Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ việt nam đương đại (khảo sát sáng tác của dạ ngân, y ban, lý lan, nguyễn thị thu huệ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÚY HÀ

DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ
TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
(KHẢO SÁT SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN,

Y BAN, LÝ LAN, NGUYỄN THỊ THU HUỆ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÚY HÀ

DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ
TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
(KHẢO SÁT SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN,

Y BAN, LÝ LAN, NGUYỄN THỊ THU HUỆ)

Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

2.2. Sự kiến tạo hình ảnh người nữ trong hôn nhân.....................................37
Chương 3. SỰ KIẾN TẠO VỊ THẾ CỦA GIỚI NỮ TRONG GIA ĐÌNH
VÀ CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI......................................................................40
3.1. Sự kiến tạo vị thế của người nữ trong gia đình.....................................40
3.2. Sự kiến tạo vị thế của người nữ trong đời sống xã hội.........................68
KẾT LUẬN....................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................80
PHỤ LỤC.......................................................................................................93


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu nổi bật trong các
khoa học xã hội hiện đại là lý thuyết diễn ngôn. Diễn ngôn học là một lĩnh vực
nghiên cứu liên ngành. Nghiên cứu diễn ngôn không chỉ có quan hệ mật thiết với
ngôn ngữ học, kí hiệu học mà còn gắn liền với với các thành tựu của văn hóa học,
xã hội học, tri thức luận, sử học… Bàn về triển vọng của lý thuyết thuyết diễn ngôn
đối với khoa học hàn lâm, nhà nghiên cứu O.F.Rusakova khẳng định: “Ngày nay,
lĩnh vực nghiên cứu có tên gọi là ‘lí thuyết diễn ngôn’ là một trong những khuynh
hướng đang phát triển mạnh mẽ nhất trong các khoa học xã hội hiện đại. Chứng cớ
là hàng năm, số lượng các ấn phẩm, các hội thảo khoa học, các giáo trình đại học,
các luận văn, luận án dành cho những lĩnh vực khác nhau trong việc vận dụng các lý
thuyết diễn ngôn và phân tích diễn ngôn đang không ngừng tăng lên”. Lý thuyết
diễn ngôn tương thích với nhu cầu khám phá những cơ chế tạo dựng tri thức, niềm
tin, sự kiến tạo chủ thể, các mối quan hệ quyền lực và sự thực hành xã hội đa
dạng…. Đặc biệt, đối với văn chương, lý thuyết diễn ngôn có thể mở ra một cách
đọc mới, một cách lý giải mới các cơ chế ngầm vận hành văn bản.
Theo chúng tôi, một trong những đối tượng tương thích với thế mạnh của lý
thuyết diễn ngôn là văn xuôi nữ. Ở Việt Nam, từ 1986 trở lại đây, văn xuôi nữ phát
triển mạnh mẽ, trở thành một trong những hiện tượng đáng chú ý, cả về mặt văn học

chính thống hóa. Nguyễn Thị Thu Huệ, một tác giả giữ nhiều chức vụ xã hội, đứng
ở trung tâm, giữa những ràng buộc của thiết chế xã hội, chính trị, để diễn giải lại về
giới nữ. Sáng tác của Y Ban có dấu viết của một thứ diễn ngôn ngoại biên, thiểu số
hướng đến trung tậm. Còn tác phẩm của Dạ Ngân, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ có
dấu vết của thứ diễn ngôn trung tâm hướng ra ngoại biên. Cả Dạ Ngân, Y Ban, Lý
Lan và Nguyễn Thị Thu Huệ đều là các nhà văn nữ, bàn về sự kiến tạo giới nữ (sự
tái định nghĩa nữ tính) của chính các nhà văn nữ có ý nghĩa đặc biệt, nếu chúng ta
thừa nhận rằng ngôn ngữ chính dùng để kiến tạo thế giới lâu nay vẫn là ngôn ngữ
nam giới. Bởi vậy, thực chất việc khảo sát diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn nữ
đương đại, là miêu tả sự hình thành một ngôn ngữ riêng của nhà văn nữ về chính
giới nữ trong đối sánh với diễn ngôn nam giới về “kẻ khác”.

