ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG NGỌC VÂN
BIẾN ĐỔI HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA
NGƢỜI DAO ĐỎ THÔN NÀ CÀ, XÃ MỸ THANH,
HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG NGỌC VÂN
BIẾN ĐỔI HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA
NGƢỜI DAO ĐỎ THÔN NÀ CÀ, XÃ MỸ THANH,
HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Nhân học
Mã số: 60 31 03 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trƣờng Giang
Hà Nội – 2016
là bộ phận sau đại học của khoa Nhân học đã giúp tôi hoàn thành một cách
thuận lợi các thủ tục trong quá trình học tập, viết và bảo vệ luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến UBND xã Mỹ Thanh và đồng
bào tại địa phƣơng đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tƣ
liệu quý giá và nhiều ý kiến giá trị để hoàn thành luận văn.
Một lẫn nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn !
BẢNG KÊ NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Cb
: Chủ biên
ĐHQG
: Đại học Quốc gia
KHXH
: Khoa học xã hội
KHXH & NV
: Khoa học Xã hội và Nhân văn
Nxb
: Nhà xuất bản
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................................
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................
6. Nguồn tƣ liệu của luận văn...............................................................................................
7. Đóng góp của luận văn ......................................................................................................
8. Kết cấu của luận văn .........................................................................................................
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TỘC NGƢỜI NGHIÊN
CỨU .........................................................................................................................................
1.1 Địa bàn nghiên cứu: Xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn...............
1.1.1 Điều kiện tự nhiên .........................................................................................................
1.1.2 Kinh tế .............................................................................................................................
1.1.3 Văn hóa – xã hội ............................................................................................................
1.2 Đôi nét về ngƣời Dao Đỏ ở Bắc Kạn .............................................................................
1.2.1 Người Dao ở Bắc Kạn ...................................................................................................
1.2.2 Nhóm Dao Đỏ thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn ....
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.......................................................................................................
Chƣơng 2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH CỦA NGƢỜI DAO
ĐỎ THÔN NÀ CÀ TRƢỚC 1986 ......................................................................................
2.1 Bối cảnh xã hội của hôn nhân – gia đình ngƣời Dao Đỏ thôn Nà Cà trƣớc Đổi mới
1986...........................................................................................................................................
2.2 Đặc điểm hôn nhân – gia đình ngƣời Dao Đỏ thôn Nà Cà trƣớc 1986 ..................
2.2.1 Một số đặc điểm trong hôn nhân .................................................................................
2.2.2 Một số đặc điểm trong gia đình ...................................................................................
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.......................................................................................................
Chƣơng 3. NHỮNGBIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH CỦA NGƢỜI
DAO ĐỎ THÔN NÀ CÀ TỪ SAU 1986 ...........................................................................
1
Bảng 1.6 Số hộ có nhà ở chia theo loại nhà ở và đơn vị hành chính huyện Bạch Thông
................................................................................................................................................................... 29
Bảng 3.1 Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo tình trạng hôn nhân hiện tại, nhóm tuổi,
giới tính thôn Nà Cà.......................................................................................................................... 68
Bảng 3.2 Số phụ nữ 15 – 49 tuổi; tổng số con đã sinh; tổng số con hiện còn sống;
tổng số con hiện còn sống; tổng số con đã chết chia theo nhóm tuổi của ngƣời mẹ và
đơn vị hành chính huyện Bạch Thông........................................................................................ 69
Sơ đồ 1. Sơ đồ 5 đời của gia đình ông Lý Văn Cán ở thôn Nà Cà, xã Mỹ Thanh....52
Sơ đồ 2. Cấu trúc gia đình hạt nhân đầy đủ............................................................................. 53
Sơ đồ 3. Cấu trúc gia đình hạt nhân không đầy đủ............................................................... 54
Sơ đồ 4. Cấu trúc gia đình hạt nhân mở rộng.......................................................................... 54
3
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Hôn nhân và gia đình là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong nghiên cứu
Nhân học khi tìm hiểu những đặc trƣng văn hóa và lịch sử phát triển của mỗi cộng
đồng tộc ngƣời. Chính vì vậy, lĩnh vực này đóng một vai trò to lớn trong việc giữ
gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa tộc ngƣời.Thông qua các thực hành nghi lễ trong
hôn nhân, trang phục cƣới xin, quy mô gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong
gia đình,… có thể thấy đƣợc lịch sử phát triển cũng nhƣ các quan niệm, các giá trị
văn hóa truyền thống của mỗi tộc ngƣời hay nói cách khác là các đặc trƣng văn hóa
những yếu tố mới nào đã và đang đƣợc tiếp thu vào trong văn hóa của đồng bào
ngƣời Dao nơi đây.
