Tiểu luận hệ tư tưởng học
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với đặc điểm 80 % dân số nước ta ở nông thôn và trên 70 % lực lượng
lao động làm viêci trong lĩnh vực nông nghiệp, việc phát triển toàn diện nông
thôn có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội ở nước ta. Kinh nghiệp trên thế giới đã chỉ ra rằng nếu không phát triển
nông thôn thì không một nước nào có thể phát triển ổn định, bền vững với tốc
độ cao một cách lâu dài.
Nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng này, trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu là đến năm 2020 đưa Việt
Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Đảng và Nhà nước ta đặc biệt
chú trọng đến vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển
nông thôn. Điều này được thể hiện rất rõ trong một số chỉ thị, nghị quyết của
một số Đại hội VI, VII, VIII. Đặc biệt trong đại hội IX, nghị quyết TW 5 về
“ Đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ
2001 – 2010” đã nhấn mạnh “…Ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và
phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp đổi mới, tập trung sự
chỉ đạo và tạo các nguồn lực cần thiết cho Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, phát triển nông thông toàn diện, tiêu thụ nông sản háng hóa,
bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội, phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ
vùng khó khăn, phân bố dân cư theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải
quyết công ăn, việc làm, xóa đôi, giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao
dân trí, xây dựng nông thông mới”, Nghị quyết 7 khoá X về “ nông nghiệp,
nông dân, nông thôn” nhằm giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông
dân, nông thôn gắn với đẩy mạnh CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn. Có
thể khẳng định: Thiếu sự tham gia của nông dân thì quá trình công nghiệp
hóa, hiện đạt hóa đất nước không bao giờ thành công.
Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển
nông thôn ở nước ta cho tới nay đã đạt được rất nhiều các thành tựu, tuy nhiên
thôn. Điều này cũng hoàn toán phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách
của Nhà nước trong vấn đề chăm lo phát triển nguồn lực con người phục vụ
cho sự phát triển toàn diện của đất nước.
Nhận thức được tính cấp thiết của những vấn đề trên tôi lựa chọn đề
tài : “Tư tưởng của nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn và giải pháp khắc phục ở huyện Ninh Hoà
hiện nay”. Với đề tài này, tôi mong muốn sẽ nghiên cứu, tìm hiểu rõ hơn về
vai trò của người nông dân, về sự kế thừa, phát triển và biến đổi của tư tưởng
người nông dân trong từng thời kỳ. Từ việc ý thức được biẻu hiện cũng như
ảnh hưởng về tư tưởng của người nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay đề tìm ra các biện
-2-
Tiểu luận hệ tư tưởng học
pháp phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, nâng cao hơn nữa vai trò của
người nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và
phát triển nông thôn nói riêng, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước nói chung.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Nêu rõ và phân tích vai trò của giai cấp nông dân trong lịch sử.
- Phân tích tư tưởng nông dân Việt Nam: Quá trình hình thành, phát triển
và tồn tại.
- Lý giải tại sao cần phải đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp và nông thôn.
- Đề xuất các giải pháp khắc phục những mặt hạn chế, phát huy mặt
tích cực của nông dân trong công cuộc công nghiệp hoáá́, hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn.
3. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, tôi sử dụng những phương pháp như sau:
CHƯƠNG III : Một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục những biểu
hiện không tích cực của người nông dân thời kỳ CNH-HĐH nông nghiệp,
nông dân, nông thôn.
-4-
Tiểu luận hệ tư tưởng học
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM, SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
NÔNG DÂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NÔNG DÂN TRONG
TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN
1. Khái niệm giai cấp nông dân và vai trò của giai cấp nông dân
Việt Nam trong lịch sử
1.1. Khái niệm giai cấp nông dân
- Khái niệm về nông dân: Nông dân là người lao động cư trúc ở nông
thôn sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, sau đó bằng các ngành, nghề mà tư
liệu sản xuất chính là đất đai tùy theo từng thời kỳ lịch sử ở từng nước, có
quyền sở hữu khác nhau vè ruộng đất. Những người này hình thành nên giai
cấp nông dân.
