BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
================================
KHOA TOÁN
Trịnh Văn Nội
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
TOÁN HỌC VÀ VẬN DỤNG TOÁN HỌC TRONG DẠY
HỌC CÁC KHÁI NIỆM HÌNH HỌC THUỘC CHỦ ĐỀ
QUAN HỆ SONG SONG TRONG KHÔNG GIAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
================================
KHOA TOÁN
Trịnh Văn Nội
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
TOÁN HỌC VÀ VẬN DỤNG TOÁN HỌC TRONG DẠY
HỌC KHÁI NIỆM HÌNH HỌC THUỘC CHỦ ĐỀ
QUAN HỆ SONG SONG TRONG KHÔNG GIAN
Tên em là: Trịnh Văn Nội
Sinh viên lớp: K40E – Sư phạm Toán
Trường: ĐHSP Hà Nội 2
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của
riêng em dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn. Và nó không
trùng với kết quả của bất kì tác giả nào khác.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nội
Trịnh Văn Nội
Mục lục
Lời mở đầu ...................................................................................... 3
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn ............................................ 6
1.1 Năng lực và năng lực Toán học ............................................... 6
1.1.1 Năng lực.............................................................................................. 6
1.1.2 Năng lực Toán học của học sinh........................................................ 8
1.2 Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng Toán
học..................................................................................................... 9
1.2.1 Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học của học sinh ......................... 9
1.2.2 Năng lực vận dụng Toán học ........................................................... 10
1.3. Dạy học khái niệm toán học ở trường phổ thông ............... 11
1.3.1 Đại cương về định nghĩa khái niệm ................................................ 11
1.3.2 Vị trí khái niệm và yêu cầu dạy học khái niệm ............................. 13
1.3.3 Một số hình thức định nghĩa khái niệm ở phổ thông ................... 13
2.3.3 Kế hoạch bài học “ Đường thẳng song song với mặt phẳng ”..….31
2.3.4 Kế hoạch bài học “Hai mặt phẳng song song” .............................. 34
2.3.5. Kế hoạch bài học “ Phép chiếu song song” .................................... 38
Tiểu kết chương 2: ........................................................................ 40
Kết luận .......................................................................................... 41
Tài liệu tham khảo ........................................................................ 43
Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức, tích cực chủ động hội
nhập quốc tế sâu rộng hơn để đến năm 2020 nước ta trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại đặt ra cho giáo dục, đào tạo nước ta
những yêu cầu, thách thức mới. Một trong những điểm nổi bật của việc đổi
mới chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 là xây dựng và phát
triển chương trình theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Điều
này đòi hỏi phải có định hướng phát triển, có tầm nhìn chiến lược, ổn định
lâu dài cùng những phương pháp, hình thức, tổ chức, quản lí giáo dục và
đào tạo cho phù hợp.
Để thực hiên nhiệm vụ đó thì sự nghiệp giáo dục cần được đổi mới.
Cùng với những thay đổi về nội dung, cần có những đổi mới căn bản về tư
duy giáo dục và phương pháp dạy học, trong đó phương pháp dạy học môn
toán là một yếu tố quan trọng. Bởi vì Toán học có liên quan chặt chẽ với
thực tế và có ứng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học,
công nghệ, sản xuất và đời sống xã hội hiện đại, nó thúc đẩy mạnh mẽ các
quá trình tự động hóa sản xuất, trở thành công cụ thiết yếu cho mọi ngành
khoa học và được coi là chìa khóa của sự phát triển và thực tiễn đòi hỏi
con người có năng lực giải quyết vấn đề hơn là lý thuyết sáo rỗng.
quan hệ song song ở lớp 11 trường THPT theo hướng tiếp cận năng lực.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các khái niệm toán học thuộc chủ đề quan hệ song song ở lớp 11
trường THPT.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận các tài liệu về năng lực của học sinh, về
phương pháp dạy học khái niệm môn toán.
Tổng kết kinh nghiệm tham khảo các giáo án, bài giảng theo
phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
4
Nghiên cứu nội dung chương trình, sách giáo khoa môn Toán
thuộc chủ đề quan hệ song song ở lớp 11 trường THPT.
6. Nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn:
1.1 Năng lực và năng lực toán học
1.2 Định hướng tiếp cận năng lực học sinh trong dạy học môn
toán ở trường phổ thông
1.3 Dạy học khái niệm toán học ở trường phổ thông
1.4 Phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và năng lực
vận dụng Toán học của học sinh.
Chương II: Ứng dụng thiết kế hoạt động dạy học khái niệm hình học
thuộc chủ đề quan hệ song song theo hướng phát triển năng lực học sinh:
2.1 Quan hệ song song ở lớp 11 trong trường phổ thông
2.2 Thiết kế các hoạt động dạy học khái niệm trong chủ đề quan
hệ song song ở lớp 11 trường THPT theo định hướng phát triển năng
lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và năng lực vận dụng Toán học.