Từ đótrả lời cho câu hỏi những nguyên nhân dẫn tới thực trạng biến đổi trong
hôn nhân – gia đình ngƣời Dao Đỏ Nà Cà ? Trên cơ sở đó chỉ ra xu hƣớng biến đổi
của hôn nhân – gia đình của ngƣời Dao Đỏ Nà Cà trong giai đoạn hiện nay? Qua
đây, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách
có những giải pháp can thiệp phù hợp với từng trƣờng hợp tộc ngƣời ở những địa
bàn cụ thể.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “BIẾN ĐỔI HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CỦA NGƢỜI DAO ĐỎ THÔN NÀ CÀ, XÃ MỸ THANH, HUYỆN BẠCH
THÔNG, TỈNH BẮC KẠN” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình.
2.
Mục đích nghiên cứu
Luận văn đƣợc nghiên cứu nhằm những mục đích sau:
-
Tìm sự khác biệt/ biến đổi trong hôn nhân và giao đình của ngƣời Dao Đỏ
trong đời sống hiện nay so với trƣớc kia. Lấy mốc thời gian năm 1986 (Đổi mới) để
nghiên cứu so sánh sự khác biệt.
Tiến hành tìm hiểu trên các khía cạnh cụ thể nhƣ: quan niệm trong hôn nhân,
các bƣớc nghi lễ trong hôn nhân, thiết chế gia đình, loại hình và quy mô gia đình,
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình,… thông qua cái nhìn của những ngƣời
trong cuộc – những ngƣời Dao Đỏ tại địa phƣơng cụ thể là những ngƣời đã đƣợc
thực hành hôn nhân hay những ngƣời đƣợc chứng kiến thực hành hôn nhân.
- Trên cơ sở đó, chỉ ra nguyên nhân tại sao dẫn đến những sự biến đổi trên.
-
Thông, Tỉnh Bắc Kạn, trong bối cảnh từ trƣớc 1986 và từ sau 1986 đến nay.
Đây là một địa bàn cƣ trú tƣơng đối biệt lậpvới gần100% đồng bào ngƣời
Dao Đỏ sinh sống, chính vì vậy còn bảo lƣu đƣợc nhiều nét văn hóa truyền thống
trong đó có lĩnh vực mà luận văn muốn đi sâu tìm hiểu đó là hôn nhân và gia đình.
4.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4.1 Những nghiên cứu về người Dao và nhóm Dao Đỏ
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngƣời Dao đƣợc công bố: trong
đó, trƣớc hết phải kể đến công trình nghiên cứu “Người Dao ở Việt Nam” của
nhóm tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến
(1971). Trong số các tác phẩm thuộc thể loại dân tộc chí thì cuốn “Người Dao ở
6
Việt Nam” vƣợt trội hẳn vì đề cập đến nhiều nguồn tƣ liệu điền dã phong phú, chính
xác và cụ thể. Cuốn sách đã nêu đƣợc những nét khái quát chung về tộc ngƣời Dao,
cung cấp nhiều thông tin giá trị về các ngành Dao ở nƣớc ta trên các khía cạnh: kinh tế,
sinh hoạt vật chất, văn hóa - xã hội và một số tục lệ chủ yếu trong đời sống và tôn giáo
tín ngƣỡng của ngƣời Dao. Cho đến nay cuốn sách này vẫn có nhiều giá trị tham khảo
và là nguồn tƣ liệu quý giá khi đi nghiên cứu, tìm hiểu về ngƣời Dao.
