pháp nông nghiệp (đặc biệt là sử dụng phân bón) có thể giúp tăng
mạnh hàm lượng kẽm, iốt và selen trong thực phẩm. Trong khi tình trạng
thiếu iốt và selen không hạn chế sự tăng trưởng của cây trồng, việc điều chỉnh
tình trạng thiếu kẽm có thể có lợi cả cho cây trồng lẫn người sử dụng các sản
phẩm từ cây trồng. Bổ sung Zn và Fe cho các cây ngũ cốc sẽ giúp cải thiện cả
hàm lượng và tính khả dụng sinh học của các nguyên tố vi lượng này. Ngày
nay, một lượng lớn (49%) diện tích đất trên toàn thế giới hiện được coi là
thiếu Zn. Tỷ lệ những người có rủi ro thiếu vi chất dinh dưỡng Zn cũng khá
cao, tuy thay đổi khác nhau tùy theo khu vực (IFA, 2013).
Ca, Mg và K là các chất dinh dưỡng dạng khoáng chất thiết yếu đối với
con người. Chức năng cơ bản của những khoáng chất này trong cơ thể con
người cũng tương tự như trong cây trồng, ngoại trừ vai trò đặc biệt quan trọng
của canxi đối với xương và răng. Hàm lượng các chất dinh dưỡng này trong
cây trồng phụ thuộc vào nguồn cung từ đất. Vì vậy, ngoài việc đảm bảo sản
lượng cây trồng tối ưu, các phương pháp bón phân có thể góp phần đáp ứng
nhu cầu đối với những khoáng chất này trong chế độ dinh dưỡng của con
người. Tình trạng thiếu canxi hiện đang xảy ra ở những quốc gia mà người
dân sử dụng nhiều ngũ cốc cũng như gạo xay kỹ (ví dụ: Băng-la-đét và
Nigiêria). Kết quả của nhiều nghiên cứu khoa học trong thời gian qua đã cho
thấy, nhiều người lớn (kể cả ở những nước phát triển như Mỹ) không hấp thụ
đủ lượng Mg cần thiết. Tương tự, chỉ có 10% đàn ông và chưa đầy 1% phụ nữ

trồng ở các vùng đất thiếu K tại Ontario (Canađa) có hàm lượng isoflavon
cao hơn 13% khi được bón phân kali. Kali cũng giúp gia tăng hàm lượng
lycopen trong bưởi và cà chua. Bông cải xanh và đậu nành là ví dụ về
những loại cây trồng có thể góp phần tăng hàm lượng Ca và Mg trong bữa
ăn của con người (IFA, 2013).
Khi trồng những loại cây trồng như vậy trên đất có tính axit mà chỉ
được bón phân một cách hạn chế, việc bón bổ sung vôi có thể tăng mạnh hàm
16


lượng của các khoáng chất quan trọng. Nhìn chung, hàm lượng các chất
chống oxy hóa có ích lợi tiềm năng cao như lutein và beta caroten tăng khi
cây trồng được bón phân đạm. Cùng với các vitamin A, C và E, các chất này
giúp giảm rủi ro thoái hóa điểm đen võng mạc do tuổi già, một trong những
nguyên nhân hàng đầu dẫn đến chứng mù lòa (IFA, 2013).
1.2. Hiện trạng sử dụng phân bón tại Việt Nam và trên thế giới
1.2.1. Hiện trạng sử dụng phân bón trên thế giới
Theo FAO (2017), hàm lượng chất dinh dưỡng trong phân bón (N + P2O5
+ K2O) được thế giới tiêu thụ ước đạt 193 triệu tấn trong năm 2014, tăng 2,0% so
với năm 2013. Từ năm 2014 đến năm 2018 nhu cầu sử dụng các chất dinh dưỡng
này trên thế giới tăng 1,8% mỗi năm, nhu cầu về đạm, lân, kali tăng lần lượt là
1,4%, 2,2% và 2,6%. Khu vực Châu Á là khu vực tiêu thụ phân bón lớn nhất trên
thế giới. Tổng lượng phân bón tiêu thụ ở châu Á là 58,5% so với thế giới, phần
lớn là ở Đông Á và Nam Á, cụ thể: đạm là 62,1%, lân 57,6% và kali 46,4%. Khu
vực này chủ yếu phụ thuộc vào nguồn phân bón nhập khẩu
Đơn vị: kg/ha

Hình 1.1 : Bản đồ tỷ lệ sử dụng phân bón (kg/ha)
trên đất canh tác, năm 2014.
17

Nguồn: FAO, 2017

Khối lượng lân tiêu thụ của thế giới năm 2014 là: 46,7 triệu tấn, tăng
76,6% so với năm 1961. Xét theo khu vực thì châu Á là châu lục có khối
lượng phân lân sử dụng nhiều nhất: 28,07 triệu tấn chiếm 2/3 lượng lân tiêu
thụ toàn cầu; Nam Mỹ đứng thứ 2: 6,45 triệu tấn; tiếp theo là Bắc Mỹ: 5,15
triệu tấn phân lân; châu Âu: 3,5 triệu tấn; châu Phi và châu Đại Dương là 2
khu vực sử dụng phân bón lân ít nhất lần lượt là: 1,49 và 1,42 triệu tấn phân
lân (FAO, 2017).

