Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ: “Bảo vệ quyền lợi của người
thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu” là công trình nghiên cứu của
mình. Các dẫn chứng có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả
trình bày trong luận văn là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghiên cứu của mình.
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

Học viên

Nguyễn Vũ Hường


LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo – PGS.TS
Phùng Trung Tập, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá
trình thực hiện và hoàn thành Luận văn thạc sĩ.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo của Trường
Đại học Luật Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức cả về
lý luận và thực tiễn trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã
giúp đỡ tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành Luận văn thạc sĩ này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên

Nguyễn Vũ Hường


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Giao dịch dân sự: GDDS
Bộ luật Dân sự: BLDS


8

1.2.2. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô
hiệu

12

1.2.3. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền
lợi của người thứ ba ngay tình

14

1.3. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình

21

1.4. Khái lược quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình

23

1.5. Pháp luật của một số quốc gia quy định về việc bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

31

Chương 2

37


2.2.2 Quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

52

2.3. Sự giống và khác nhau giữa người thứ ba ngay tình và người chiếm
hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình

53

Chương 3

57

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI
THỨ BA NGAY TÌNH VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA

57

NGAY TÌNH KHI GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

57

3.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến người thứ ba ngay tình
khi giao dịch dân sự vô hiệu

57

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

với tinh thần thiện chí, ngay thẳng, trung thực nhưng họ không biết hoặc
không thể biết giao dịch mà mình xác lập là không có căn cứ pháp luật.
Thông thường, dưới góc độ pháp luật các chủ thể này được xác định là người
thứ ba ngay tình. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao
dịch dân sự vô hiệu cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Vậy pháp luật bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ như thế nào? Chính vì vậy, việc nghiên
cứu, phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người
thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, từ đó tìm ra những vướng mắc,
bất cập, đồng thời kiến nghị những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp
luật về vấn đề này là điều hết sức cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, tôi
đã lựa chọn đề tài: “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao
dịch dân sự vô hiệu” làm Luận văn Thạc sĩ của mình.


7

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi
giao dịch dân sự vô hiệu tính đến thời điểm hiện nay có một số bài viết, công
trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này ở các cấp độ khác nhau, cụ thể như
bài viết: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình theo
Điều 258 Bộ luật Dân sự - hiểu thế nào cho đúng” của tác giả Lưu Thị Thu
Hiền đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, số 12/2012; bài
viết:“Trao đổi về bài “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay
tình theo Điều 258 Bộ luật Dân sự - hiểu thế nào cho đúng” của tác giả Huỳnh
Xuân Tình đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, số
23/2012…; có một số công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế bảo vệ quyền
lợi của người thứ ba ngay tình trong một số trường hợp cụ thể như bài viết: “Bảo
vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu theo
quy định tại Điều 138 BLDS năm 2005” của tác giả Nguyễn Thị Minh Phượng

- Quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi của người thứ
ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
- Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến người thứ ba ngay tình
và hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người
thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt việc nghiên cứu đề tài, trong quá trình nghiên cứu tác
giả sử dụng nhiều phương pháp như phương pháp phân tích và tổng hợp để
làm rõ các khái niệm liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay
tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác có tính ứng
dụng cụ thể như phương pháp so sánh luật, khảo sát thực tiễn để thấy được
những điểm phù hợp, hạn chế trong các quy định pháp luật, từ đó đưa ra một
số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
5. Mục tiêu, nhiệm vụ của việc nghiên cứu luận văn
5.1. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ những quy định của pháp luật
về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
Thông qua việc tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật, đề xuất
một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền
lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu...


9

5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Làm rõ khái niệm người thứ ba ngay tình và việc bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
- Phân tích, bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ

QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI GIAO DỊCH
DÂN SỰ VÔ HIỆU
1.1. Khái niệm người thứ ba ngay tình
Khi một giao dịch dân sự bị tuyên bố là vô hiệu thì giao dịch đó không
có giá trị pháp lý tại thời điểm ký kết, không xác lập quyền và nghĩa vụ của
các bên, quay lại tình trạng ban đầu hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.
Trong trường hợp người thứ ba tham gia giao dịch ngay tình thì giải quyết
như thế nào. Để giải quyết vấn đề này trước hết cần phải hiểu rõ thế nào là
người thứ ba ngay tình khi tham gia giao dịch. Khi giao dịch dân sự vô hiệu,
vấn đề bảo vệ người thứ ba ngay tình được đặt ra khi thoả mãn các điều kiện
pháp luật quy định. Để hiểu rõ về người thứ ba ngay tình nhằm bảo vệ quyền
lợi của người thứ ba ngay tình hiệu quả, cần xác định chủ thể là “người thứ
ba”. Có quan điểm cho rằng: “Trong quan hệ dân sự, ngoài các chủ thể hoặc
người đại diện, người được uỷ quyền tham gia giao dịch, một số trường hợp
có người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đó là người thứ ba trong
quan hệ dân sự.”1 Để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao
dịch dân sự vô hiệu cần thoả mãn điều kiện “giao dịch dân sự vô hiệu”.
BLDS năm 2005 sử dụng thuật ngữ “người” thứ ba ngay tình, vậy cần
xác định nội hàm của thuật ngữ “người” trong trường hợp này là những chủ
thể nào. Chủ thể tham gia giao dịch dân sự được BLDS năm 2005 đề cập đến
là “người”, cụ thể ở điểm a khoản 1 Điều 22 “người tham gia giao dịch dân
sự”. Điều luật dùng thuật ngữ “người” tham gia giao dịch dân sự nhưng cần
hiểu rằng “người” ở đây chỉ các chủ thể có thể tham gia giao dịch dân sự, mà
chủ thể có thể tham gia giao dịch dân sự là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ
hợp tác. Bản thân người thứ ba ngay tình cũng là người tham gia giao dịch
dân sự, như vậy thuật ngữ “người” trong người thứ ba ngay tình phải được
hiểu là bao gồm cá nhân và các chủ thể khác như pháp nhân, hộ gia đình, tổ
1 Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thuật ngữ pháp lý, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr.313



giao dịch trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tuân theo các quy định của pháp
luật mà không biết đối tượng giao dịch là tài sản bất minh, do chủ sở hữu


12

được xác lập trước đó bởi một giao dịch vô hiệu. Đây có thể nói là yếu tố
quan trọng nhất để xác định người tham gia giao dịch hoàn toàn ngay tình.
Sự không biết và không buộc phải biết ở đây còn được thể hiện, đối với
một người bình thường thì không thể biết được tài sản đưa vào giao dịch xuất
phát từ một giao dịch vô hiệu. Thông thường trong thực tiễn giải quyết tranh
chấp người ta căn cứ vào yếu tố khách quan của các bên tham gia giao dịch để
xác định tính chất này. Đối với tài sản không cần có giấy tờ sở hữu mà người
chiếm hữu tài sản khẳng định đó là tài sản của họ, thì người mua không bắt
buộc phải biết. Đối với loại tài sản mà theo pháp luật phải có giấy chứng nhận
quyền sở hữu, thì người chiếm giữ tài sản có giấy tờ sở hữu hoặc có giấy uỷ
quyền tham gia giao dịch và người mua trong điều kiện thông thường đối với
một người bình thường thì buộc phải biết. Trong trường hợp giấy tờ này nhìn
với mắt thường và trong điều kiện bình thường thì không thể phát hiện ra đó
là giấy tờ giả hoặc được cơ quan có thẩm quyền cấp trái quy định của pháp
luật thì không phải do lỗi của bên mua.
Từ đó, có thể thấy rằng để xác định người thứ ba ngay tình thông
thường được căn cứ vào những điểm sau đây:
- Trước khi người thứ ba tham gia giao dịch đối tượng của giao dịch
này được xác lập bởi một giao dịch vô hiệu;
- Khi xem xét người tham gia giao dịch có ngay tình hay không, trước
hết phải xem xét ý chí của họ và ý chí này thể hiện ra bên ngoài khách quan
bằng một hành vi cụ thể. Nếu ở một điều kiện thông thường thì họ có thể biết
được tài sản đưa vào giao dịch được xác lập bởi một giao dịch dân sự vô hiệu
trước đó hay không? Trong trường hợp họ biết hoặc pháp luật quy định là họ

nghĩa vụ dân sự nhằm thoả mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng và
trong sản xuất, kinh doanh. Giao dịch dân sự càng có ý nghĩa quan trọng
trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay, giao dịch dân sự được xem là công cụ thông
dụng và có hiệu quả nhất đảm bảo cho các quan hệ dân sự được thực hiện
trong hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển. Chế định
giao dịch dân sự lần đầu tiên được quy định trong BLDS năm 1995, sau đó được
sửa đổi, bổ sung trong BLDS năm 2005.
Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến
nhất làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Theo Từ điển Tiếng Việt, giao
dịch là “có quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc với nhau.”2 Điều 121 BLDS năm 2005
quy định về giao dịch dân sự như sau: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc
2 Viện Ngôn ngữ (2010), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Thanh Niên, Hà Nội, tr.348