Riêng về lĩnh vực hôn nhân và gia đình cuốn sách nàyđã cung cấp những nét
cơ bản về vấn đề hôn nhân và gia đình của ngƣời Dao. Giúp tôi có một cái nhìn
toàn diện về vấn đề hôn nhân và gia đình tộc ngƣời Dao nói chung và một số nhóm
địa phƣơng Dao nói riêng trong đó có ngƣời Dao Đỏ. Tuy nhiên, cũng nhƣ nhiều
cuốn dân tộc chí khác, cuốn sách vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhƣ nguồn tƣ liệu
dùng để chứng minh cho một số luận điểm nhất là phần nguồn gốc lịch sử còn rất
chung chung, khó kiểm chứng và mô tả văn hóa tộc ngƣời với cách nhìn văn hóa
thức văn hóa vật thể (loại hình nhà cửa, trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực,...),
các dạng thức văn hóa phi vật thể (ngôn ngữ và chữ viết, văn học dân gian, tín
ngƣỡng,...) và các tục lệ - nghi lễ vòng đời. Trong đó tác giả đã giành hẳn một chƣơng
để viết về các thiết chế gia đình dòng họ, cơ cấu gia đình và tục lệ hôn nhân của các tộc
ngƣời vùng Tây Bắc. Đây là nguồn tài liệu vô cùng giá trị, cung cấp những thông tin
quan trọng cho luận văn trong nghiên cứu các giá trị hôn nhân – gia đình truyền thống
của ngƣời Dao nói chung và cộng đồng ngƣời Dao Đỏ nói riêng.
Trong phần cuối, cuốn sách đã chỉ ra những xu hƣớng phát triển văn hóa của
các tộc ngƣời vùng Tây Bắc bằng cách nêu và phân tích những nguyên nhân xuất
hiện của các nhân tố văn hóa mới dựa trên các tác động chủ quan và khách quan đến
các giá trị văn hóa truyền thống.
Chính vì vậy, cuốn sách tuy chỉ đề cập đến một vùng địa lý và tập trung vào
một số tộc ngƣời vùng Tây Bắc nhƣng đã cung cấp những thông tin quan trọng về
các giá trị văn hóa độc đáo của các tộc ngƣời và là nguồn tƣ liệu vô cùng quý giá
đối với luận văn trong nghiên cứu các giá trị văn hóa của cộng đồng ngƣời Dao Đỏ.
4.2 Những nghiên cứu về hôn nhân – gia đình
Trong Nhân học, hôn nhân và gia đình là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng
khi đi tìm hiểu về văn hóa của bất kỳ tộc ngƣời nào. Đầu TK XIX vấn đề hôn nhân
và gia đình đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học lớn trên thế giới
8
nhƣ Darwin với thuyết tiến hóa,L. Morgan với “Xã hội cổ đại” (1981),...và không
thể không nhắc tới cuốn sách kinh điển về hôn nhân – gia đình “Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước” của F. Ăngghen vào 1884. Cuốn sách này
cho đến tận ngày nay vẫn có giá trị vô cùng quan trọng và là cơ sở lý luận cho các
nhà Nhân học trong nghiên cứu lĩnh vực hôn nhân – gia đình.
