Lời cảm ơn!
Trong thời gian học tập tại trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang em đã được trang bị
nhiều kiến thức cơ bản của ngành học và những kiến thức thực tiễn. Để có thể hoàn thành
bài báo cáo tốt nghiệp này em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả thầy cô giáo của khoa Tài nguyên
và Môi trường, đặc biệt là giảng viên Đinh Thị Thu Trang, cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo
em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp và thực hiện báo cáo.
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ làm việc tại Phòng Tài nguyên – Môi trường
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo cho em trong suốt quá
trình thực tập tốt nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều để hoàn thành báo cáo này, nhưng đây mới là bước đầu để
trở thành một kỹ sư môi trường và cũng là lần đầu tiên được tiếp xúc làm việc nơi công sở
nên em còn nhiều thiếu sót không thể tránh khỏi. Em mong nhận được sự thông cảm từ các
thầy cô trong khoa và các cán bộ làm việc tại Phòng Tài nguyên – Môi trường thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh.
Em xin chân thành cảm ơn!
Bắc Giang, ngày...tháng... năm 2018
Sinh viên thực tập
Nguyễn Trọng Trung
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
BCL
BXD
CTR
CTRSH
EM
3R
BOT
BT
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn “Công nghiệp hóa và hiện đại hóa”, đất nước ta không ngừng phát
triển và biến đổi từng ngày. Mỗi vùng, miền hay thành phố tùy theo điều kiện cụ thể về tài
nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý mà có những hướng phát triển ưu tiên riêng cho mình.
Bên cạnh những mặt tích cực mà CNH-HĐH đem lại là thay đổi diện mạo của đất nước, làm
tăng trưởng sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho toàn xã hội dần dần đưa
nước ta ngang tầm với các nước phát triển trong khu vực và thế giới, nó cũng đặt ra những
thách thức gay gắt đối với việc bảo vệ môi trường ở nước ta. Dân số tăng nhanh kéo theo đó
là lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị, khu công nghiệp thải ra trong hoạt động sống
ngày càng nhiều và thành phần phức tạp. Việc thải vào môi trường với số lượng lớn CTRSH
đã vượt qua ngưỡng khả năng tự làm sạch của môi trường, làm cho môi trường bị ô nhiễm
nghiêm trọng. Công tác quản lý rác thải tại các đô thị và khu công nghiệp nước ta đang gặp
nhiều khó khăn và trở ngại.
Thành phố Hạ Long là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Quảng Ninh,
có vị trí thuận lợi trong việc phát triển ngành du lịch. Mỗi năm, khu du lịch Bãi Cháy, khu
du lịch quốc tế Tuần Châu, nhiều khu chợ trung tâm luôn đón tiếp một lượng khách du lịch
nên số lượng rác thải rất lớn. Đặc biệt, nơi chôn lấp rác lại xen kẽ với khu dân cư nên tình
trạng ô nhiễm đã được báo động từ nhiều năm nay. Nhiều người dân sống bên bờ vịnh Hạ
Long đã tự xử lý rác bằng các thải rác xuống biển, gây nguy cơ ô nhiễm môi trường vịnh Hạ
Long. Nhận thức rõ được những tác động xấu về kinh tế, xã hội và môi trường của chất thải,
tỉnh Quảng Ninh nói chung và thành phố Hạ Long nói riêng đã và đang cố gắng tập trung
mọi nỗ lực nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan bằng các giải pháp về cơ chế, chính
sách, tài chính và các hoạt động nâng cao nhận thức và thu hýt sự tham gia của người dân,
của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố vào việc quản lý đối với chất thải rắn sinh hoạt.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và đề
xuất biện pháp quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hạ Long,
sức khoẻ con người.
Thu gom CTRSH là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời CTR
tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp
thuận.
Vận chuyển CTRSH là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom,
lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. Địa
điểm, cơ sở được cấp có thẩm quyền chấp thuận là nơi lưu giữ, xử lý, chôn lấp các loại
CTRSH được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Xử lý CTRSH là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại
bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTRSH; thu hồi, tái chế, tái sử
dụng lại các thành phần có ích trong CTRSH.
Chôn lấp CTRSH hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu
chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTRSH hợp vệ sinh.