2


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Sự du nhập, giới thiệu lý thuyết diễn ngôn cũng như việc vận dụng nó
trong nghiên cứu văn học Việt Nam cho đến nay có rất ít thành tựu, nếu không
muốn nói còn ở tình trạng sơ khai.
Đời sống học thuật ở Việt Nam ghi nhận, khái niệm diễn ngôn, phân tích diễn
ngôn được đề cập và bàn thảo đầu tiên trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Trần Ngọc
Thêm, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thái Hòa... sớm quan tâm đến
vấn đề này, đặc biệt là Diệp Quang Ban [11], Nguyễn Hòa [43]… là hai tác giả có
nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn. Bên cạnh những
đóng góp của các nhà nghiên cứu vừa kể, còn có những nỗ lực dịch và giới thiệu
đường hướng phân tích diễn ngôn của các giả dịch giả như Hồng Nhâm, Trúc
Thanh, Ái Nguyên, Trần Thuần, Hoàng Văn Vân….
Nhìn sang lĩnh vực xã hội học, văn hóa học, sử học, văn học…. dễ thấy, việc
dịch, giới thuyết về khái niệm này cũng còn khá sơ lược. Riêng trong nghiên cứu
văn học, một số công trình phê bình hoặc biên soạn, tổng thuật, giới thiệu các lý

2.2. Khác với tình hình dịch, giới thiệu lý thuyết diễn ngôn, việc nghiên cứu
văn xuôi nữ đương đại rất đa dạng. Đã có nhiều công trình lấy văn học nữ, văn xuôi
nữ, thơ nữ nói chung làm đối tượng khảo sát, đấy là chưa kể có không ít nghiên cứu
trường hợp.
2.3. Mặc dù cách tiếp cận, cũng như điểm tựa lý thuyết của các nghiên cứu về
văn học nữ rất phong phú. Tuy nhiên, vấn đề giới trong văn học Việt Nam nói
chung, đặc biệt vấn đề giới nữ trong văn xuôi nữ đương đại nói riêng vẫn chưa được
quan tâm thích đáng.
Chúng tôi thấy việc nghiên cứu vấn đề giới trong văn học gần đây được thực
hành chủ yếu bởi các nhà nghiên cứu phê bình thế hệ 7x và 8x. Tiêu biểu là Trần
Văn Toàn, Hồ Khánh Vân, Nguyễn Thị Vân Anh…. Tác giả Trần Văn Toàn trong
các nghiên cứu như Nam tính hóa nữ tính - Đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh từ góc
nhìn giới tính [121], Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật Trường hợp của
Dũng trong Đoạn tuyệt [122]; Nguyễn Thị Vân Anh trong một nghiên cứu thử
nghiệm Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam
[4], Thái Phan Vàng Anh trong Văn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975 - nhìn từ
diễn ngôn giới [6],… cho thấy cốt lõi các diễn giải của họ là xuất phát từ lý thuyết

4


diễn ngôn đan xen với thi pháp học. Nguyễn Đăng Điệp trong Vấn đề phái tính và
âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại [126]; Hồ Khánh Vân trong
Từ lý thuyết phê bình nữ quyền nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác
giả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay [147]; Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước
đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỉ
XX [148]; Ý thức về địa vị giới thứ hai trong một số sáng tác của các tác giả nữ Việt
Nam và Trung Quốc từ 1980 đến nay [126]; Nguyễn Thị Thanh Xuân trong Vấn đề
phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại (qua sáng tác
của một số nhà văn nữ tiêu biểu) [151]; John C.Schafer trong Đọc Phạm Duy và Lê