Ở
Tác giả đã miêu tả khá sinh động các nghi lễ trong đời ngƣời của ngƣời Dao
Tiền và cả quá trình biến đổi của nó, trên cơ sở đó đƣa ra những nhận xét về vai trò,
chức năng, giá trị của các nghi lễ cũng nhƣ phản ánh các đặc điểm của tộc ngƣời,
sắc thái địa phƣơng.Tuy nhiên, điểm hạn chế trong các nghiên cứu này hôn nhân
mới chỉ đƣợc nhìn nhận dƣới góc độ nghi lễ và chƣa chỉ ra đƣợc mối liên hệ giữa
hôn nhân và gia đình.
Nói đến tác phẩm nổi bật viết về hôn nhân và gia đình của ngƣời Dao không
thể bỏ qua cuốn sách “Hôn nhân gia đình các dân tộc H’mông, Dao ở hai tỉnh Lai
Châu và Cao Bằng” (2004) của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thị Hoa,
Nguyễn Thị Thanh. Đây vốn là đề tài nghiên cứu “Một số đặc điểm về hôn nhân và
gia đình của dân tộc H’mông, Dao” do tiến sĩ Đỗ Ngọc Tấn làm chủ nhiệm, đề tài
đã đƣợc triển khai tại hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng và đƣợc Hội đồng khoa học
của Viện khoa học dân số nghiệm thu với kết quả xuất sắc khi đƣa ra đƣợc những
khuyến nghị cụ thể giúp cho việc hoạch định chính sách về dân số và gia đình đối
với hai tộc ngƣời H’mông và Dao nói riêng và các tộc ngƣời thiểu số nói chung.
Cuốn sách không chỉ đi sâu phân tích những đặc điểm và thực trạng hôn nhân gia đình của hai tộc ngƣời thiểu số ở nƣớc ta mà còn cung cấp những thông tin về
nguồn gốc tộc ngƣời, điều kiện tự nhiên của địa bàn cƣ trú, đặc điểm kinh tế,…làm
căn cứ để thấy đƣợc quá trình tác động dẫn đến sự chuyển biến trong hôn nhân và gia
đình của hai tộc ngƣời H’mông và Dao. Cụ thể là nhóm H’mông Trắng và Dao Đỏ.
Tuy nhiên, thông tin thu thập đƣợc trong nghiên cứu này chủ yếu dựa vào bảng
hỏi vốn là phƣơng pháp chủ đạo trong nghiên cứu xã hội học. Các câu trả lời sau đó
đƣợc lƣợng hóa một cách cụ thể và đƣợc tác giả sử dụng là căn cứ chính trong nghiên
cứu. Bên cạnh đó, một phƣơng pháp chủ đạo nữa đƣợc tiến hành trong nghiên cứu này
là phƣơng pháp thảo luận nhóm tập trung, tuy nhiên các đối tƣợng tham gia thảo luận
là các cán bộ thôn, xã chứ chƣa thật sự có sự tƣơng tác với ngƣời dân. Vì vậy, nghiên
cứu này gần với một nghiên cứu xã hội học hơn với một nghiên cứu Nhân học.
Tuy nhiên, nghiên cứu này đã giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc xây dựng bảng
hỏi và các số liệu, thông tin mà tác giả cung cấp sẽ là những luận cứ quan trọng để tôi
5.1 Cơ sở lý thuyết
Biến đổi văn hóa (theo nghĩa rộng bao gồm cả biến đổi xã hội) là một quá trình
diễn ra trong tất cả các xã hội và là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của Nhân học.
Liên quan đến biến đổi văn hóa, có nhiều lý thuyết giải thích về vấn đề này nhƣ giải
thích sự biến đổi văn hóa theo quá trình tiến hóa (theo thời gian); giải thích biến đổi
văn hóa theo “tán xạ” hay phát tán văn hóa (theo không gian); giải thích biến đổi văn
hóa theo đặc thù lịch sử; giải thích biến đổi văn hóa theo chức năng; …
11
Trong nhiều lý thuyết giải thích về sự biến đổi văn hóa, tôi đặc biệt chú ý đến lý
thuyết chức năng của Malinowski và Chức năng luận cấu trúc của A.Radcliffe Brown.
