I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới chương trình sách giáo khoa bậc THPT của Bộ
giáo dục và Đào tạo hiện nay, khâu được coi trọng tâm là phương pháp dạy học.
Chỉ khi tìm được phương pháp dạy và học đúng, chúng ta mới có thể tạo ra được
chất lượng thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng
động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên
thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Đối với chương trình Ngữ văn bậc THPT, những văn bản nhật dụng rất
quan trọng. Tính nhật dụng trong văn bản làm cho việc dạy học Ngữ văn trong
nhà trường gắn với đời sống hằng ngày hơn. Do vậy, việc tìm tòi, nghiên cứu,
đổi mới phương pháp dạy - học kiểu văn bản này của GV là vô cùng ý nghĩa, nó
góp phần “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS”, “bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật
giáo dục, điều 28.2).
Trong sáng kiến kinh nghiệm lần này, tôi mạnh dạn đề xuất: “Một số giải
pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
(SGK Ngữ văn 10, tập 2)”. Mong rằng điều này sẽ góp một phần nhỏ cho việc
đổi mới phương pháp dạy – học văn bản nhật dụng và đem lại hiệu quả thiết
thực đối với mỗi đồng nghiệp.
Tuy nhiên bài viết khó tránh khỏi những sai sót trong quá trình thực hiện,
tôi rất mong được sự góp ý từ phía các đồng nghiệp, những đồng chí quan tâm
đến vấn đề này.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng giải pháp phù hợp, tích cực trong giờ dạy học văn bản “Hiền tài
là nguyên khí của quốc gia” (Thân Nhân Trung) nhằm tiếp cận nội dung kiến
thức tốt hơn, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh lớp 10, góp
phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương.
- Thiết kế giáo án thực nghiệm.
1
tương lai.
2. Thực trạng vấn đề
2
2.1. Thuận lợi
- Về phía văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Thân Nhân Trung):
+ Đây là một trong 82 bài văn bia ở Văn Miếu (Hà Nội) – trường Đại học
đầu tiên của Việt Nam. Nhiều học sinh đã đến thăm quan nơi này và đã có được
ấn tượng đầu tiên về những bài văn bia.
+ Văn bản thuộc thể loại nghị luận – dạng văn bia – một dạng văn mà học
sinh thường bắt gặp trong cuộc sống hàng ngày ở các nghĩa trang, chùa chiền,
bảo tàng, một số con đường có các tượng đài tưởng niệm… Do vậy, học sinh
phần nào đã hiểu được vai trò, tác dụng của việc dựng văn bia.
- Về phía học sinh: Học sinh đều đã được trang bị một phần nhất định
những hiểu biết chung về văn bản nhật dụng và đọc – hiểu một số văn bản nhật
dụng viết bằng phương thức lập luận từ cấp THCS.
- Về phía giáo viên: Bản thân tôi luôn yêu thích, say mê, tâm huyết với
nghề. Trong mỗi bài giảng về văn bản nhật dụng nói riêng và môn Ngữ văn nói
chung, tôi luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để có được những phương pháp dạy
học đem lại hiệu quả cao cho học sinh.
2.2. Khó khăn
- Văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Thân Nhân Trung) là văn
bản viết bằng chữ Hán thuộc thời kì văn học trung đại được xếp vào bài đọc
thêm trong chương trình Ngữ văn 10. Chính vì vậy, học sinh thường mang tư
tưởng học để biết, ít có sự tìm tòi, nghiên cứu sâu sắc.
3. Giải pháp thực hiện
3.1. Giải pháp chung cho một văn bản văn học
Căn cứ vào thực trạng trên, để việc học văn bản nhật dụng đạt kết quả cao
hơn, tôi xin nêu ra một số giải pháp sau:
thấy, đó mới thực sự là đọc sáng tạo. Do đó cần rèn luyện cho học sinh phương
pháp đọc theo từng cấp độ từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp thì mới có
kết quả.
Từ việc nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của khâu đọc văn bản, chúng ta
cần giúp học sinh đọc – hiểu văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Thân
Nhân Trung) theo đúng đặc trưng thể loại, nhận thấy được tính nhật dụng của nó
để có những định hướng tốt cho bản thân và xã hội.