2.1.2. Nguồn gốc phát sinh.
Chất thải rắn phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:
-
Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư tách rời. Nguồn rác
thải chủ yếu là: thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su,... còn có một số chất thải
nguy hại
-
Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách
sạn,...Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với các khu dân cư (thực phẩm,
giấy, catton,..)
-
mùa vụ, các trang trại, các vườn cây,... Rác thải chủ yếu thực phẩm dư thừa, phân gia
súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế
biến các sản phẩm nông nghiệp.
2.1.3. Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt đối với môi trường
Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Mức sống của con người càng cao thì lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều. Sự thải
ra các chất rắn trong quá trình sinh hoạt và sản xuất của con người đã sinh ra hàng loạt các
vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, ô nhiễm đất, nước, phá hủy cảnh quan, mất cân
bằng sinh thái
Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
và môi trường là các chất hữu cơ bền. Những hợp chất này vô cùng bền vững, tồn tại lâu
trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản phẩm, thực phẩm, trong các
nguồn nước mô mỡ của động vật gây ra hàng loạt các bện nguy hiểm đối với con người, phổ
biến nhất là ung thư. Đặc biệt, các chất hữu cơ trên được tận dụng nhiều trong trong đời
sống hàng ngày của con người ở các dạng dầu thải trong các thiết bị điện trong gia đình, các
thiết bị ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, dầu chịu nhiệt, dầu chế
biến, chất làm mát trong truyền nhiệt...Theo đánh giá của các chuyên gia, các loại chất thải
nguy hại ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư khu
vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm môi
trường do chất thải rắn cũng đã đến mức báo động.
Hiện kết quả phân tích mẫu đất, nước, không khí đều tìm thấy sự tồn tại của các hợp
chất hữu cơ trên. Cho đến nay, tác hại nghiêm trọng của chúng đã thể hiện rõ qua những
hình ảnh các em bé bị dị dạng, số lượng những bệnh nhân bị bệnh tim mạch, rối loạn thần
kinh, bệnh đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da...do chất thải rắn gây ra và đặc biệt là
những căn bệnh ung thư ngày càng gia tăng mà việc chuẩn đoán cũng như xác định phương
pháp điều trị rất khó khăn. Điều đáng lo ngại là hầu hết các chất thải rắn nguy hại đều rất
- Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các muối vô cơ
hoà tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần.
Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí
- Rác thải hữu cơ phân hủy tạo ra mùi và các khí độc hại như CH4, CO2, NH3,... gây ô
nhiễm môi trường không khí.
- Khí thoát ra từ các hố hoặc chất làm phân, chất thải chôn lấp chứa rác chứa CH4, H2S,
CO2, NH3, các khí độc hại hữu cơ...
- Khí sinh ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng, các chất độc
lẫn trong rác.
Chất thải rắn làm giảm mỹ quan đô thị
Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển, xử
lý thì sẽ làm giảm mỹ quan đô thị. Nguyên nhân của hiện tượng này là do ý thức của người
dân chưa cao. Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh hở vẫn
còn phổ biến gây ô nhiễm nguồn nước và ngập úng khi mưa.
2.2. Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam
2.2.1. Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới
Tháng 9/2015, Hiệp hội Chất thải rắn quốc tế (ISWA) công bố báo cáo nêu bật “tình
trạng khẩn cấp toàn cầu” ảnh hưởng đến hàng chục triệu người ở các nước đang phát triển
khi thiếu cơ sở hạ tầng vệ sinh. Báo cáo chỉ ra các vấn đề liên quan đến rác thải sinh hoạt ở
các nước đang phát triển là do những vấn đề chưa từng có trước đây, như: sự tích tụ không
được kiểm soát của các thiết bị điện tử, điện thoại di động, rác thải thực phẩm và rác thải y
tế. Báo cáo cũng cho thấy, khoảng 40% lượng chất thải trên thế giới đã được xử lý triệt để,
phục vụ cho khoảng 3,5-4 tỷ người, đồng thời cũng kêu gọi một liên minh toàn cầu cùng
phối hợp và có những hành động tích cực để giải quyết vấn đề rác thải trên toàn thế giới.