đại là: Chỉ ra hình ảnh giới nữ được kiến tạo ra sao trong các tác phẩm của nhà văn
nữ hiện nay; để lý giải các hình ảnh ấy luận văn phải làm rõ cơ chế kiến tạo, các
thiết chế xã hội của các diễn ngôn….
- Nhiệm vụ chính của luận văn gồm
Xác lập các hiểu thống nhất về khái niệm nữ tính/nam tính, khái niệm diễn
ngôn cũng như diễn ngôn về giới nữ
Phân tích, lý giải những điểm đặc thù trong diễn ngôn về giới nữ của các nhà
văn nữ Việt Nam đương đại: so sánh với các diễn ngôn về giới nữ trước Đổi mới và
các diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi của các nhà văn nam đương đại, nhằm chỉ
ra sự duy trì và đồng thời là sự giải kiến tạo các diễn ngôn về nữ tính của văn xuôi
nữ Việt Nam đương đại
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các diễn ngôn về giới nữ của
chính giới nữ (các nhà văn nữ), cụ thể bao gồm sự định nghĩa lại nữ tính/sự kiến tạo
hình ảnh nữ giới trong tình yêu – hôn nhân, gia đình và các mối quan hệ xã hội…
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: [văn xuôi nữ Việt Nam đương đại] tập
trung khảo sát các tác phẩm Dạ Ngân, Lý Lan, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ. Luận
văn nhìn nhận sáng tác của các nhà văn này như là các trường hợp tiêu biểu và là
những biểu hiện cụ thể, sinh động của các diễn ngôn đương đại về giới nữ.
5. Cơ sơ lý luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu diễn ngôn đòi hỏi sự tiếp cận đa ngành, liên ngành. Do đó, luận
văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp:

6


- Phương pháp loại hình: luận văn sử dụng phương pháp này để xem xét hiện
tượng văn học nữ [văn xuôi nữ), xác định tính chất loại hình của văn học này cũng
như các diễn ngôn về giới trong nó. Khung phân loại được sử dụng để xác định đặc
điểm chung của hiện tượng văn học nữ ở đây là diễn ngôn: xác định diễn ngôn của

- Bước đầu nhận diện sự giải kiến tạo diễn ngôn về nữ tính và sự tạo dựng một
diễn ngôn khác về giới nữ của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại trong đối sánh
với diễn ngôn truyền thống.
7. Kết cấu của luận văn
- Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Tư liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc gồm
3 chương
Chương 1: Giới nữ như là sản phẩm kiến tạo xã hội
Chương 2: Sự kiến tạo hình ảnh giới nữ trong tình yêu và hôn nhân
Chương 3: Sự kiến tạo vị thế của giới nữ trong gia đình và đời sống xã hội

8


Chương 1
GIỚI NỮ NHƯ LÀ SẢN PHẨM KIẾN TẠO XÃ HỘI
Chương này phân biệt khái niệm giới và giới tính; diễn ngôn về giới nữ của
các nhà văn nữ [chủ thể sáng tạo] và diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn nam [chủ
thể sáng tạo].
Đồng thời khẳng định nam tính và nữ tính không phải là tự nhiên, mà là các
sản phẩm kiến tạo về mặt xã hội. Diễn ngôn về giới nữ thay đổi theo từng ngữ cảnh
văn hóa xã hội.
1.1. Khái niệm giới, diễn ngôn và diễn ngôn về giới nữ
Giới (gender) khác với giới tính (sex). Lâu nay trong một số thực hành phê
bình văn học, hai khái niệm này được xem là đồng nghĩa, do đó thường bị dùng lẫn
lộn, thay thế cho nhau.
Theo các nhà xã hội học, giới tính lá khái niệm dùng chỉ sự khác biệt về sinh
lý căn bản giữa đàn ông và đàn bà, “khác biệt về cơ quan sinh dục và những khả
năng sinh sản” [132, tr.17]. Còn khái niệm giới đề chỉ chị sự phân biệt về mặt xã hội
và văn hóa.
Các nhà nhân học xã hội cũng phân biệt, khái niệm “giới là sản phẩm của của

thức, và tri thức tạo nên quyền lực. Bởi vậy sẽ không có tri thức nào là chân lý tuyệt
đối và hoàn toàn khách quan” [149, tr.5]. Mọi diễn ngôn đều là sản phẩm của văn
hóa, xã hội.
Khái niệm diễn ngôn của giới nữ khác với diễn ngôn về giới nữ. Khái niệm
thứ nhất đề cập đến giới nữ như một chủ thể, xác định giới nữ có một diễn ngôn so
với giới nam. Diễn ngôn của giới nữ có thể kiến tạo nghĩa cho bất cứ hiện tượng,
đối tượng nào Trong khi đó khái niệm thứ hai, cho thấy, giới nữ là đối tượng định
nghĩa của diễn ngôn, chủ thể của diễn ngôn đó có thể là giới nam hoặc chính là giới
nữ.
1.2. Nữ tính, nam tính như là sự kiến tạo xã hội
Như đã nói ở trên (đồng thời cũng là quan điểm của luận văn này), giới nam
và giới nữ là sản phẩm của sự kiến tạo xã hội. Nam tính và nữ tính trong phạm vi
luận văn không được dùng theo nghĩa sinh học, mà là những kiến tạo xã