3.1.3. Giải pháp 3: Phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học
4
- Theo chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, SGK Ngữ văn THPT
biên soạn trên nguyên tắc dạy học tích hợp và phát huy tính chủ động, sáng tạo
trong hoạt động học tập. Như vậy trong quá trình dạy và học, giáo viên phải lấy
học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò hướng dẫn học sinh chiếm
lĩnh các đơn vị kiến thức. Để giờ dạy trên lớp thực sự có hiệu quả, trước hết giáo
viên gợi cho học sinh có thể vận dụng những hiểu biết, những kiến thức đã được
trang bị ở cấp dưới để làm cơ sở cần thiết trong việc tìm hiểu tác phẩm. Thứ hai
là sử dụng phương pháp đàm thoại, nêu câu hỏi có tính chất gợi mở, đưa học
sinh vào các tình huống có vấn đề để phát huy tính sáng tạo và khả năng phát
hiện của học sinh vừa nhằm phát triển năng lực tư duy, vừa tạo hứng thú trong
học tập cho học sinh. Thứ ba cần có sự liên hệ giữa bài học và thực tế để học
sinh thấy được tính nhật dụng của văn bản và vai trò quan trọng của nó đối với
cuộc sống.
- Giáo viên tổ chức học sinh chiếm lĩnh kiến thức thông qua việc tăng
cường kết hợp hình thức học tập cá thể với học tập hợp tác.
Tuỳ từng đơn vị kiến thức và mục đích dạy học, giáo viên tổ chức học sinh
hoạt động độc lập hay hoạt động hợp tác (theo tổ, nhóm). Hoạt động độc lập
giúp học sinh được bộc lộ, khẳng định ý kiến, qua đó người học nâng mình lên
một trình độ mới. Hoạt động hợp tác (mỗi tổ, nhóm từ 4, 6 đến 8 người) làm
soạn ở nhà theo câu hỏi Sách giáo khoa (SGK), phần vở còn lại để bổ sung
những thông tin cần thiết khi học trên lớp.
Ví dụ:
Đọc văn - Tiết 63:
HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
(Trích Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba)
- Thân Nhân Trung Phần soạn bài
Câu 1: Hiền tài có vai trò quan trọng
Phần ghi bổ sung
đối với nước ta như:…
Câu 2: Ý nghĩa, tác dụng của việc
khắc bia ghi tên tiến sĩ đối với
đương thời và các thế hệ sau:…
Câu 3: Bài học lịch sử rút ra từ việc
6
khắc bia ghi tên tiến sĩ:…
Câu 4: Sơ đồ kết cấu của bài văn bia
là:…
Cách làm này có nhiều ưu điểm: học sinh đã nắm được một phần cơ bản
của bài học mới; tiết kiệm thời gian trên lớp bằng việc chỉ bổ sung những kiến
thức cần thiết từ phía giáo viên và bạn bè; cùng một lúc kết hợp cả kiến thức
chuẩn bị ở nhà với kiến thức trên lớp, tiện ích cho việc học bài mới hay bài cũ;
phát huy được tính tự học, tích cực của học sinh.
2. Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh đọc – tìm hiểu chung về tác giả và
nguyên khí của quốc gia (Trích Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu
Đại Bảo thứ ba) Thân Nhân Trung .
b. Hướng dẫn học sinh đọc – tìm hiểu chung về văn bản
Các bước tiến hành:
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
Câu hỏi 1: Trường Đại học đầu tiên I/ Đọc – tìm hiểu chung
của nước ta có tên gọi là gì, đặt ở 1.
đâu?
Tác giả
- Thân Nhân Trung (1418 – 1499), tự
- GV cho học sinh xem ảnh Văn Hậu Phủ.
Miếu Quốc Tử Giám, hàng văn bia - Quê: làng Yên Ninh, huyện Yên
tiến sĩ.
Dũng, tỉnh Bắc Giang
- GV gọi HS đọc phần Tiểu dẫn - Đỗ tiến sĩ năm 1469, nổi tiếng về văn
SGK trang 31.
chương.
Câu hỏi 2: Trình bày nội dung chính - Là phó nguyên soái trong hội Tao đàn
trong phần Tiểu dẫn?
do Lê Thánh Tông sáng lập.
Cuối phần trích: là danh sách 33 vị đỗ
\ Minh (ghi nhớ): viết bằng văn vần tiến sĩ khoa Nhâm Tuất 1442)
tóm lược nội dung tự sự ở trên để - Thời gian sáng tác: năm 1484 thời
người đọc dễ ghi nhớ
Hồng Đức.