14

hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự.” Đối với giao dịch dân sự là hợp đồng còn được quy định tại
mục 7 Phần thứ 3 BLDS năm 2005, hành vi pháp lý đơn phương được quy
định một phần trong hợp đồng dân sự như hứa thưởng, thi có giải… và trong phần
quy định về thừa kế.
Dưới góc độ khoa học, khái niệm giao dịch dân sự được đề cập trong
rất nhiều tài liệu khác nhau như: “Giao dịch dân sự là hành vi được thực hiện
nhằm thu được kết quả nhất định và pháp luật tạo điều kiện cho kết quả trở
thành hiện thực” hay “Giao dịch là một sự kiện pháp lý bao gồm hành vi
pháp lý đơn phương hoặc đa phương làm phát sinh hậu quả pháp lý.”3
Theo Từ điển luật học, NXB.Tư pháp năm 2006 thì giao dịch dân sự là
hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình,
tổ hợp tác nhằm làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
trong trường hợp pháp luật có quy định.”
Từ quy định trên có thể hiểu điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
là những điều kiện do pháp luật quy định mà một giao dịch dân sự muốn phát
sinh hiệu lực pháp lý phải thoả mãn các điều kiện đó. Tuy nhiên trên thực tế,
để xác định một giao dịch có phát sinh hiệu lực pháp lý hay không còn phải
căn cứ vào các quy định của pháp luật có liên quan và các ngành luật điều chỉnh
giao dịch đó. Qua những phân tích trên có thể kết luận: Giao dịch dân sự là sự
thể hiện ý chí một cách tự nguyện của các chủ thể thông qua hợp đồng hoặc
hành vi pháp lý đơn phương nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và
nghĩa vụ dân sự.4
* Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu
Dưới góc độ nghiên cứu, trong khoa học pháp lý thuật ngữ “giao dịch
dân sự vô hiệu” được sử dụng rất rộng rãi, tuy nhiên chưa có một tài liệu
chính thống nào nêu ra khái niệm khoa học cụ thể này.
Vô hiệu theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không mang
lại kết quả” 5. Do đó, có thể hiểu giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự
không có hiệu lực pháp lý, mặc dù giao dịch giữa các bên đã được xác lập,
các bên đang thực hiện hoặc đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhưng mọi
cam kết của các bên đều không được pháp luật bảo hộ.

4 Hà Thị Thanh Hương (2012), Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu,
Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
5 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.


16

BLDS năm 2005 tại Điều 122 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao


17

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
- Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
trong trường hợp pháp luật có quy định.
Như vậy, một giao dịch khi không thỏa mãn một trong các điều kiện trên có
thể sẽ vô hiệu. Tuy nhiên, điều kiện về hình thức không mang tính bắt buộc, nó
chỉ mang tính bắt buộc khi Nhà nước có yêu cầu một loại giao dịch nào đó nhất
thiết phải tuân thủ theo một hình thức nhất định mà pháp luật quy định.
Thứ hai, khi giao dịch dân sự vô hiệu các bên sẽ phải gánh chịu những
hậu quả pháp lý nhất định.
Thứ ba, việc quy định giao dịch dân sự vô hiệu thể hiện ý chí của Nhà
nước trong việc kiểm soát các giao dịch dân sự nhất định nếu thấy cần thiết vì
lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng.
Qua việc xác định đặc điểm chung của giao dịch dân sự vô hiệu, chúng
ta có thể hiểu khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu như sau: Giao dịch dân sự
vô hiệu là giao dịch dân sự mà khi xác lập các chủ thể đã có vi phạm ít nhất
một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của
pháp luật, do vậy không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Những quy định về giao dịch dân sự vô hiệu có ý nghĩa quan trọng
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao
dịch dân sự, đảm bảo ổn định các giao dịch dân sự cũng như ổn định trật tự xã
hội. Khi giao dịch dân sự vô hiệu, việc giải quyết hậu quả pháp lý của nó sẽ
phức tạp hơn nếu như nó ảnh hưởng đến quyền lợi của một bên chủ thể khác,
nhất là khi chủ thể đó lại ngay tình.
1.2.2. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân
sự vô hiệu