10


hội, văn hóa. Nam tính và nữ tính không phải là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm
của xã hội.
Thừa nhận, nam tính và nữ tính là sản phẩm văn hóa, thì “tất yếu phải chấp
nhận một thực tế: không có một quan niệm duy nhất, phổ quát cho cái gọi là nam
tính (masculine) hay nữ tính (femininity). Nam tính hay nữ tính biến đổi một cách
đa dạng từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác; và ngay trong một nền văn hóa
thì nam tính và nữ tính cũng luôn biến đổi từ thời kì này sang thời kì khác. Điều này
giải thích vì sao trong những công trình nghiên cứu về giới hiện nay nam tính hay
nữ tính thường được dùng ở dạng số nhiều: những - nam tính (masculinities) và
những – nữ tính (femininities). … những quy phạm về nữ tính và nam tính không
phải là một tồn tại có tính chất tự nhiên mà là sản phẩm của diễn ngôn được kiến tạo
từ một hệ hình tri thức và những tương quan quyền lực của một thời đại cụ thể.”
[121, tr.22].

Phan Khôi, người được coi là tiếp nhận văn học từ ánh sáng của nữ quyền,
trong bài viết: Văn học với nữ tánh ông đưa ra những luận giải vì sao nữ giới có
quan hệ với văn học. Ông cho rằng đàn bà có nhiều tính chất thích hợp với văn học
như trầm tĩnh, nhẫn nại, nhiều tình cảm,..vì thế đàn bà lấy những tính đó mà chuyên
theo nghề văn học thì dễ và mau chóng thành công hơn đàn ông. Văn học với nữ
tính có quan hệ, nữ tính choán hết mấy phần trong văn học. Ông đưa ra hai ý kiến.
Thứ nhất, phụ nữ là biểu hiện cho cái đẹp và những gì liên quan đến cái đẹp đều gắn
với họ, còn “cái đẹp là cái cốt của văn học” cho nên “văn học hay tả về đàn bà”; thứ
hai, phụ nữ vốn mang bản chất của nữ tính, sự mềm mại, yếu đuối, thiên về bộc lộ
đời sống tình cảm từ bên trong mà “văn học trọng đường tình cảm”, nên văn học
“nói chuyện đàn bà thì khiến cho người ta dễ cảm, cho nên nói về đàn bà nhiều
hơn” [57, tr.429].
Vậy, điều kiện nào để phụ nữ trở thành chủ thể sáng tạo? Trước hết phải là
học. “Người ta không phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ” (Beauvoir).
Những thuộc tính mà từ trước đến nay người ta vẫn áp đặt cho phụ nữ không phải là
cái vốn có, bản chất phụ nữ, mà do người đàn ông áp đặt cho phụ nữ thông qua văn
hóa, giáo dục. Mặt khác bản thân người phụ nữ cũng luôn cho rằng mình yếu kém
hơn đàn ông, mình là “thứ hai”. Nước ta từ xưa tới nay trọng nam khinh nữ, đàn bà
sinh ra chỉ là cái vật phụ thuộc vào đàn ông nên không cần học hành mà tự đàn bà

12


cũng nghĩ rằng không cần học làm gì, chỉ một mình đàn ông học cũng đủ [57,
tr.421]. Trong xã hội phụ quyền, phụ nữ học chỉ để phục vụ chồng con và những
người thân trong gia đình mà không được thi thố ngoài xã hội, bởi phụ nữ còn phải
tuân theo các quy tắc “Tam tòng”, “Tứ đức”. Quan niệm “phụ nhân nan hóa” ấn
định rất rõ ràng trong đời sống văn hóa, người phụ nữ luôn bị coi và tự coi là “phái
yếu. Chữ “tài”, chữ “trí” chỉ gắn liền với người quân tử, kẻ trượng phu. Phụ nữ bị
xếp chung hàng với hạng tiểu nhân. Họ không có quyền đi học hay tham gia thi cử,