\ Phần ghi ngày tháng, họ tên người - Thể loại: nghị luận -> bi kí (văn bia)
làm bia được viết bằng văn xuôi
(thể loại văn học trung đại)
Câu hỏi 3: Bài kí đề danh tiến sĩ
khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo
thứ ba thuộc loại Bia ghi công đức,
theo em đoạn trích trong SGK thuộc
phần thứ mấy của tác phẩm?
-> Chú ý một số từ cần ghi nhớ như:
- GV gọi HS đọc
Hiền tài, nguyên khí, thánh đế minh
Câu hỏi 4: Văn bản cần đọc với vương, khoa danh,…
giọng như thế nào?
-> giọng bình tĩnh, đĩnh đạc, trang
trọng.
- GV hướng dẫn HS xem chú thích
từ khó.( Bài kí đề danh tiến sĩ khoa
Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ
Các bước tiến hành:
- Đây là một văn bản nghị luận thuộc thời kì văn học trung đại, vì vậy ta có
thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản theo hệ thống luận điểm đã nêu, không
nên chia theo bố cục từng phần để tìm hiểu. Dựa trên hệ thống câu hỏi, cho học
sinh thảo luận và trả lời.
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
10
II/ Đọc – hiểu văn bản
1. Luận điểm 1: Vai trò của hiền tài
Câu hỏi 1: Vai trò quan trọng của đối với quốc gia
hiền tài được tác giả khẳng định như - Hiền tài là nguyên khí của quốc gia:
thế nào?
+ Hiền tài: người tài cao, học rộng và
có đức lớn.
Câu hỏi 2: Em hãy giải thích ý nghĩa + Nguyên khí: khí chất ban đầu làm
của câu nói Hiền tài là nguyên khí nên sự sống còn và phát triển của sự
của quốc gia?
vật.
-> người tài cao, học rộng là khí chất
ban đầu làm nên sự sống còn và phát
triển của đất nước, xã hội.
- Mối quan hệ giữa hiền tài với thịnh
nguyên, thái học sinh, tiến sĩ)
+ bảng vàng, ban yến tiệc, mũ áo, vinh
quy bái tổ về làng (võng anh đi trước
võng nàng theo sau)…
-> Đây là những việc làm đúng, tốt…
Câu hỏi 6: Tại sao làm thế “mà vẫn
cho là chưa đủ”?
-> Nhưng như thế vẫn chưa đủ vì chỉ
mang danh ngắn ngủi một thời lừng
lẫy, mà không lưu truyền được lâu dài.
Câu hỏi 7: Vậy việc phải tiếp tục làm
* Việc tiếp tục làm:
là gì?
- Khắc bia tiến sĩ đề danh, lưu truyền
mãi mãi.
3. Luận điểm 3: Ý nghĩa, tác dụng
của việc khắc bia ghi tên tiến sĩ
+ Khuyến khích hiền tài: kẻ sĩ trông
vào mà phấn chấn, hâm mộ, rèn luyện
Câu hỏi 8: Ý nghĩa của việc khắc bia danh tiết, gắng sức giúp vua.
đá đề danh? Có phải chỉ chuộng văn + Ngăn ngừa điều ác, kẻ ác: ý xấu bị
suông, ham tiếng hão không?
ngăn chặn, lòng thiện tràn đầy, kẻ ác
người thế kỉ XXI.
- Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch
Hồ Chí Minh: một dân tộc dốt là một
dân tộc yếu.
- Sau khi tìm hiểu văn bản, GV cần hướng dẫn HS tổng kết về giá trị của
văn bản và làm bài luyện tập nhỏ.
Câu hỏi tổng kết: Em hãy cho biết giá trị của văn bản trên hai phương
diện nội dung và nghệ thuật?
Định hướng trả lời:
1. Giá trị nội dung: Hiền tài là nguyên khí quốc gia, có quan hệ sống còn,
có tầm quan trọng bậc nhất đối với vận mệnh hiện tại và tương lai của đất nước.
2. Giá trị nghệ thuật: Kết cấu chặt chẽ, lập luận khúc chiết, mạch lạc, giàu
sức thuyết phục, dẫn chứng xác thực.
Câu hỏi luyện tập: Hiện nay Nhà nước ta đã có những chính sách nào để
tôn vinh, ưu đãi nhân tài?