Hiện nay, nhiều thành phố đã và đang tìm kiếm, áp dụng các chính sách hiệu quả để
giúp giảm thiểu lãng phí và tiêu dùng. Rác thải sinh hoạt có lúc thậm chí còn được coi là một
nghiệp được xử lý tại các bãi chôn lấp. Đối với nước thải từ các hộ gia đình như nước rửa
chén, chấy tẩy rửa xe đều được phân loại như chất thải lỏng và xử lý bằng hệ thống tái chế
nước thải sinh hoạt.
Ngoài ra, nhiều chính sách pháp luật cũng đã được đưa ra, như việc một số quốc gia
đã áp dụng biện pháp đánh thuế để giảm thiểu CTR biển như Nam Phi, Israel áp thuế đối với
túi nhựa; Bỉ đánh thuế đối với màng nhựa và dụng cụ ăn uống dùng một lần; Đan Mạch đánh
thuế nhựa đối với túi và vật liệu đóng gói cũng như thuế đổ rác ở bãi rác hoặc đốt rác. Bên
cạnh một số quy định về kiểm soát hàng hóa trong sản xuất và sử dụng, một số nước có
chính sách theo hướng tiếp cận tổng thể để giải quyết vấn đề rác thải biển như Nhật Bản đã
ban hành riêng một luật về rác thải biển - Luật Khuyến khích xử lý CTR biển, Hàn Quốc ban
hành Luật Quản lý môi trường biển, trong đó yêu cầu xây dựng Kế hoạch tổng thể quản lý
rác thải biển. Một số giải pháp khác cũng đã được thực hiện tại một số quốc gia như thu mua
rác thải nhựa từ ngư dân, hay cung cấp túi rác và lắp đặt nơi đổ rác cho tàu thuyền…
Trong khi đó, Pháp đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới ngăn cấm CTR thực
phẩm siêu thị và yêu cầu các nhà bán lẻ quy mô lớn hiến tặng số lượng thực phẩm còn sót
lại. Luật này được thông qua vào năm ngoái, đánh dấu pháp luật đầu tiên thuộc loại hình này
trong nỗ lực toàn cầu nhằm giảm chất thải thực phẩm. Các nước khác như Đan Mạch, Đức,
Anh và Hoa Kỳ cũng đang tham gia vào cuộc chạy đua không có chất thải thực phẩm, thực
hiện các chiến lược ngăn ngừa chất thải và nâng cao kiến thức cho người tiêu dùng về môi
trường khi xử lý phế liệu. Bằng cách điều chỉnh nhận thức về thực phẩm còn sót lại và phải
làm gì với nó, những thay đổi sẽ khiến con người có thể sản xuất lượng khí thải carbon thấp
hơn từ chất thải hữu cơ.
Để hỗ trợ các chiến lược ngăn ngừa chất thải thực phẩm, Pháp và các nước châu Âu
khác đã giới thiệu các cửa hàng thực phẩm “không lãng phí”, nơi mà thực phẩm được lưu trữ
với số lượng lớn và khuyến khích khách hàng chỉ mua số lượng mà họ cần bằng cách sử
dụng các thùng chứa từ nhà.
2.2.2. Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, cùng với sự hồi phục cuả nền kinh tế đất nước, các hoạt động
trường song công tác xử lý vẫn gặp nhiều khó khăn.
Lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh hàng năm là rất lớn, đặc biệt là tại các khu vực có
hoạt động công nghiệp phát triển mạnh như Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương... Chất thải
rắn công nghiệp phát sinh từ các ngành công nghiệp như sản xuất giấy, công nghiệp nhiệt
điện than, hóa chất, phân bón... có các đặc thù riêng của từng ngành và gia tăng khá lớn
trong thời gian gần đây. Trên cả nước hiện còn đang rất thiếu các khu xử lý CTR công
nghiệp, đặc biệt là khu xử lý chất thải trung quy mô lớn. Đến tháng 7/2017, mới chỉ có 473
doanh nghiệp làm dịch vụ xử lý CTR. Việc tái chế, tái sử dụng CTR công nghiệp diễn ra khá
phổ biến chủ yếu là tự phát tại các cơ sở.
Lượng chất thải rắn y tế thông thường phát sinh tại các bệnh viện khoảng 400 tấn/ngày
và ngày càng gia tăng, lượng phát sinh có sự khác nhau giữa các loại hình cơ sở y tế. Theo
Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế, đã có hơn 90% bệnh viện thực hiện thu gom hàng
ngày và thực hiện xử lý bằng các phương pháp khác nhau. Công tác thu gom, lưu giữ và vận
chuyển chất thải ở các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương chưa thực sự được chú trọng.