Phạm Lam Anh, Lê Ngọc Hân, Trương Thị Trong, Nguyễn Trinh Thận, Nguyễn Thị
Hinh (Bà Huyện Thanh Quan), Nguyễn Tĩnh Hòa, Nguyễn Thị Nhược Bích,…đều
nói bằng ngôn ngữ của giới nam.
Thời kì 1945- 1975 dân tộc Việt Nam bước vào cuộc chiến đầy cam go, thử
thách với thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Cả dân tộc quyết liệt đấu tranh để chiến đấu
và chiến thắng kẻ thù. Văn học trở thành một thứ vũ khí tham gia trực tiếp vào hai
cuộc kháng chiến nhằm bảo về độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Giọng điệu
sử thi là âm hưởng chính của giai đoạn văn học này. Văn học hướng tới những sự
kiện lịch sử có tính cộng đồng dân tộc, nhân vật thường đại diện cho vẻ đẹp phẩm
chất của con người Việt Nam. Văn học động viên, kêu gọi, khích lệ mỗi cá nhân
phát huy vai trò của mình trong sự nghiệp chung của dân tộc. Trong văn xuôi của
nhiều tác giả, người phụ nữ được nhìn nhận như những anh hùng mang vẻ đẹp của
thời đại như: chị Sứ (Hòn đất - Anh Đức), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng Nguyễn Thi), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu), Phương Định
(Những ngôi xao xa xôi - Lê Minh Khuê),… Con người cá nhân nhường chỗ cho
con người cộng đồng. Hình tượng nhân vật được xây dựng trong văn học hầu hết là
những hình tượng phi giới tính. Vì vậy, trong diễn ngôn sử thi, người nữ được khai
thác ở khía cạnh xã hội, mà chưa chú ý nhiều đến những đặc trưng về giới.
Từ 1986, công cuộc Đổi mới đã đem lại nhiều chuyển biến lớn lao trên mọi
phương diện của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong bối cảnh tiếp xúc với
nhiều luồng tư tưởng mới, giao lưu văn hóa đa chiều của nền kinh tế thị trường,
công nghiệp hóa hiện đại hóa, thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin,…nâng cao
học vấn cũng là một thành tựu đáng được ghi nhận. Sự đổi mới toàn diện mọi mặt
từ chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,…tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học
đương thời. Văn học chuyển từ âm hưởng sử thi sang phản ánh cuộc sống thế sự.

14


Văn học quan tâm đến con người cá nhân, tới nhu cầu và khát vọng đời thường.
Hình tượng người nữ xưa nay được nhìn nhận, đánh giá dưới cái nhìn của nam