5
quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở
6
trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực
công việc của mình.
Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm
sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo
tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động.
Để nắm được cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực
ta cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau:
- Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia,
nếu một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về
năng lực.
- Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực
hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt
chung chung nào.
- Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc
vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát
triển trong quá trình hoạt động, phát triển của con người. Trong xã hội có bao
nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực,
có người có năng lực về quản lý kinh tế, có người có năng lực về Toán học,
có người có năng lực về kỹ thuật, có người có năng lực về thể thao ...
- Cần phân biệt năng lực với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo: Tri thức là
những hiểu biết thu nhân được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc
sống của mình. Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm
vào thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó. Kỹ xảo là những kỹ năng
được lắp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không
phải tập trung nhiều ý thức vào việc mình đang làm. Còn năng lực là một tổ
+ Năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực sáng tạo Toán học.
8
1.2 Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng Toán học
1.2.1 Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học của học sinh
-Tư duy là một qúa trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng
trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.
-Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên
lạc hay giao tiếp với nhau.
- Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ:
Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy, là phương tiện biểu đạt kết
quả tư duy, do đó có thể khách quan hóa kết quả tư duy cho người khác và
cho bản thân chủ thể tư duy.
Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy
tắc, khái niệm, công thức, quy luật…) và kinh nghiệm của bản thân vào quá
trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…) để nhận thức được cái
bên trong, bản chất của sự vật hiện tượng.
Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm
thanh vô nghĩa. Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là tư duy mà chỉ là phương
tiện của tư duy.
Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học của học sinh thể hiện qua hai
hoạt động chỉ báo tương ứng:
+ Diễn đạt nội dung các kiến thức Toán học, các tình huống Toán học
bằng ngôn ngữ kí hiệu Toán học. Ngôn ngữ kí hiệu Toán học là ngôn ngữ
được sử dụng tối đa các kí hiệu Toán học cho các đối tượng tương ứng, đồng
Yêu cầu vận dụng là sử dụng được các quy tắc, phương pháp, khái
niệm, … để giải quyết vấn đề trong học tập hoặc trong cuộc sống.
+ Vận dụng cấp độ thấp:
Tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái niệm cơ bản và có thể sử
dụng thông tin, vận dụng các phương pháp, khái niệm, lý thuyết đã học trong
các tình huống khác.
+ Vận dụng cấp độ cao (sáng tạo):
10
Phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc, những ẩn ý, những bộ phận
cấu thành.
Yêu cầu là sử dụng khái niệm đã học để giải quyết các vấn đề mới,
không giống với những điều đó được học hoặc trình bày trong sách giáo khoa
nhưng phù hợp khi được giải quyết với kỹ năng và kiến thức được giảng dạy
ở mức độ nhận thức này.
Như vậy, năng lực vận dụng là cấp độ tư duy cao nhất trong lĩnh vực
nhận thức các tri thức của học sinh trong học tập.
Năng lực vận dụng Toán học của học sinh thể hiện qua các hoạt động
chỉ báo tương ứng sau:
+ Toán học hóa các tình huống của thực tiễn
+ Sử dụng các kiến thức, quy tắc, khái niệm vào giải quyết vấn đề khác
tương tự với những điều đã biết trong cuộc sống, trong học tập
+ Sử dụng các kiến thức, quy tắc, khái niệm vào giải quyết vấn đề mới
không giống với những điều được học hoặc đã được biết trước.
1.3. Dạy học khái niệm toán học ở trường phổ thông.
1.3.1 Đại cương về định nghĩa khái niệm:
a) Khái niệm
Khái niệm là một hình thức tư duy phản ánh những tư tưởng chung, đặc
Định nghĩa một khái niệm là một thao tác logic nhằm phân biệt lớp đối
tượng xác định khái niệm này với các đối tượng khác.
Ví dụ: “Hình vuông là hình chữ nhật có hai cạnh liên tiếp bằng nhau”.
• Khái niệm không định nghĩa
Định nghĩa khái niệm mới thường dựa vào khái niệm đã biết. Tuy
nhiên, quá trình này không thể kéo dài vô hạn, tức là phải có khái niệm được
thừa nhận làm điểm xuất phát, gọi là những hái niệm nguyên thủy trong Toán
học.
Ở trường phổ thông, chúng ta thấy có một số khái niệm cũng không
được định nghĩa vì lí do sư phạm, mặc dù chúng có thể được định nghĩa trong
Toán học. Đối với những khái niệm không định nghĩa ở trường phổ thông,
12
cần mô tả giải thích thông qua những ví dụ cụ thể để học sinh hình dung được
những khái niệm này và hiểu được chúng một cách trực giác.