Lượng CTR từ hoạt động nông nghiệp phát sinh ước tính khoảng hơn 14.000 tấn bao bì
hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón các loại, 76 triệu tấn rơm rạ và khoảng 47 triệu tấn chất
thải chăn nuôi. Trong đó, ước tính có khoảng 40 - 70% (tuỳ theo từng vùng) chất thải rắn
chăn nuôi được xử lý, số còn lại thải trực tiếp thẳng ra ao, hồ, kênh, rạch... Hoạt động nhập
khẩu phế liệu cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với môi trường.
Đối với chất thải nguy hại, lượng phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 600-800
nghìn tấn/năm. Mặc dù chất thải nguy hại trong sinh hoạt phát sinh không nhiều song hầu
hết bị thải lẫn với chất thải rắn sinh hoạt thông thường nên đây cũng là một nguy cơ đối với
sức khỏe cộng đồng. Tính đến tháng 10/2017, toàn quốc có 108 cơ sở xử lý CTNH đã được
Bộ TN&MT cấp phép với công suất xử lý khoảng 1.300 tấn/năm. Nhìn chung, đối với chất
thải nguy công nghiệp, hầu hết lượng các chủ nguồn thải có phát sinh lượng lớn chất thải
nguy hại đều thực hiện thu gom và thuê đơn vị có chức năng xử lý. Công tác xử lý chất thải
y tế nguy hại đã được tăng cường đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa đồng đều tại các tỉnh, thành
phố. Hiện có 03 nhóm công nghệ xử lý CTNH: (1) Nhóm công nghệ nhiệt để tiêu huỷ chất
Địa phương
Lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh (tấn/năm)
2011
2012
2013
2014
2015
Đô thị loại đặc biệt
Hà Nội
Thành phố là đô thị loại I và tỉnh có đô thị loại I
Thái Nguyên(*)
82.733
83.986
Đà Nẵng
262.086
277.477
Cần Thơ
Đồng Nai
Hải Phòng
Lâm Đồng
Long An
Phú Thọ
241.971
244.322
Quảng Ninh
Thanh Hoá
687.551
715.984
254.
123.443
250.352
724.598
147.
174.215
62.780
162.425
189.
173.375
69.
138.116
146.890
138.992
147.024
TT
7
8
9
IV
Tỉnh có đô thị loại III
Bắc Kạn
8.834
8.941
9.064
8.999
Điện Biên
19.929
20.221
25.842
Hà Giang
33.102
33.763
34.332
34.905
Hà Nam
30.070
30.425
44.785
45.093
Hoà Bình
21.415
26.605
39.551
Kon Tum
23.360
27.740
28.470
29.565
Lạng Sơn
27.
30.
71.
63.
58.
Phương pháp tiếp cận của hầu hết các nước trên thế giới để quản lý CTR được dựa trên
một số nguyên tắc sau:
- Ngăn ngừa, giảm thiểu chất thải: Đây là yếu tố then chốt trong bất cứ chiến lược quản lý
CTR của mỗi quốc gia. Việc xử lý sẽ trở nên đơn giản hơn khi ta có thể giảm lượng chất thải
tạo ra ở ngay giai đoạn đầu tiên và giảm tính độc hại của nó bằng cách giảm sự hiện diện của
chất nguy hiểm trong sản phẩm.
- Sử dụng lại và tái chế quay vòng: Nếu chất thải không thể ngăn ngừa được, các nguyên vật
liệu sẽ được sử dụng lại, tái chế quay vòng một cách tốt nhất. Châu Âu hiện nay yêu cầu các
nước thành viên giới thiệu pháp chế về chất thải thu gom, tái sử dụng, tái chế và thải bỏ các
chất thải nguy hại. Một số quốc gia Châu Âu đã được quản lý để tái chế hơn 50% bao bì đã
sử dụng.
- Cải thiện và giám sát sự tiêu huỷ, loại bỏ những CTR còn lại: Với những chất thải không
được tái chế và tái sử dụng phải được thiêu đốt một cách an toàn, bãi chôn lấp chỉ được sử
dụng như một phương án cuối cùng. Cả hai phương 14 pháp này cần phải giám sát chặt chẽ
vì đều có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng về môi trường.