Chương 2
SỰ KIẾN TẠO HÌNH ẢNH GIỚI NỮ TRONG TÌNH YÊU
VÀ HÔN NHÂN
Chương này xem vị thế xã hội là một vấn đề quan trọng đối với người nữ, nhìn
nhận những tri thức về vị thế xã hội của người nữ là một thứ quyền lực, một cơ chế
kiếm soát, ràng buộc, định đoạt số phận của người nữ trong xã hội.
Sau khi chỉ ra vị thế xã hội của người nữ chẳng qua cũng là một sự kiến tạo về
mặt xã hội, luận văn đi sâu phân tích các hình thức kiến tạo và sự thực hành duy trì
các vai trò, nhiệm vụ, bổn phận,…. của người nữ trong tình yêu, hôn nhân.
2.1. Sự kiến tạo hình ảnh người nữ trong tình yêu
2.1.1.Trinh tiết như là phẩm giá của người nữ
Cho đến nay, diễn ngôn Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến nếp sống,
suy nghĩ, ngôn ngữ của người Việt. Trong phần lớn các cuộc tranh luận về chuẩn
mực, đạo đức, thì tiết hạnh của nữ giới vẫn được đề cao và trinh tiết của người nữ
vẫn được coi là thước đo để đánh giá nhân cách của họ. Xã hội không thể xóa bỏ bất
bình đẳng giới, phụ nữ sẽ không được đối xử công bằng nếu như vẫn quá coi trọng
và đề cao trinh tiết của họ.
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Trinh tiết là người con gái còn
tân, còn trong trắng, chưa chồng và người con gái đó phải giữ được lòng trọn vẹn
thủy chung với chồng” [103, tr.1036]. Xét theo khía cạnh đạo đức thì trinh tiết biểu
trưng cho sự trong trắng trong tâm hồn, đức hạnh trong tình yêu, người phụ nữ có
trinh tiết là người có ý thức tiết chế dục vọng giữ gì thân thể thuần khiết, chung thủy
với người bạn đời. Ở mỗi thời kỳ khác nhau cách giải thích, cách định nghĩa về trinh
tiết có sự thay đổi. Trinh tiết là một kiến tạo văn hóa, khái niệm này biểu hiện sự
kiểm soát của xã hội đối với (một phần) thân thể nữ.
Học giả Phan Khôi khẳng định: “Xưa nay trong đạo đàn bà, chữ trinh làm
trọng, chữ trinh cũng như những chữ đạo đức, nhân, nghĩa, đó là chữ ta hấp thụ
được từ văn hóa Tàu… Chữ trinh như một tín điều của một tôn giáo riêng dành cho
đàn bà…..” Dưới chế độ phụ hệ, con gái thuận Tam tòng, nếu mất trinh sẽ bị cha bỏ,


tạo nghĩa cho chữ trinh là: “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng”. Diễn ngôn này đã xác
định vị trí của chữ trinh đối với cuộc sống, cuộc đời người nữ, trinh giữ vai trò

17


làm nên giá trị đầy đủ của một phụ nữ. Trinh không chỉ là một chuẩn mực điểu
chỉnh hành vi của người nữ mà còn là một cơ sở để người nam định giá và lựa chọn
người nữ. Trong diễn ngôn văn học trung đại, việc người nam chọn vợ dựa vào tiêu
chuẩn chữ trinh khá phổ biến. Đối với nam giới, một người phụ nữ đoan trang, đứng
đắn, trong trắng là yêu cầu đầu tiên và mang tính chất quyết định khi chọn vợ.
“Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ có đoạn miêu tả: “Vũ Thị
Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính tình đã “thùy mị, nết na, lại thêm tư
dung tốt đẹp”. Trong làng có chàng Trương Sinh, “mến vì dung hạnh”, xin với mẹ
đem trăm lạng vàng cưới về” [33, tr.176]. Rõ ràng, theo mô tả của Nguyễn Dữ,
Trương Sinh đã thực hành diễn ngôn Nho giáo, chọn Vũ nương vì “hạnh”. Tiết hạnh
ở đây chính là một thứ đảm bảo cho người phụ nữ được lựa chọn, là thước đo phẩm
chất đạo đức, đồng thời là một thử thách đối với người nữ. Trương Sinh trong
“Người con gái Nam Xương” không chỉ là người đề cao đức hạnh của Vũ nương mà
còn là người phát xét tiết hạnh của nhân vật này trong một tình huống thử thách
khác: xa chồng. Cái chết và sự minh oan của Vũ nương trong tác phẩm của Nguyễn
Dữ xoay quanh chủ đề: tiết hạnh. Trương Sinh biến tiết hạnh thành một thứ đạo đức
khắt khe, nghiệt ngã, thành sức mạnh vô hình trói buộc người phụ nữ và dồn người
nữ đến cái chết khi họ bị coi là thất tiết. Nam giới là người làm chủ diễn ngôn đạo
đức, giành được thẩm quyền xét duyệt phẩm chất tiết hạnh và định đoạt giá trị đời
sống của người nữ. Bởi thế lời nói của Vũ Nương không có giá trị. Cho dù Vũ
Nương gắng sức phân trần: “cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”, “điều đâu bay buộc
chịu tiếng nhuốc nhơ”, thậm chí thề thốt: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch
gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược
bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm

của người nữ trước tình trạng bị cưỡng đoạt trinh tiết, thái độ đấu tranh để đạp đổ
quan niệm trinh tiết trong tư tưởng nam quyền. Đồng thời các nhà văn cũng thể hiện
cái nhìn cởi mở về sự đánh giá phẩm tiết của người phụ nữ.
Người nữ của Nguyễn Thị Thu Huệ vẫn chịu ảnh hưởng và giam mình trong
diễn ngôn đạo đức truyền thống, chữ trinh vẫn đáng giá ngàn vàng. Bởi thế, một cô
gái còn trinh nhận thấy cái giá trị đích thực của bản thân mình dù cô thiếu thốn mọi
thứ vật chất khác: “Tôi không nghĩ rằng có người muốn lấy tôi. Tôi. Một đứa con

19


gái trinh tiết nhưng thiếu thốn tất cả mọi thứ chứ không như các cô gái may mắn
khác là có tất cả mọi thứ nhưng lại mất trinh.” [53, tr.268].
Trong “Giới nữ”, khi xác định các huyền thoại về nữ giới, Beauvoir khẳng
định, “Đàn ông mong đợi một điều gì khác ngoài ham muốn thỏa mãn dục tính bản
năng khi sở hữu một người phụ nữ”. Theo nghĩa này, trinh tiết được kiến tạo không
chỉ như một phương tiện đáp ứng nhu cầu nam giới, mà việc cưỡng đoạt trinh tiết
của một người nữ còn cấp cho anh ta bằng chứng của khả năng chinh phục tự nhiên.
Trong hệ huyền thoại ấy, việc lấy đi trinh tiết của người nữ là biểu tượng của sức
mạnh và lòng can đảm. Trinh tiết có giá trị bởi nó ghi dấu sự thống trị của người
đàn ông lên thân thể nữ. Không những thế, nó quyết định sự sở hữu độc quyền, bởi
“cách chắc chắn nhất để khẳng định điều gì thuộc về mình là không để bất kì kẻ nào
khác chiếm dụng nó [173, tr.225]. Người đàn ông cho rằng thân thể phụ nữ phải có
tính chất bất động và thụ động của một đồ vật vì họ sinh ra là để đươc chiếm đoạt.
Nhưng bị cưỡng đoạt trinh tiết trở thành nỗi đau đớn, sợ hãi ám ảnh cả cuộc đời
người nữ bởi mất trinh đồng nghĩa với việc “không có phẩm tiết”, là vết nhơ đạo
đức:
“Năm Tho 11 tuổi, đi học về ngang qua nhà ông Đạo. Ông gọi Tho vào nhà,
đóng cửa hiếp dâm xong, cấm Tho kể cho người khác nghe và dạy Tho nói dối cha
mẹ. Tho về nhà, như đứa câm đứa khờ, tự bản thân cũng không biết chuyện gì đã

bảo hạnh phúc gia đình: “Anh yêu em nhưng anh không thể hôn em. Chẳng để làm
gì khi xảy ra chuyện đó. Rồi mình sẽ ân hận. Em còn lấy chồng, em phải giữ nguyên
vẹn trinh tiết cho chồng em. Đó là bảo bối của em trong cuộc sống vợ chồng. Anh
yêu em và thèm muốn em nhưng em bé tý và tội nghiệp lắm…” [53, tr.280].
Một biểu hiện khác của việc đề cao trinh tiết là ca ngợi sự dâng hiến trọn vẹn
thân thể của người nữ. Nếu như mất trinh trở thành nỗi đau, nỗi ám ảnh nặng nề của
phụ nữ thì khoảnh khắc hiến dâng hiến trinh tiết thân thể cho chồng là một niềm
vui, niềm hạnh phúc, tự hào của người phụ nữ trước chồng, bởi nó là một thứ “bảo
hiểm suốt đời” cho cuộc hôn nhân của họ. Người nữ trong sác tác của Y Ban đắm
chìm trong cảm xúc đê mê hòa trộn thân thể với chồng: “Không còn vướng nữa,
một cái gì đó đã thông qua nhưng rất đau. Để anh xem, ôi máu, em chảy máu. Xuân
nhổm dậy, một vài giọt máu vương trên đá. Xuân nhìn mặt Tuấn đang nghệt ra sợ

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status