19


Đơn vị:Tấn/năm

Hình 1.4: Bản đồ sử dụng phân kali của các khu vực từ năm 1961 – 2014
Nguồn: FAO, 2017

Theo FAO (2017), lượng phân kali sử dụng của thế giới là 37,56 triệu
tấn, so với phân đạm và phân lân thì lượng phân kali sử dụng là thấp nhất,
thấp hơn phân đạm gần 3 lần, thấp hơn lượng phân lân sử dụng 1,2 lần. Châu
Á là khu vực sử dụng nhiều phân kali nhất (chiếm 55,6%) do đây là châu lục
có diện tích lớn nhất, khối lượng kali tiêu thụ của các châu lục còn lại như
châu Âu, châu Mĩ, châu Đại Dương, châu Phi chỉ chiếm 44,6% tổng khối
lượng kali tiêu thụ toàn cầu.

20


Bảng 1.1: Tốc độ gia tăng các chất dinh dưỡng tại các khu vực

3,1
2,1
0,9

K2O)
1,8
3,6
1,9
1,7
1,5
0,9
Nguồn: FAO, 2015

Việc sử dụng phân bón thế giới có thể sẽ tăng lên trên 200.5 triệu tấn vào
năm 2018, tăng 25% so với năm 2008. Theo báo cáo mới của FAO (2015), "Xu
thế và triển vọng phân bón thế giới đến năm 2018", tiêu thụ phân bón thế giới sẽ
tăng 1,8% mỗi năm cho đến năm 2018. Việc sử dụng nitơ toàn cầu, cho đến nay
là cơ sở phân bón lớn nhất, dự kiến sẽ tăng 1,4% mỗi năm cho đến năm 2018,
trong khi sử dụng phosphate sẽ tăng 2,2% và potash 2,6%. Nếu so sánh, nguồn
cung của ba thành phần quan trọng này sẽ tăng 3,7%, 2,7% và 4,2% mỗi năm.
Các nông dân ở Bắc Mỹ dự kiến sẽ sử dụng thêm 300.000 tấn phân bón vào năm
2018, phản ánh tốc độ tăng trưởng hàng năm là 0,5%, trong khi các nông dân
Tây Âu giảm việc sử dụng 50.000 tấn.

21


1.2.2. Hiện trạng sử dụng phân bón tại Việt Nam
Đơn vị: tấn


là khá thấp: 561.510 tấn phân kali, so với các nước trong khu vực Việt Nam
chỉ đứng thứ tư sau Indonesia (1,3 triệu tấn); Malaysia (1 triệu tấn); Thái lan
(586.929 tấn) về lượng kali tiêu thụ.
Đơn vị: kg/ha

Hình 1.8: Bản đồ đồ tỷ lệ sử dụng phân bón (kg/ha) trên đất canh tác của
Việt Nam và một số nước trong khu vực từ năm 2002 – 2014
Nguồn: Ngân hàng Thế giới – WDI, 2017

Theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới – WDI (2017), năm 2014 Việt Nam
là quốc gia đướng thứ 2 so với các nước trong khu vực về lượng phân bón sử
dụng, đứng sau Malaysia: 2036,93 Kg/ha; tỷ lệ sử dụng phân bón của nước ta
cao hơn Indonesia (211,8 Kg/ha), Philippines (183,09 Kg/ha), Thái Lan
(152,29 Kg/ha) trong khi Myanmar nước có tỷ lệ sử dụng phân bón thấp nhất
khu vực chỉ bón: 20,47 Kg/ha.
Lượng phân bón sử dụng cho cây trồng của nước ta ngày càng tăng,
tính từ năm 1985 tới 2009, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7%,
24


nhưng lượng phân bón sử dụng tăng tới 517%. Theo tính toán, lượng phân vô
cơ sử dụng tăng mạnh trong vòng 20 năm qua, tổng các yếu tố dinh dưỡng đa
lượng N+P2O5+K2O năm 2008 đạt trên 2,4 triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần so với
lượng sử dụng của năm 1985. Ngoài phân vô cơ, hàng năm nước ta còn sử
dụng khoảng 1 triệu tấn phân hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh các loại
(Trương Hợp Tác, 2009).
Theo FAO (2012), năng suất lúa Việt Nam đang cao hơn so với các
quốc gia lân cận (55 tạ/ha so với 38 tạ/ha,) nhưng mật độ sử dụng phân bón
của Việt Nam lên đến 297 kg/ha so với mức 156 kg/ha của các quốc gia lân
cận. Chính vì vậy, SXNN nước ta đang phải đối mặt với những vấn đề khó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status