- Khái niệm giai cấp nông dân:
+ Theo Bách khoa toàn thư: Giai cấp nông dân là bao gồm những tập
đoàn người sản xuất nhỏ hoặc làm thuê cho địa chủ và cho phú nông trong
nông nghiệp dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất
+ Vậy giai cấp nông dân là những người sống lâu đời ở nông thôn
(làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp làm nguồn sống chính dưới hình
thức tư hữu nhỏ. Nông dân là lực lượng cách mạng trong cuộc cách mạng
vấn đề đó lại không được đặt ra từ lâu” (Mác-Ăngen tuyển tập, tập VI, trang
169).
Chủ nghĩa Mác-LêNin cho rằng: “Giai cấp nông dân muốn giành
thắng lợi trong cách mạng thì phải tập hợp được giai cấp nông dân, tranh thủ
họ, đoàn kết họ trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và các thế lực áp
bức, bóc lột khác.”
Vận dụng quan điểm trên của chủ nghĩa Mác-LêNin vào hoàn cảnh cụ
thể nước ta, Đảng và Bác Hồ sớm nhận thấy: Nông dân là lực lượng cách
mạng to lớn, một người bạn đồng minh tự nhiên, tin cậy, trung thành của giai
cấp công nhân. Nông dân và công nhân là đội quân chủ lực của cách mạng
“là gốc cách mệnh”. Sau này, Bác tiếp tục khẳng định: “Nông dân là một lực
lượng to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công
nhân.”
Trong quá trình tổng kết lãnh đạo cách mạng, Bác lại một lần nữa
khẳng định: “Trải qua các thời kỳ, Đảng ta đã nắm vững và quyết định đúng
đắn vấn đề nông dân, củng cố được liên minh công, nông. Đảng ta đấu tranh
chống xu hướng “hữu khuynh” và “tả khuynh” đánh giá thấp vai trò của
nông dân là quân chủ lực của cách mạng, là bạn đồng minhchur yếu và tin
-6-
Tiểu luận hệ tư tưởng học
cậy của giai cấp công nhân, là lực lượng cơ bản cùng với giai cấp công nhân
xây dựng xã hội chủ nghĩa.”
Trên cơ sở đánh giá dúng vai trò của giai cấp nông dân, Đảng và Bác
Hồ luôn coi trọng công tác vận động nông dân đã sớm xây dựng được khối
liên minh công nông vững chắc và có những chủ trương chính sách thích hợp
để tạo nên những thành quả to lớn trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc,
bảo vệ xây dựng dất nước.
Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân đã phát huy được
Tiểu luận hệ tư tưởng học
lực thống trị đè nén, bóc lột. Cuộc sống của họ vô cùng cực khổ, cơm không
đủ ăn, áo không đủ mặc, thiếu thốn đủ thứ và nạn đói thường xuyên xảy ra, đe
dọa họ. Đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại chế độ phong kiến và thực
dân nhưng tất cả đều thất bại. Vì vậy tâm lý bất lực, cam chịu, nhẫn nhục
càng ăn sâu vào suy nghĩ của người nông dân.
Bên cạnh đó, cần phải kể đến những tư tưởng cổ hủ phong kiến, ảnh
hưởng của tôn giáo nhằm duy trì ý thức hệ phong kiến đã thâm nhập vào nông
dân, kết hợp với tư tưởng hẹp hòi, bè phái cục bộ, chủ nghĩa bình quân, chủ
nghĩa kinh nghiệm, tự do, tùy tiện, chủ nghĩa cá nhân... đã làm cho nhận thức
của nông dân có sự phân hóa.
Do quan hệ làng xóm có tính chất khép kín đã ảnh hưởng tới việc hình
thành và phát triển ý thức tâm lý của người nông dân Việt Nam. Họ quen tự
lực, tự cung, tự cấp, làm được bao nhiêu thì ăn bấy nhiêu với một tâm lý tự ty,
tư duy lạc hậu, không có thói quen chấp hành pháp luật, có xu hướng chống
lại những tổ chức, thể chế, những quy phạm được thiết lập qua nhiều thế hệ...
Bên cạnh đó, tư tưởng “bám đất, bám làng” càng tạo cho họ nếp sống bảo
thủ, chật hẹp, không muốn đi xa, ngại tiếp xúc với cái mới... Chính những đặc
tính này đã tác động không nhỏ tới tư tưởng và hành động của người nông
dân.
Vào thời kỳ những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà nước đã duy trì quá lâu cơ chế tập trung
quan liêu, bao cấp làm cho một bộ phận nông dân có tư tưởng trông chờ, ỷ lại,
hạn chế sự sáng tạo, năng động của nông dân, kìm hãm sự phát triển của đất
nước.