Rõ ràng, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì quyền lợi của người thứ ba
ngay tình cần được bảo vệ. BLDS năm 2005 có đưa ra những cách thức bảo
vệ khác nhau như: kiện đòi lại tài sản, kiện đòi bồi thường thiệt hại, kiện yêu
cầu chấm dứt hành vi vi phạm… Vậy mức độ bảo vệ người thứ ba ngay tình
khi giao dịch dân sự vô hiệu sẽ như thế nào? Nhất là trong tình huống chủ sở
hữu ban đầu kiện đòi lại tài sản, yêu cầu tuyên bố giao dịch của người thứ ba

6 Viện Ngôn ngữ (2010), tr.34.


19

vô hiệu thì họ có được quyền sở hữu tài sản đó hay phải trả lại tài sản cho chủ
sở hữu ban đầu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Xét dưới góc độ bảo vệ quyền lợi, chúng ta thấy việc trả lại tài sản và
yêu cầu bồi thường hay là được giữ lại tài sản thì quyền lợi của người thứ ba
ngay tình đều được bảo vệ, Nhưng nếu xét về mức độ bảo vệ thì nếu họ được
sở hữu tài sản đang có tranh chấp sẽ là biện pháp bảo vệ quyền lợi tối ưu nhất.
1.2.3. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến
quyền lợi của người thứ ba ngay tình
Giao dịch dân sự được xác lập giữa các chủ thể nhằm thoả mãn quyền
và lợi ích của mình. Tuy nhiên, trong giao dịch dân sự, nhiều trường hợp
không chỉ có quan hệ đơn thuần giữa các chủ thể tham gia giao dịch dân sự
mà còn có thể có sự liên quan đến người thứ ba. Cần chú ý rằng “người thứ
ba” ở đây là người liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu chứ không phải là
một bên trong giao dịch dân sự vô hiệu. Khi người thứ ba tiếp nhận đối tượng
hoặc kết quả của giao dịch dân sự vô hiệu thông qua một giao dịch khác, khi
đó pháp luật sẽ bảo vệ quyền và lợi ích của người thứ ba tham gia giao dịch
một cách ngay tình. Người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự là chủ thể
tham gia giao dịch trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tuân thủ theo các quy

đến việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người chiếm hữu ngay tình nhằm đảm
bảo tính ổn định, an toàn của giao lưu dân sự đã được các chủ thể xác lập.
* Đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu
rời khỏi chủ sở hữu theo ý chí của chủ sở hữu; người thứ ba chiếm
hữu ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù với người không có
quyền định đoạt tài sản
Điều 257 BLDS năm 2005 khi quy định về quyền đòi lại động sản không
phải đăng ký quyền sở hữu đã dự liệu một trường hợp ngoại lệ mà chủ sở hữu
không có quyền kiện đòi lại tài sản đó là: trường hợp tài sản là động sản không
phải đăng ký quyền sở hữu rời khỏi chủ sở hữu theo ý chí, người thứ ba ngay
tình khi có được tài sản thông qua hợp đồng có đền bù với người không có
quyền định đoạt tài sản, thì người thứ ba ngay tình không trả lại tài sản.
Tài sản rời khỏi chủ sở hữu theo ý chí của chủ sở hữu; người thứ ba
chiếm hữu ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù với người không có
quyền định đoạt tài sản là trường hợp chủ sở hữu chuyển giao tài sản cho
người chiếm hữu hợp pháp thông qua một hợp đồng như cho thuê, cho mượn,
cầm cố, thế chấp, đặt cọc… sau đó người chiếm hữu hợp pháp định đoạt tài
sản này cho người thứ ba ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù như hợp