1.3.2 Vị trí khái niệm và yêu cầu dạy học khái niệm
a) Vị trí khái niệm.
Trong vệc dạy học toán, cũng như việc dạy học bất cứ một khoa học
nào ở trường phổ thông, điều quan trọng bậc nhất là hình thành một cách
vững chắc cho học sinh một hệ thống khái niệm. Việc hình thành một hệ
thống khái niệm Toán học là nền tảng của toàn bộ kiến thức Toán, là tiền đề
hình thành khả năng vận dụng hiệu quả các kiến thức đã học, có tác dụng lớn
đến việc phát triển trí tuệ, đồng thời góp phần giáo dục thế giới quan cho học
sinh qua việc nhận thức đúng đắn quá trình phát sinh và phát triển của các
khái niệm Toán học.
b) Yêu cầu dạy học khái niệm.
Thông hiểu các dấu hiệu đặc trưng, bản chất của khái niệm.
Biết nhận dạng khái niệm, tức là biết phát hiện xem một đối tượng cho
,
,
, AB= A’B’,
AC= A’C’, BC= B’C’.
d) Định nghĩa bằng mô tả:
- Nội dung: Định nghĩa bằng mô tả là phương pháp định nghĩa bằng
cách chỉ ra cách tạo đối tượng hoặc mô tả những đối tượng gần giống nó.
- Ví dụ: Định nghĩa “điểm” là một dấu chấm nhỏ trên trang mặt phẳng
cho ta hình ảnh về điểm.
1.3.4 Các quy tắc định nghĩa khái niệm
a) Quy tắc 1: Định nghĩa phải tương xứng.
Định nghĩa phải tương xứng là định nghĩa mà phạm vi của khái niệm
định nghĩa và khái niệm được định nghĩa phải bằng nhau.
Định nghĩa không tương xứng là định nghĩa mà phạm vi của khái niệm
quá hẹp hay qúa rộng so với khái niệm được định nghĩa.
Ví dụ: Số vô tỉ là số thập phân vô hạn.
14
Ta thấy phạm vi của khái niệm được định nghĩa (Số vô tỉ) nhỏ hơn
phạm vi của khái niệm định nghĩa (Số thập phân vô hạn). Vậy định nghĩa khái
niệm trên không tương xứng.
b) Quy tắc 2: Định nghĩa phải xác định
Định nghĩa xác định là khi định nghĩa một khái niệm mới phải dựa vào
khái niệm đã biết trước đó.
… Giáo viên dẫn dắt học sinh phân tích, so sánh, khái quát hóa, … Tìm ra dấu
hiệu đặc trưng của khái niệm và thể hiện ra các trường hợp cụ thể đó, từ đó đi
đến định nghĩa tường minh hay hiểu biết trực giác của khái niệm.
- Quy trình:
+ Bước 1: Giáo viên đưa ra các ví dụ cụ thể để học sinh thấy được sự
tồn tại hay tác dụng của một loại đối tượng.
+ Bước 2: Dẫn dắt học sinh phân tích, so sánh để nêu bật các đặc điểm
chung của các đối tượng đang được xem xét.
+ Bước 3: Giáo viên gợi mở để học sinh phát biểu các đặc điểm cá
nhân bằng cách nêu tên và các đặc điểm đặc trưng của đối tượng.
- Ưu- Nhược điểm:
Ưu điểm: Rèn luyện được thao tác tư duy, phân tích, tổng hợp và phát
huy được tính tích cực, chủ động, của học sinh.
Nhược điểm: Tốn nhiều thời gian.
- Điều kiện sử dụng:
Khi định hình được một số đối tượng thuộc phạm vi của khái niệm cần
hình thành.
Chưa phát hiện ra được khái niệm loại là điểm xuất phát cho con đường
suy diễn.
b) Tiếp cận khái niệm theo con đường suy diễn.
- Nội dung: Xuất phát từ một khái niệm đã biết, thêm vào nội hàm khái
niệm đó một số đặc điểm mà ta quan tâm để được khái niệm mới.
- Quy trình:
+ Bước 1: Chọn một khái niệm đã biết và them vào nội hàm của một số
thuộc tính nào đó.
+ Bước 2: Phát biểu một định nghĩa bằng cách nêu tên khái niệm mới
và định nghĩa nó nhờ một khái niệm tổng quát hóa hơn cùng với những đặc
điểm để hạn chế một bộ phận trong khái niệm tổng quát đó.
16
17
Học sinh chưa được định hình được những đối tượng thuộc ngoại diên
khái niệm, do đó con đường quy nạp không thích hợp.
Học sinh chưa phát hiện được một khái niệm loại nào thích hợp với
khái niệm cần định nghĩa làm điểm xuất phát cho con đường suy diễn.
1.3.6 Hoạt động củng cố khái niệm
a) Nhận dạng và thể hiện khái niệm.