Trên đây chỉ là một số những đặc điểm nhưng nó đã chi phối không
nhỏ đến tư tưởng của người nông dân nước ta. Hiện nay, cơ chế thị trường đã
tác động đến mọi mặt đời sống của người nông dân. Bên cạnh những mặt tích
cực, ta không thể không nhắc đến mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, chính cơ
chế thị trường đã làm nảy sinh những thói quen, tật xấu trong đời sống người
đức tính cần cù, dũng cảm, hăng say lao động, dẻo dai chịu thương chịu khó
của họ.
Ngày nay, người nông dân Việt Nam đã có sự chuyển biến trên nhiều
phương diện do quá trình tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, lấy giá trị sản xuất
làm thước đo hiệu quả lao động, những thói quen, nếp nghĩ cũ dần dần đã
được thay đổi, thay vào đó là những tư tưởng đạo đức mới. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, chính sách của nông nghiệp nông dân Việt Nam ngày càng có
những thay đổi tích cực trong suy nghĩ, đáp ứng nhịp độ phát triển chung của
đất nước. Có thể nói người nông dân ngày nay rất tiến bộ, họ coi lao động cho
mình và cho xã hội vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mình.
Trong tác phẩm “Giai cấp công nhân và vấn đề nông dân”, Nguyên
Tổng Bí thư Lê Duẩn đã viết “Nông dân Việt Nam đã có một truyền thống
anh hùng, chiến thắng ngoại xâm để xây dựng nhà nước, nông dân Việt Nam
cũng đã ghi lại những trang sử oai hùng chống phong kiến, địa chủ…”
-9-
Tiểu luận hệ tư tưởng học
Lịch sử đã ghi lại những trang sử hào hung của nông dân việt Nam cho
thấy họ có một lòng yêu nước nồng nàn, lòng yêu nước đó được bắt nguồn từ
truyền thống yêu nước của dân tộc, được nuôi dưỡng qua hàng ngàn năm lịch
sử và ngày càng phát huy trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trải qua hai
cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mĩ lòng yêu nước đó ngày càng được
khẳng định. Người nông dâṇ không chỉ phát huy truyền thống anh hùng, bất
khuất của những thế hệ, lớp người đi trước mà dần dần tiếp thu những tinh
hoa mới, tinh thần yêu nước của họ được kết hợp với giác ngộ giai cấp, tình
thương yêu đồng bào gắn với tình đồng chí, tình làng nghĩa xóm. Tình yêu
nước của họ chính là cơ sở thuận lợi đểể̉ tiếp cận với tư tưởng của giai cấp
công nhân, từ yêu làng xóm, quê hương, đất nước tiến lên một bước cao hơn
là yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội.
phong kiến và hàng trăm năm dưới ách đô hộ của bọn thực dân, đế quốc nên
trong tư tưởng của đại bộ phận của giai cấp nông dân nếp sống, nếp nghĩ còn
còn một số biểu hiện không tích cực như: trì trệ, phụ thuộc, làm ăn nhỏ lẻ…
Tư tưởng nông dân Việt Nam có nguồn gốc chủ yếu từ một nền sản xuất nông
nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ manh mún. Vì thế trong một thời gian khá dài
đã tạo nên tâm lí “an phận thủ thường”, tự bằng lòng với những thứ đã có, họ
không còn ý chí phấn đấu, luôn sống trong sự sắp đặt sẵn phụ thuộc nhiều vào
tự nhiên, chấp nhận những điều kiện tổ chức, những thể chế quy phạm được
thiết lập qua nhiều thế hệ. Cuộc sống của họ chỉ biết quanh quẩn bên ruộng,
vườn, con trâu cái cày ít được tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài. Tâm lí “khéo
ăn thì no, khéo co thì ấm”, “năng nhặt, chặt bị”. Chính những điều này đã
tạo nên những suy nghĩ mang tính cục bộ, bảo thủ, hẹp hòi… Ngày nay trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tư tưởng cục bộ, đố kỵ, hẹp hòi, tự ti,
tuỳ tiện ngày càng được hiện rõ hơn: Ví dụ như việc bầu chọn cán bộ địa
phương. Khi bầu cán bộ địa phương, họ chỉ bầu cho những người ở địa
phương mình, những người thân quen hay con cháu trong nhà, chứ họ không
bầu cho những người thực sự có năng lực. Chính tâm lý này dẫn tới tình trạng
bè phái cục bộ, mất đoàn kết ở nhiều nơi.