Chức năng luận cấu trúc của A.Radcliffe Brown (1881 - 1955). Ông là ngƣời
tiêu biểu cho trƣờng phái chức năng - cấu trúc ở Anh. Theo ông khi đi tìm hiểu các nền
văn hóa khác nhau cần phải nghiên cứu văn hóa của chủ thể từ bên trong và có ý thức
đối với giá trị của nền văn hóa đó. Chính vì vậy, thuyết chức năng có một ý nghĩa đối
với Nhân học ở chỗ, bất cứ văn hóa nào cũng đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu dƣới
1
cái nhìn hiện thực các chức năng khác nhau. Thuyết chức năng – cấu trúc hƣớng tới
tìm hiểu những những đặc tính cố hữu, phi thời gian, tìm hiểu cái bất biến trong cái khả
biến. Nói cách khác lý thuyết này cố gắng phát hiện các lý do xã hội đã chỉ huy sự vận
hành và sự tái tạo các cấu trúc truyền thống của các xã hội và các nền văn hóa.
Radcliffe Brown và các học trò của ông xem cá nhân và hành động của họ nhƣ là “các
tác dụng phụ” của xã hội mà ý nghĩa sâu xa nhất là góp phần vào sự hội nhập xã hội.
2
Trong luận văn này thuyết chức năng – cấu trúc của Radcliffe Brown sẽ đi giải
(tôn giáo, lễ nghi,…). Qua đây ta có thể thấy đƣợc sự lựa chọn lý tính của các cá
nhân thông qua chức năng của các yếu tố văn hóa mới, các yếu tố văn hóa này có
chức năng là thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân.
Dựa trên thuyết chức năng của Malinowski luận văn sẽ đi lý giải nguyên nhân
khiến cho các thực hành văn hóa mới đã và đang xuất hiện trong tập quán hôn nhân
– gia đình ngƣời Dao Đỏ Nà Cà hay nói cách khác đƣợc ngƣời Dao Đỏ Nà Cà lựa
chọn tiếp nhận vào trong thực hành hôn nhân – gia đình và theo thời gian các yếu tố
văn hóa này đã đƣợc địa phƣơng hóa nhƣ thế nào.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trƣớc khi đi tìm hiểu cụ thể về vấn đề nghiên cứu tôi sẽ tiến hành thu thập các
số liệu do Chủ tịch xã, trƣởng thôn, cán bộ ủy ban dân số và kế hoạch hóa gia đình
Tỉnh, xã, cộng tác viên dân số của thôn, xã,…cung cấp để có đƣợc cái nhìn tổng
quan về địa bàn nghiên cứu và thực trạng hôn nhân và gia đình của ngƣời Dao Đỏ
tại thôn Nà Cà. Các số liệu trên sẽ giúp tôi rất lớn trong việc phân tích, tổng hợp,
xác định các thông tín viên tiềm năng cho đề tài nghiên cứu và là căn cứ để so sánh,
đối chiếu với tình hình thực tế. Bên cạnh đó, tôi sẽ tìm đọc và tham khảo các bài
báo cáo, các luận văn, luận án, các bài nghiên cứu, đặc biệt là các bài nghiên cứu về
đề tài hôn nhân và gia đình làm cơ sở khoa học và rút kinh nghiệm cho bản thân để
hoàn thiện đề tài của mình một cách tốt nhất.
Bên cạnh các nguồn thông tin có đƣợc do chính quyền cung cấp, tôi sẽ sử
dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng bằng bảng hỏi để tiến hành thu thập
thông tin định lƣợng ban đầu đối với các tất cả các đối tƣợng đã kết hôn trong độ
5
tuổi từ 15 – 49 tuổi và cả những đối tƣợng từ 50 tuổi trở lên. Bảng hỏi ở đây là
4
Ngƣời dịch: Vũ Thị Phƣơng Anh, Phan Ngọc Chiến, Hoàng Trọng (2006), Một số vấn đề và lý thuyết
nghiên cứu Nhân học, Nxb đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr 22.