Hiện nay có rất nhiều các phương pháp khác nhau để xử lí CTR. Tỉ lệ rác thải được
xử lí theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới được giới thiệu ở bảng sau:
Bảng 1.2. Phương pháp xử lý CTR đô thị ở một số nước
STT
45
88
35
23
Phương pháp xử lý (%)
Đốt không
Chế biến
thu năng
phân
lượng
compost
2
4
2
22
3
5
1
10
4,2
0
0
0
0
20
0
0
0
Bảng 2.2 cho thấy, hai phương pháp chính để xử lý rác thải ở các nước trên thế giới vẫn
là chôn lấp và đốt, tỷ lệ tái chế và ủ phân vi sinh vẫn còn thấp. Thụy Điển là nước có tỷ lệ
CTR được tái chế và chế biến phân vi sinh cao nhất. Đây là mô hình rất đáng được quan tâm
và học hỏi cho các nước khác trên thế giới.
2.3.2. Tình hình quản lý, xử lý CTRSH tại Việt Nam
2.3.2.1. Thu gom, phân loại CTRSH
CTR sinh hoạt ở các đô thị Việt nam hiện nay chủ yếu do các công ty MTĐT do Nhà
nước thành lập đảm nhiệm. Các đô thị đều có từ 1 đến một vài các công ty, tùy thuộc vào
quy mô và dân số đô thị. Một số đô thị có công ty tư nhân tham gia và xu hướng này đang
lan rộng tới nhiều đô thị khác. Ở địa bàn nông thôn (huyện, xã, thôn), một số nơi có tổ chức
thu gom và vận chuyển chất thải rắn, hoạt động dưới hình thức môi trường xã hoặc tổ, đội vệ
sinh môi trường Kinh phí cho hoạt động của các tổ chức thu gom và vận chuyển chất thải ở
đô thị và nông thôn dựa vào ngân sách của chính quyền địa phương và đóng góp của dân
(Mức đóng góp do chính quyền địa phương quyết định, thường khoảng 2.500 - 3.000
VND/người/tháng ở các đô thị lớn; và khoảng 8.00 - 1.500 VND/người/tháng ở đô thị nhỏ
và địa bàn nông thôn). Công tác phân loại CTR tại nguồn ở Việt nam hiện chưa thực hiện
rộng rãi. Phân loại CTR tại nguồn đang được tiến hành thử nghiệm ở một số đô thị lớn và sẽ
được mở rộng trong tương lai để giảm áp lực cho việc xử lý chất thải. Công tác thu gom chất
thải công nghiệp, hiện vẫn chưa được tổ chức một cách có hệ thống, nhất là đối với chất thải
công nghiệp nguy hại. CTR được lưu giữ trong các KCN, CCN và hợp đồng với các công ty
môi trường đô thị thu gom, vận chuyển, xử lý cùng chất thải đô thị hoặc bán cho cơ sở sản
xuất, kinh doanh để tái chế, tái sử dụng. CTR y tế, Bộ Y tế đã quy định các bệnh viện phải
phân loại thành chất thải y tế nguy hại và không nguy hại. Chất thải y tế thường được thu
gom sau đó sẽ được các tổ chức MTĐT vận chuyển đi chôn lấp. CTR y tế nguy hại được quy
định xử lý bằng các thiết bị chuyên dụng.
2.3.2.2. Xử lý chất thải
CTR được thu hồi, tái chế, tái sử dụng còn hạn chế, việc xử lý chất thải chủ yếu là chôn
khá cao, tạo ra sản phẩm tái chế từ các nguyên liệu trong rác thải. Các sản phẩm có thể dùng
sản xuất phân bón hữu cơ, sản xuất nhiên liệu từ các CTR hữu cơ và nhiên liệu CN. 16
+ Hiện nay, Công ty đã lắp đặt một nhà máy có công suất 50 tấn/ngày tại KCN Đồng Văn Hà Nam để xử lý, tái chế rác và phát điện thử nghiệm. Thời gian tới công ty sẽ lắp đặt dây
chuyền MBT - CD.08 tại nhà máy xử lý rác Sơn Tây và tại BCL CTR Sông Công - Thái
Nguyên.