Hiện nay vẫn có một số nông dân không coi trọng lý luận, pháp luật,
không muốn tiếp thu cái mới vì họ cho rằng tư duy kinh nghiệm chỉ cần dựa
vào những hiểu biết do mình nghe, nhìn thấy, trải qua mà có không cần học
hỏi thêm. Bên cạnh đó thì chủ nghĩa bình quân cũng góp phần cản trở tính
sáng tạo của người nông dân, kìm hãm sự phát triển dân chủ trong quá trình
phát triển kinh tế, xã hội nông thôn. Vì vậy, ở nhiều nơi nông dân thiếu kiến
thức khoa học, kỹ thuật, hoặc ngại chưa dám đưa tiến bộ khoa học, kỹ thuật
vào sản xuất hoặc còn chần chờ đợi người khác làm thành công thì mới làm
theo.
Tập quán tự do, tuỳ tiện biểu hiện trong sản xuất: Cứ thấy lợi ích trước
mắt là làm ngay chứ không cần xem xét nghĩ đến hậu quả của nó như thế nào
chẳng hạn như việc: chặt phá rừng và khai thác gỗ một cách bừa bãi khi
đất nước nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
huyện Ninh Hoà nói riêng. Vì vậy để giải quyết tốt những vấn đề nêu trên cần
phải có các giải pháp phù hợp, kiên trì và bước đi cụ thể để nông dân thực sự
trở thành lực lượng chủ chốt với những người lao động mới, có ý chí, kiến
thức khoa học kĩ thuật, có văn hoá kỷ cương để phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà trước hết là công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
- 12 -
Tiểu luận hệ tư tưởng học
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC
KHẮC PHỤC NHỮNG YẾU TỐ KHÔNG TÍCH CỦA TƯ TƯỞNG
NGƯỜI NÔNG DÂN Ở HUYỆN NINH HOÀ,
TỈNH KHÁNH HOÀ HIỆN NAY
I. THỰC TRẠNG CNH – HĐH NÔNG NGHIỆP NÔNG DÂN,
NÔNG THÔN HUYỆN NINH HOÀ
Ninh Hoà là huyện đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, thuộc tỉnh
Khánh Hoà, nằm trên tọa độ từ 12 020' - 12045' độ vĩ Bắc, 105052' - 109020'
độ kinh Đông, có ranh giới chung với huyện Vạn Ninh ở phía Bắc, huyện
Diên Khánh và thành phố Nha Trang ở phía Nam, giáp tỉnh Đaklak ở phía
Tây, giáp biển ở phía Đông. Trung tâm huyện cách thành phố Nha Trang 33
km về phía Bắc (theo Quốc lộ 1A).
Ninh Hoà nằm về phía Đông vòng cung Bắc Nam của dải trường Sơn,
có diện tích tự nhiên 1195,73 km2, trên 70% là núi rừng 0,44% là động cát
ven biển. Đất sản xuất nông nghiệp 28.994 ha, trong đó có 10.964 ha trồng
lúa, diện tích cây công nghiệp hàng năm 9.321 ha, diện tích cây công nghiệp
Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định. Giá trị sản xuất nông
- lâm - thuỷ sản năm 2005 là 449 tỷ đồng, năm 2009 đạt 665 tỷ đồng, tăng
bình quân hàng năm 5,3%. Sản lượng lương thực bình quân hàng năm trên
85.000 tấn, giải quyết việc làm cho nhiều hộ nông thôn. Tình hình chăn nuôi,
tổng đàn gia súc, gia cầm đều tăng, trong đó, đàn bò tăng bình quân 6,7 %, tỷ
lệ bò lai chiếm 90%; đánh bắt hải sản đạt bình quân hàng năm trên 8.000 tấn ;
sản xuất muối hàng năm đạt 39.000 tấn
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có bước phát triển, một số chương
trình, dự án trọng điểm đã và đang phát huy có hiệu quả. tổng nguồn vốn đầu
tư cho giao thông trên địa bàn 5 năm qua trên 322 tỷ đồng; chương trình kiên
cố hoá kenh mương và các công trình thuỷ lợi 77,5 tỷ đồng; các công trình
tỉnh đầu tư hiện đại hoá đập và kênh mương Đá bàn, hệ thống tưới
Eakrongrou, hồ chức nước tiên Du, đập đồng tròn với tổng vốn trên 400 tỷ
đồng; lĩnh vực đào tạo giáo dục 103 tỷ đồng; lĩnh vực y tế 175,5 tỷ đồng;
chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi 9,8 tỷ đồng; các lĩnh vực
khác 87 tỷ đồng.