đƣợc hai câu hỏi mà tôi đã nêu trong phần câu hỏi nghiên cứu.
Tuy nhiên, do thời gian thực địa khá ngắn và vấn đề mà tôi muốn nghiên cứu có
nhiều khía cạnh tƣơng đối nhạy cảm nên việc tạo dựng lòng tin trong cộng đồng là một
thách thức khá lớn đối với ngƣời bƣớc đầu làm nghiên cứu nhƣ tôi. Ví dụ nhƣ nhiều
trƣờng hợp tảo hôn chƣa đƣợc thống kê đầy đủ (không đăng ký kết hôn nên không
14
thống kê đƣợc số ngƣời tảo hôn, hay họ có thể không thành thật trong việc khai báo
tuổi kết hôn lần đầu của họ) nên gây khó khăn rất nhiều cho công việc thống kê
chính xác. Chính vì vậy bên cạnh chọn mẫu có chủ đích tôi phải tiến hành thêm một
kỹ thuật chọn mẫu dắt dây. Nghĩa là, trên cơ sở tạo dựng lòng tin, tiến hành khai
thác và đề nghị những cặp vợ chồng đã kết hôn mà tôi tiến hành phỏng vấn giúp đỡ,
hỗ trợ trong việc tìm ra các cặp vợ chồng có thực hành tảo hôn, đặc biệt là những
ngƣời tảo hôn, chƣa đăng ký kết hôn do là mang thai trƣớc hôn nhân,… Đây có thể
là những ngƣời là họ hàng, ngƣời thân hay hàng xóm của họ. Vì phạm vi nghiên
cứu tƣơng đối nhỏ nên tôi nghĩ việc lựa chọn kỹ thuật này sẽ có tính khả thi cao.
Phương pháp quan sát – tham gia đây là phƣơng pháp đặc thù của nhân học;
là quá trình nhà nghiên cứu phải hòa nhập vào cộng đồng đó, để làm cách nào xóa
mờ một cách tối đa khoảng cách giữa nhà nghiên cứu và cộng đồng nghiên cứu. Lý
tƣởng nhất là khiến họ chấp nhận nhƣ mình là một thành viên của cộng đồng.
Tuy nhiên, với khoảng thời gian không nhiều ,việc khiến họ chấp nhận tôi nhƣ
một thành viên của cộng đồng là một thách thức không hề đơn giản. Tuy nhiên, tôi có
thể cố gắng chiếm thiện cảm và tạo dựng lòng tin ở một mức độ mà họ có thể tâm sự
một cách thoải mái nhất có thể. Vì nhiều khi chính những ngƣời không quá thân thiết
nhƣ tôi lại là những ngƣời có mà họ có thể dễ dàng bộc lộ những suy nghĩ mà bình
thƣờng không dám nói ra cho những ngƣời biết quá rõ về bản thân họ.
Qua số liệu thu thập đƣợc từ bảng hỏi tôi sẽ chọn ra đƣợc các đối tƣợng thông
Nguồn tƣ liệu của luận văn
Nguồn tƣ liệu quan trọng nhất là tài liệu đƣợc thu thập từ những chuyến điền
dã ở cộng đồng cụ thể là qua những câu chuyện, cách nhìn từ chính những ngƣời
Dao Đỏ sinh sống, cƣ trú lâu đời tại địa phƣơng thôn Nà Cà. Luận văn thực chất là
một bức tranh phác họa lại chân thực đời sống, văn hóa, phong tục trong hôn nhân –
gia đình mà trọng tâm là những biến đổi trong lĩnh vực hôn nhân gia đình trong
truyền thống và hiện đại.