21

đồng mua bán, hợp đồng trao đổi tài sản… mà không được sự đồng ý của chủ
sở hữu. Pháp luật quy định chủ sở hữu không có quyền kiện đòi lại tài sản
trong trường hợp này, nhưng chủ sở hữu có quyền kiện yêu cầu người đã giao
kết hợp đồng với mình phải bồi thường thiệt hại. Hay nói cách khác, tranh
chấp giữa chủ sở hữu và người đã giao kết hợp đồng với chủ sở hữu sẽ được
giải quyết theo các quy định về hợp đồng dân sự.
Người chiếm hữu được coi là ngay tình khi không biết và không thể
biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật. Nếu người thứ ba

không được quyền kiện đòi lại tài sản nữa. Việc bảo vệ quyền lợi cho người
thứ ba ngay tình trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng, bởi nó không
chỉ là sự bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của các chủ thể, giúp cho các chủ
thể yên tâm khi tham gia vào các giao dịch dân sự mà quy định này còn góp
phần bảo đảm tính ổn định, thúc đẩy sự phát triển của các giao lưu dân sự.
* Đối với tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất
động sản mà người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được trong một số
trường hợp ngoại lệ
Về nguyên tắc pháp luật cho phép chủ sở hữu được đòi lại tài sản là
động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản từ người thứ ba ngay
tình. Tuy nhiên có hai trường hợp ngoại lệ chủ sở hữu không được kiện đòi lại
tài sản nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình theo quy định tại
Điều 258 BLDS năm 2005, đó là:
Ngoại lệ thứ nhất: Người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản
thông qua bán đấu giá.
Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức
trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự,
thủ tục được quy định tại Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của
Chính phủ về bán đấu giá tài sản và Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày
06/12/2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị
định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ. Người mua được tài
sản bán đấu giá từ một cuộc bán đấu giá do Trung tâm bán đấu giá tài sản, Tổ
chức kinh doanh dịch vụ bán đấu giá hoặc Hội đồng bán đấu giá tài sản (gọi
chung là tổ chức bán đấu giá) thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định về bán
đấu giá tài sản mà không biết và không thể biết được về nguồn gốc, tình trạng
pháp lý của tài sản bán đấu giá thì người mua được coi là chiếm hữu ngay
tình. Chủ sở hữu không được kiện đòi tài sản từ người chiếm hữu ngay tình
trong trường hợp này.



ngay tình. Người này không biết và không thể biết người thiết lập giao dịch
với mình không phải là chủ sở hữu tài sản;


24

- Giao dịch được thiết lập giữa người thứ ba chiếm hữu ngay tình với
người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở
hữu tài sản;
- Do bản án, quyết định bị huỷ, sửa nên người thiết lập giao dịch với
người thứ ba ngay tình không còn là chủ sở hữu tài sản nữa. Thông thường,
bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, sửa do vi phạm của cơ quan tiến hành
tố tụng, trừ những trường hợp huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
và đình chỉ giải quyết vụ án. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng
dẫn đến người thứ ba ngay tình được bảo vệ khi bản án, quyết định của Toà
án bị huỷ, sửa.
Như vậy, theo quy định tại Điều 258 BLDS năm 2005 thì điều kiện để
người thứ ba chiếm hữu ngay tình không phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu là:
Người thiết lập giao dịch với người là chủ sở hữu tài sản theo bản án, quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải là người chiếm hữu ngay tình.
Người này không biết và không thể biết người thiết lập giao dịch với mình
không phải là chủ sở hữu tài sản; Giao dịch được thiết lập giữa người thứ ba
chiếm hữu ngay tình với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản; Do bản án, quyết định bị huỷ, sửa
nên người thiết lập giao dịch với người thứ ba ngay tình không còn là chủ sở
hữu tài sản đó nữa.
Ví dụ: Theo Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, A là chủ sở
hữu căn nhà. Do đó, A đã giao kết hợp đồng bán căn nhà này cho B, hợp đồng
được chứng thực tại UBND cấp có thẩm quyền. Sau đó, Hội đồng giám đốc
thẩm ra quyết định huỷ bản án dân sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại do

có vi phạm về hình thức vẫn được Tòa án công nhận hiệu lực pháp lý, làm cơ
sở để phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Quy định này là một sự thay đổi linh hoạt về tiêu chí đánh giá hiệu lực
pháp lý giao dịch dân sự so với BLDS năm 2005. BLDS năm 2015 đã giải
thoát điều kiện tuân thủ về hình thức trong mọi trường hợp của BLDS năm
2005 để bảo vệ đến cùng quyền và lợi ích hợp pháp người tham gia giao dịch
có ý chí tự nguyện thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trong giao dịch. Đây là một giải
pháp nhằm hạn chế cơ hội việc một bên không tự nguyện tham gia giao dịch,
lại viện dẫn lý do vi phạm về hình thức của giao dịch để hủy toàn bộ giao dịch
khi giá trị của đối tượng hợp đồng biến động có lợi hơn cho bên không thiện
chí tham gia.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status