Do môi trường thuận lợi, vị trí địa lý, tiềm năng kinh tế Ninh Hoà đa
dạng, phong phú và có nhiều lợi thế, nên đã thu hút một số dự án đầu tư với
quy mô lớn như: Nhà máy đóng tàu Hyundai VinaShin tiếp tục đầu tư 82 triệu
USD để mở rộng quy mô sản xuất, nhà máy thuỷ điện Eakrongrou 450 tỷ
đồng, kho xăng dầu Ngoại quan 100 triệu USD, trạm phân phối xi măng Nghi
sơn 20 triệu USD, tổ hợp lọc hoá dầu Vân phong vốn đầu tư 4,8 tỷ USD,
trung tâm điện lực Vân phong 3,8 tỷ USD.
Về giáo dục đào tạo và dạy nghề, đầu tư xây dựng 31 tỷ đồng xây
dựng Trường trung cấp dậy nghề, đầu tư 87 tỷ đồng xây dựng chi nhánh
- 14 -
Tiểu luận hệ tư tưởng học
Trường Đại học mở thành phố Hồ Chí Minh, kịp thời phục vụ nhu cầu đào tạo
chưa tạo bước đột phá mới. Giá trị sản xuất các ngành công nghiệp, dịch vụ,
nông nghiệp tốc độ tăng trưởng không đồng đều giữa các thành phần kinh tế ;
nguồn lực, tiềm năng, lợi thế phát huy chưa tương xứng. Chương trình đổi
giống, cây trồng, vật nuôi, lai tạo giống mới hiệu quả chưa cao. chuyển dịch
- 15 -
Tiểu luận hệ tư tưởng học
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong từng ngành, từng lĩnh vực còn chậm so
với yêu cầu, số lao động chưa có việc làm và thiếu việc làm ổn định vẫn còn
trên 5%, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp. tỷ lệ hộ nghèo giảm
nhưng chưa thật sự vững chắc.
Một số chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm triển khai còn chậm,
hiệu quả đạt chưa cao: do công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa được tập trung ;
mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp đặt ra chậm cụ thể hoá để triển khai thực hiện;
không đảm bảo vốn đầu tư cho các chương trình, chưa huy động được các
nguồn lực, các thành phần kinh tế tham gia. Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, công tác phối hợp triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng các cụm
công nghiệp còn chậm, đã ảnh hưởng đến việc thu hút các nhà đầu tư.
Y tế, giáo dục phát triển chưa đáp ứng kịp thời so với yêu cầu, công tác
xã hội hoá trên các lĩnh vực này còn chậm; một số vấn đề xã hội chưa giải
quyết tốt.
Nhìn chung, nông nghiệp phát triển chưa bền vững, khả năng thích ứng,
đối phó với thiên tai rất hạn chế. Quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn nhiều lúng túng, bước đi chưa rõ ràng.
Đất đai ở vùng cao chưa được quản lý chặt chẽ, một bộ phận nông dân vẫn
thiếu đất sản xuất. Cơ chế, chính sách khuyến khích chuyển đổi, tích tụ đất
đai chưa hoàn chỉnh, nên hạn chế nhiều trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Nông thôn hiện nay phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng thiếu
và chất lượng kém; nhiều công trình thuỷ lợi xuống cấp, thiếu kinh phí sửa
Trong phát triển nông nghiệp, vấn đề an ninh lương thực phải đặt lên
hàng đầu; chú trọng khai hoang ruộng nước và tăng vụ ở những nơi có điều
kiện, nhất là ở vùng cao. Cần có cuộc cách mạng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
rộng rãi trong nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh học để tạo ra một nền nông
nghiệp sạch, phát triển bền vững, có năng suất, chất lượng, tỷ suất hàng hoá
cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Tập trung đổi mới cơ cấu sản xuất
nông nghiệp trên cơ sở thế mạnh về cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc và
lâm nghiệp. Đầu tư thâm canh, mở rộng diện tích mía, tuyển chọn giống mía
nhập nội phù hợp đưa vào sản xuất.