Để làm đƣợc điều này tôi đã thực hiện nhiều chuyến điền dã ở thôn Nà Cà để
nghiên cứu, xem xét những khía cạnh khác biệt trong hôn nhân và gia đình. Quá trình
nghiên cứu tôi đã nhận đƣợc đƣợc sự hỗ trợ tích cực của các cán bộ thôn, xã và ngƣời
dân thôn Nà Cà. Quá trình nghiên cứu đƣợc tiến hành qua 4 cuộc điền dã nhƣ sau:
- Tháng 5/2015 tôi đến xã thôn Nà Cà, Mỹ Thanh để thu thập những nguồn
tài
liệu và thông tin ban đầu về địa bàn nghiên cứu, thống kê số trƣờng hợp kết hôn
trƣớc và sau năm 1986.
16
-
Tháng 9/ 2015 tôi trở lại địa bàn để thu thập thêm số liệu, tiến hành phỏng
vấn sâu các trƣờng hợp thông tín viên tiềm năng.
- Tháng 1/2016 quay trở lại tiếp tục thu thập, bổ sung thêm thông tin.
- Tháng 5/2016 đây là lần cuối tôi đến địa bàn nghiên cứu để bổ sung tƣ liệu
và hoàn thiện luận văn.
Để hoàn thành công trình này tôi đã có sự đầu tƣ nghiên cứu, tham khảo các
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Mỹ Thanh là một xã vùng cao nằm ở phía Đông Nam của huyện
Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thành phố Bắc Kạn 12km. Với diện tích
33,1 km², mật độ dân số đạt 57,8 ngƣời/km², dân số năm 2009 là 1929 ngƣời.
6
Phía Đông giáp xã Côn Minh, huyện Na Rì và xã Cao Sơn, huyện Bạch
Thông; phía Tây giáp xã Huyền Tụng (nay là phƣờng Huyền Tụng) thành phố Bắc
Kạn; phía Nam giáp với xã Xuất Hóa (nay là phƣờng Xuất Hóa), thành phố Bắc
Kạn; phía Bắc giáp xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông.
Mỹ Thanh có địa hình phức tạp, nhiều núi cao, độ dốc lớn, nhiều khe suối. Xã
bị chia cắt bởi 2 con sông lớn đó là sông Cầu và sông Nguyên Phúc tạo thành nhiều
khu, cụm dân cƣ sinh sống với nhau đã từ bao đời nay.
Xã Mỹ Thanh đƣợc chia thành 9 thôn: Nà Cà, Châng, Phiêng Kham, Bản
Luông 1, Bản Luông 2, Khau Ca, Khuổi Duộc, Thôm Ƣng, Cây Thị.
Tài nguyên thiên nhiên: tổng diện tích đất tự nhiên của Mỹ Thanh là 3.323,59 ha;
đất nông nghiệp: 3.167,38 ha chiếm 95,31%; đất phi nông nghiệp: 113,80ha chiếm
3,42%; đất chƣa sử dụng: 42,20 ha chiếm 1,27%.
Về tài nguyên rừng, xã có hai loại rừng chính là rừng phòng hộ và rừng sản
xuất. Diện tích rừng tự nhiên 904,20 ha. Hiện nay diện tích đất rừng đã đƣợc giao
cho các hộ gia đình quản lý.Với diện tích đất rừng sản xuất lớn, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp kết hợp. Có thể phát triển các khu rừng
nguyên liệu, dƣợc liệu, cây lấy gỗ,... Xã có tổng diện tích mặt nƣớc 75,12 ha; diện
tích mặt nƣớc đƣợc nhân dân sử dụng để chăn nuôi thuỷ sản là 2,24 ha. Hiện nay,
diện tích ao nuôi cá ở địa phƣơng chƣa đƣợc quan tâm đầu tƣ nên chƣa đem lại
thu nhập kinh tế đáng kể cho hộ dân.
6