Nhận dạng một khái niệm là phát hiện xem một đối tượng cho trước có
thỏa mãn định nghĩa đó hay không. Thể hiện một khái niệm là tạo một đối
tượng thỏa mãn định nghĩa đó. Nhận dạng và thể hiện khái niệm là hai dạng
hoạt động theo chiều hướng trái ngược nhau, có tác dụng củng cố khái niệm.
Thực hiện hoạt động nhận dạng và thể hiện một khái niệm cần lưu ý:
Thứ nhất, cần sử dụng cả những đối tượng thuộc ngoại diên lẫn những
đối tượng không thuộc ngoại diên khái niệm đó.
Thứ hai, đối với những đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm đang
xét thì cần đưa ra cả những trường hợp đặc biệt.
b) Hoạt động ngôn ngữ.
Phân tích, nêu bật những ý quan trọng chứa đựng trong định nghĩa một
cách tường minh hay ẩn tàng.
Phát biểu lại định nghĩa bằng lời lẽ của mình và biết cách thay đổi cách
phát biểu, diễn đạt định nghĩa dưới những dạng ngôn ngữ khác nhau.
c) Hoạt động luyện tập, vận dung:.
Luyện tập khái niệm là học sinh được tập sử dụng trực tiếp các kiến
thức định nghĩa khái niệm giải quyết các vấn đề cơ bản, điển hình trong thực
tế, trong Toán học.
Vận dụng khái niệm là học sinh sử dụng đồng thời các kiến thức về
khái niệm giải quyết các vấn đề nảy sinh trong Toán học và trong đời sống.
Hệ thống hóa là sắp xếp khái niệm mới vào hệ thống khái niệm đã học,
bày một cách ngắn gọn, súc tích. Điều đó thuận tiện cho việc ghi chép, lưu
giữ các tri thức dưới dạng thông tin vật chất tồn tại ở bên ngoài trí não của
con người. Các thông tin đó được ghi lại dưới dạng văn bản tồn tại một cách
lâu bền và có thể lưu truyền từ người này sang người khác. Tuy nhiên, việc
19
ghi nhớ, lưu giữ các tri thức trong trí não con người là khó khăn, dẫn đến
không thể nhanh chóng tái hiện các tri thức trong trí não và không thuận tiện
cho việc sử dụng các tri thức trong vận dụng.
+ Sử dụng ngôn ngữ kí hiệu Toán học diễn tả tình huống giúp học sinh
nhanh chóng nhận rõ nhiệm vụ Toán học của vấn đề cần phải giải quyết và
phân biệt rõ ràng cấu trúc trong chứng minh Toán học.
- Ngôn ngữ thông thường: (Ngôn ngữ nói)
+ Diễn tả nội dung kiến thức Toán học, tình huống Toán học bằng ngôn
ngữ thông thường, không chứa các kí hiệu Toán học là tên gọi gán cho từng
đối tượng cụ thể trong tình huống đó. Trong ngôn ngữ thông thường, người ta
sử dụng danh từ chung chỉ một loại đối tượng, còn việc phân biệt từng đối
tượng cụ thể trong loại đối tượng đó sẽ sử dụng các từ “này”, “khác”, “kia” đi
kèm danh từ chung chỉ loại đối tượng chung đó.
+ Nội dung kiến thức Toán học mang tính khái quát cao vì trong đó
không lệ thuộc vào các kí hiệu cụ thể là tên gọi gán cho các đối tượng trong
tình huống.
+ Kiến thức diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường giúp học sinh dễ dàng
ghi nhớ trong trí não, nhanh chóng tái hiện và sử dụng kiến thức để giải quyết
các tình huống đặt ra trong thực tiễn.
Trong dạy học môn Toán, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán
học là cho học sinh thường xuyên diễn tả nội dung các kiến thức Toán học,
các tình huống Toán học đồng thời bằng cả ngôn ngữ thông thường (Ngôn
ngữ nói) và ngôn ngữ kí hiệu Toán học (Ngôn ngữ viết).
nghiệm qua các hoạt động củng cố khái niệm:
- Lưu ý học sinh về hoạt động liên hệ tới các hình ảnh khái niệm được
thể hiện trong đời sống thực tế.
- Chú trọng các hoạt động sử dụng trực tiếp định nghĩa khái niệm vào
giải quyết những tình huống đa dạng, điển hình trên khối hình hình học cơ sở
của hình học không gian ở lớp 11 trường THPT.
Tiểu kết chương 1:
- Định hướng phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học:
Học sinh thường xuyên được trải nghiệm các hoạt động diễn tả nội
dung kiến thức về khái niệm đồng thời bằng cả ngôn ngữ thông thường và
ngôn ngữ kí hiệu Toán học trong quá trình hình thành khái niệm Toán học.
21