Tiếp tục thay đổi tập quán chăn nuôi đại gia súc, hướng mạnh vào chăn
nuôi công nghiệp, bán công nghiệp, áp dụng rộng rãi các biện pháp kỹ thuật
để nâng cao chất lượng, số lượng đàn trâu, bò; đồng thời làm tốt công tác
phòng chống dịch cho gia súc, gia cầm; phấn đấu giá trị chăn nuôi chiếm trên
30% giá trị ngành nông nghiệp. Sử dụng có hiệu quả mặt nước đầm, ao, hồ để
nuôi trồng thuỷ sản, hướng mạnh vào nuôi các loại thuỷ sản có giá trị kinh tế
cao.
Chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang phát triển kinh tế
đa dạng, chú trọng vào công nghiệp vừa và nhỏ, làng nghề, ngành nghề truyền
thống sử dụng nhiều nguyên liệu tại chỗ, các hoạt động thương mại, dịch vụ;
có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nông thôn, các hợp tác xã
- 17 -
Tiểu luận hệ tư tưởng học
dịch vụ nông nghiệp có hoạt động chế biến, lưu thông, các loại hình trang trại
quy mô sản xuất hàng hoá lớn.
Khuyến khích xây dựng các cơ sở chế biến gắn với vùng nguyên liệu .
Nâng cấp các tuyến đường, cầu nông thôn, bảo đảm đường ô tô đến trung tâm
xã trong cả mùa mưa và cứng hoá mặt đường (nhựa, bê tông, rải đá cấp
- 18 -
Tiểu luận hệ tư tưởng học
nông thôn, tạo điều kiện cho nông dân trực tiếp tham gia và được hưởng lợi
nhiều hơn từ các chương trình, dự án. Chỉ có đặt đúng tầm và giải quyết đồng
bộ vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân thì nông nghiệp, nông thôn, nông
dân mới phát triển bền vững, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tóm lại, để thực hiện có hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ninh Hoà phải nắm vững và vận dụng
sáng tạo đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng vào điều kiện cụ
thể ở địa phương nhằm phát triển sản xuất toàn diện, tạo ra sức mạnh tổng
hợp nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, xây dựng cơ sở vật chất kinh tế hạ
tầng, phục vụ sản xuất và đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
- 19 -
Tiểu luận hệ tư tưởng học
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG BIỂU
HIỆN KHÔNG TÍCH CỰC CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN THỜI KỲ
CNH – HĐH, NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN
Hiện nay trong tư tưởng của người nông dânViệt Nam còn một số biểu
hiện không tích cực nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò và
những đóng góp to lớn của nông dân vào sự ổn định và phát triển đất nước.
Nền nông nghiệp nước ta từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấp, lạc hậu,
thiếu lương thực triền miên đến nay cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá,
Trước hết tôi xin trình bày một cách ngắn gon về khái niệm về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cho đến nay, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Năm 1963, tổ chức phát triển chủ nghĩa của liên hiệp quốc (UNID) đã
đưa ra định nghĩa: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình phát triển
kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải
quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều nghành ở trong
nước với kĩ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là một bộ phận
chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu
dùng, có kỹ năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội”.
Đảng ta xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII: “ Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quản lý kinh doanh, dịch vụ và quản lý
kinh tế – xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một
cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp
tiên tiến, hiện đại dựa trên nền văn minh xã hội. Cải biến kỹ thuật, tạo dựng
nền công nghiệp theo hướng hiện đại (khía cạnh vật chất – kỹ thuật) và phát
triển kinh tế thị trường (khía cạnh cơ chế, thể chế) là hai mặt của quá trình
công nghiệp hoá duy nhất”.
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn,
hiệu quả và bền vững, xây dựng một nền nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân
chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý.
Nông thôn Việt Nam chiếm 80% dân số, 72% nguồn lao động xã hội,
nhưng mới tạo ra khoảng 1/3 tổng sản phẩm quốc dân (1996). Do vậy công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn không những là quan trọng,
mà còn có ý nghĩa quyết định đối với qui mô và tốc độ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Vấn đề nêu trên không phải là đặc thù của Việt Nam mà còn
được rút ra từ thực tế kinh nghiệm của các nước trong khu vực Châu Á. Kinh
nghiệm nhiều nước cho thấy hiện đại hóa không nhất thiết phải được khởi đầu
xây dựng, nông thôn mới là căn bản, phát huy toàn diện, hiện đại hoá nông
nghiệp là then chốt.