- Công nghệ đốt không dùng nhiên liệu:
+ CTR gồm CTR sinh hoạt và CTR công nghiệp không nguy hại được xử lý bằng công nghệ
này qua các giai đoạn: xử lý sơ bộ, sấy rác và đốt rác, trong đó đốt rác là công nghệ chính.
Ưu điểm của công nghệ này là tách được rác thải xây dựng, đốt 80% rác thải hữu cơ và vô
cơ, chôn lấp 4% chủ yếu là tro lò đốt, bùn xử lý khói, bùn xử lý nước.
+ Công nghệ này hiện được lắp đặt tại một số địa phương như: lò đốt rác thải tại Thái Bình,
giai đoạn 1 có công suất 0,5 tấn/h, lắp đặt và vận hành năm 2003, giai đoạn 2 có công suất 1
tấn/h, lắp đặt và vận hành năm 2006; lò đốt rác thải tại Việt Trì có công suất 1,5 tấn/h, lắp
đặt và vận hành năm 2005; lò đốt rác thải tại Nam Định có công suất 4 tấn/h, lắp đặt và vận
hành tháng 2/2009.
- Công nghệ Patel của Việt nam:
+ Theo công nghệ này, CTR thu gom và được đổ trực tiếp tại nhà máy để phân loại và đưa
vào dây chuyền sản xuất. Mỗi dây chuyền có công suất 150 tấn/ca. sản phẩm sau xử lý gồm:
gạch xi măng cát từ rác thải vô cơ, hạt nhựa tái chế từ nilon, nhựa phế liệu, phân hữu cơ từ
rác thải hữu cơ. Ưu điểm của công nghệ này là không phát sinh các khí gây cháy nổ và mùi
hôi, chiếm ít diện tích đất, có khả năng tái chế tới 90% rác thải thành các sản phẩm hữu ích,
thời gian đầu tư, xây dựng ngắn, khoảng 12 - 18 tháng cho 1 nhà máy
+ Hiện nay công nghệ này đã được xây dựng và sản xuất thử nghiệm tại Nhà máy xử lý rác
thải thành phố Hạ Long - Quảng Ninh, bước đầu cho kết quả khả quan, chất lượng sản phẩm
tốt.
PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
+ Khảo sát một số trường học trong địa bàn
+ Khảo sát một số khu dân cư có mật độ dân số cao
+ Khảo sát bãi chôn lấp rác thải của thành phố
* Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp: thông qua tài liệu, báo cáo tổng hợp, số liệu thống kê của thành
phố với các tài liệu như điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế xã hội, văn hoá đời sống của
thành phố.
Thu thập, kế thừa các thông tin có liên quan đến thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Thu thập, kế thừa các kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài khoa học, các dự án
quốc tế có liên quan tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Nghiên cứu các tài liệu về pháp luật, chính sách, các quy định và các chương trình hành
động ưu tiên bảo vệ môi trường quốc gia để áp dụng cho công tác quản lý chất thải rắn thành
phố Hạ Long, Quảng Ninh.
* Phương pháp chuyên gia
- Tìm hiểu tình hình và có sự trao đổi, học hỏi từ những cán bộ làm việc tại phòng TN-MT
thành phố Hạ Long về vấn đề nghiên cứu.
- Trao đổi ý kiến với thầy cô hướng dẫn để có thêm những kinh nghiệm thực tập
* Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu
Sử dụng những phần mềm như Microsoft Word, Microsoft Excel,… để nhập dữ liệu, số
liệu thực hiện bài báo cáo
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Thành phố Hạ Long ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích đất là 27.195,03 ha,
có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của thành phố, có cảng biển, có bờ biển dài
50km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích
nhất vào tháng 7 và tháng 8, khoảng 350mm. Mùa đông là mùa khô, ít mưa, từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau, chỉ đạt khoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa ít nhất là
tháng 12 và tháng 1, chỉ khoảng từ 4 đến 40mm.
Độ ẩm không khí trung bình hằng năm là 84%. Cao nhất có tháng lên tới 90%, thấp nhất
có tháng xuống đến 68%.
Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, ở thành phố Hạ Long có 2 loại hình gió
mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đông Bắc về mùa đông và gió Tây Nam về mùa hè. Tốc độ
gió trung bình là 2.8m/s, hướng gió mạnh nhất là gió Tây Nam, tốc độ 45m/s.
Hạ Long là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh
nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10. Cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11.
d. Sông ngòi và chế độ thủy triều
Các sông chính chảy qua địa phận thành phố gồm có các sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Man,
Trới, cả 4 sông này đều đổ vào vịnh Cửa Lục rồi chảy ra vịnh Hạ Long. Riêng sông Míp đổ
vào hồ Yên Lập.
Các con suối chảy dọc sườn núi phía nam thuộc phường Hồng Gai, Hà Tu, Hà Phong. Cả
sông và suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều. Vì địa hình
dốc nên khi có mưa to, nước dâng lên nhanh và thoát ra biển cũng nhanh.
Chế độ thuỷ triều của vùng biển Hạ Long, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều
vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thuỷ triều trung bình là 3,6m. Nhiệt độ nước biển ở lớp bề
mặt trung bình là 180C đến 30.80C, độ mặn nước biển trung bình là 21,6% (vào tháng7) cao
nhất là 32,4% (vào tháng 2 và 3 hằng năm).
e. Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên khoáng sản: Đối với địa bàn thành phố Hạ Long bao gồm chủ yếu là than đá và
nguyên vật liệu xây dựng. Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được đến thời điểm này là trên
530 triệu tấn, nằm ở phía bắc và đông bắc Thành phố trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà
Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu (Đại Yên và Việt Hưng nằm trong vùng cấm hoạt động
chưa sử dụng 1395,25 ha.
- Tài nguyên biển: Với tổng diện tích 1.553km2 bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó
989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Bên cạnh đó, vùng biển Hạ Long cũng rất phong phú
về các loại động vật và thực vật dưới nước. Theo nghiên cứu có 950 loài cá, 500 loài động
vật thân mềm và 400 loài giáp xác, trong đó có nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như
cá thu, cá nhụ, cá song, cá hồi, cá tráp, cá chim và tôm, cua, mực, ngọc trai, bào ngư, sò
huyết… 117 loài san hô thuộc 40 họ, 12 nhóm.
- Tài nguyên nước: Tài nguyên nước mặt tại thành phố Hạ Long tập trung tại các khu vực hồ
Yên Lập (tổng dung tích chứa của cả hồ bao gồm cả huyện Yên Hưng, Hoành Bồ khoảng
107.200.000m3 (thời điểm đo trong tháng 8/2010)), Hồ Khe Cá tại phường Hà Tu… đây là
nguồn cung cấp lớn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra là các hồ điều
hòa tạo cảnh quan cho thành phố: Yết Kiêu, Ao Cá - Kênh Đồng …
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long
Dân số toàn bộ TP Hạ Long có 568.541 người người (trong đó nội thành là: 335.706
người) vào năm 2017. Số người trong độ tuổi lao động trong ngành công nghiệp mỏ là:
75.395 người (nội thành). Số người trong độ tuổi lao động chưa có việc làm chiếm tỷ lệ khá
cao: 11,5÷12%. Mật độ dân cư ở các đô thị tăng nhanh: năm 2010, thành phố Hạ Long là
1200 người/km2 , trung bình cả tỉnh 150 người/km2 ; năm 2017, Hạ Long 1339 người/km2
và toàn tỉnh 383 người/km2 . Sự gia tăng dân số đô thị đã tạo ra những sức ép lớn về nhu cầu
đất đai, tài nguyên và năng lượng, chăm sóc sức khoẻ, kéo theo đó là sức ép tới môi trường
(MT) tự nhiên do rác thải, nước thải, khí thải, khai thác nguồn nước ngầm cho cấp nước và
điện sinh hoạt... (Niên giám thống kê thành phố Hạ Long, 2016).
Những năm gần đây trong xu thế phát triển chung của cả nước, kinh tế xã hội tỉnh Quảng
Ninh nói chung và TP Hạ Long nói riêng đã từng bước ổn định và phát triển. Kinh tế Hạ
Long đó có những bước tăng trưởng khá mạnh, khắc phục được tình trạng khó khăn trì trệ.
Tăng trưởng GDP của TP Hạ Long trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 rất cao, bình