13
Định hướng trả lời:
+ Vinh danh các thủ khoa đỗ đầu Đại học ở Văn Miếu hằng năm, thành lập
các hội khuyến học, trao giải Hoa trạng nguyên, tạo điều kiện cho học sinh, sinh
viên du học nước ngoài…
+ Tuy nhiên còn có những hạn chế, bất cập, hiện tương chảy máu chất xám,
hiện tượng lớp chọn, trường chuyên, luyện “gà nòi” trong các kì thi học sinh
giỏi các cấp…
4. Biện pháp 4: Sử dụng phù hợp các phương tiện dạy - học truyền
thống kết hợp với hiện đại
Khi dạy học trên lớp, bên cạnh các phương tiện dạy - học truyền thống,
giáo viên cần phải áp dụng những phương tiện dạy - học hiện đại, đặc biệt
PHIẾU HỌC TẬP
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
(Trích Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba)
Thân Nhân Trung
15
Họ và tên học sinh (hoặc nhóm HS):..................................................................
Lớp:.....................................................................................................................
Câu hỏi thảo luận: Theo anh (chị), bài học lịch sử rút ra từ việc khắc bia ghi
tên tiến sĩ là gì ?
Định hướng trả lời:............................................................................................
.............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
.............................................................................................................................
4. Hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến vào thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học Đọc văn kết hợp với quá trình thử nghiệm trong giảng dạy trực tiếp, tôi đã
thu được kết quả sau đây để làm bài học rút kinh nghiệm:
- Trong tiết học bài Đọc thêm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Thân
Nhân Trung) khi GV áp dụng phương pháp mới, học sinh rất hứng thú học tập,
tích cực phát biểu hơn, nắm nội dung bài học nhanh hơn, đầy đủ hơn.
- Học sinh đọc – hiểu văn bản theo đúng đặc trưng thể loại, kết hợp giữa
kiến thức đã khai thác trong văn bản và đời sống thực tế để làm bật nổi được
tính nhật dụng của văn bản.
- Học sinh có thói quen học tập nghiêm túc, khoa học.
Kết quả khảo sát chất lượng học sinh viết một bài văn lập luận ngắn ở nhà
Khá giỏi
26
57%
46
Trung bình
18
37%
Yếu kém
2
6%
Có thể nói đó là một kết quả khả quan, việc áp dụng phương pháp dạy học
theo hướng đổi mới đã cho thấy chất lượng dạy và học được nâng lên một bước.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Phương pháp dạy học của giáo viên Ngữ văn có ý nghĩa to lớn không chỉ
trong việc tiếp nhận giá trị văn bản mà còn bồi dưỡng tâm hồn các em. Do vậy,
việc đổi mới phương pháp dạy - học đối với phân môn Đọc văn nói riêng và
môn Ngữ văn nói chung ở bậc THPT là một yêu cầu cần thiết, đòi hỏi nhiều
công sức của cả giáo viên và học sinh.
- Trên tinh thần đổi mới “lấy học sinh là trung tâm”, giáo viên tổ chức dạy
học bằng các hoạt động học tập tích cực, học sinh hoàn toàn chủ động, sáng tạo
chiếm lĩnh tri thức và nâng cao trình độ hiểu biết. Bên cạnh đó, mỗi học sinh cần
phải phát huy tinh thần tự học; phải tích cực, chủ động chiếm lĩnh kiến thức,
phải biết biến kiến thức của nhân loại thành của riêng mình.
- Đại thi hào Tago (Ấn Độ) đã nêu lên vị trí hết sức quan trọng của người
thầy: “Giáo dục một người đàn ông được một con người, giáo dục một người
Nguyễn Thị Thanh Nga
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Một số tư liệu lấy từ mạng Internet.
2/ Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông (Bộ Giáo dục
và Đào tạo, NXBGD, 2007).
18
3/ Hướng dẫn thiết kế bài giảng trên máy tính (Th.s Trương Ngọc Châu,
NXBGD, 2005).
4/ SGK Ngữ văn 11, tập 1 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXBGD, 2008).
5/ Sách Bài tập Ngữ văn 11, tập 1 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXBGD, 2008).
6/ Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao (Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXBGD, 2006).
7/ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, SGK lớp 11 THPT môn
Ngữ văn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXBGD, 2006).
19