Vì thế để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn cần tăng cường vai trò của nhà nước và của nông dân.
* Đối với nhà nước :
- Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Nhà nước ta cần phải đổi mới nội dung và phương pháp. Cần điều chỉnh cơ
cấu đầu tư của toàn bộ nền kinh tế theo hướng ưu tiên tập trung vốn đầu tư
cho nông nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản.
- 22 -
Tiểu luận hệ tư tưởng học
Tăng tỉ lệ vốn đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ nông thôn, đầu tư cho
hạ tầng. Cần quan tâm đến các nghành công nghiệp mới ở nông thôn, những
nghành vùng, vùng công nghiệp hiện có ở thành phố; đầu tư ứng dụng và
chuyển giao khoa học, công nghệ cho sản xuất, coi đây là khâu đột phá quan
trọng nhất để thúc đẩy phát triển nông thôn và kinh tế nông thôn. Trước hết
cần tập trung vào công nghệ sinh học, chương trình giống cây trồng, vật nuôi
công nghệ bảo quản và chế biến nông - lâm - thuỷ sản.
- Phát triển mạnh các nghành nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở
nông thôn, bao gồm các nghành nghề mới được hình thành, chuyển sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ hoặc chế biến nông - lâm - thuỷ sản sang phục vụ
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Cần khuyến khích các làng nghề ở nông
thôn phát triển theo hướng sử dụng công nghệ hiện đại kết hợp với phát huy
kinh nghiệm truyền thống. Nhà nước hỗ trợ vốn, cán bộ, kĩ thuật, công nghệ,
tạo thị trường, có chính sách miễn giảm thuế, đào tạo tay nghề và cho vay vốn
với lãi xuất ưu đãi nhất.
Bên cạnh nhà nước hỗ trợ vốn. Nhà nước cần huy động vốn của mọi
thành phần kinh tế, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để hệ thống ngân hàng
Việt Nam tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với xuất
phát là một nước nông nghiệp lạc hậu phần đông dân trí của nông dân còn
thấp. Vì thế việc nâng cao dân trí, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nông dân là yêu cầu rất quan trọng để phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của
người dân, tạo ra khả năng lao động mới phù hợp với yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nhà nước, nông thôn.
Đảng ta xác định cùng với việc phát triển nhiều nghành khoa học, thì
giáo dục - đào tạo là công việc được đưa lên hàng đầu. Phát triển giáo dục
phải bằng nhiều hình thức đa dạng, bảo đảm công bằng xã hội, mọi người
nông dân, con em nông dân đều được đi học, góp phần nâng cao dân trí đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhà nước, nông thôn
nói riêng.
Đẩy mạnh phong trào ‘‘Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá’’,
xây dựng làng, xã văn hoá, gia đình văn hoá, phát huy những truyền thống tốt
đẹp, thuần phong mỹ tục, bài trừ các hủ tục ‘‘mê tín dị đoan’’, các tệ nạn xã
hội như: Cờ bạc, rượu chè, ma tuý, mại dâm... Phát huy tình làng nghĩa xóm,
tinh thần đoàn kết, xây dựng các quy ước về nếp sống văn minh ở các thôn,
làng... trên cơ sở pháp luật của nhà nước; xây dựng nhiều điển hình tiên tiến
về kinh tế, văn hoá trong mỗi gia đình con người nông dân.
Bên cạnh đó ta không thể không nói tới văn hoá. Văn hoá có vị trí rất
quan trọng trong việc hình thành nhân cách, làm phong phú đời sống tinh thần
của con người . Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Vì thế cần phát triển và
tăng cường mạng lưới thiết chế văn hoá, thông tin, tuyên truyền ở cơ sở để
nâng cao dân trí, tạo cho người dân tham gia sáng tạo văn hoá. Cần phải đảm
- 24 -
Tiểu luận hệ tư tưởng học
đời sống văn hoá’’. Nâng cao bồi dưỡng chất lượng tổ chức cán bộ hội cơ sở,
nâng cao chất lượng và chất lượng hội viên. Thực hiện quy chế dân chủ, nhất
là ở cơ sở sẽ góp phần vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do
dân, vì dân.
- 25 -