Vai trò của tài chính vi mô trong xóa đói giảm nghèo tại malaysia và bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-----o0o-----

LUẬN VĂN THẠC SĨ

VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI MALAYSIA
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

TRẦN THỊ HƯƠNG GIANG

Hà Nội, năm 2017
1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-----o0o-----

LUẬN VĂN THẠC SĨ

VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI MALAYSIA
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Ngành: Kinh tế học
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60310106

Từ viết tắt
ADB
AGRIBAN
K
AIM
APO
BMI
BPR
CEP
CGAP
CIA
CIS
HES
HPI
ICP
IPL
MDGs
MPI
NDP
NEP
NHCSXH
NVP
OPHI
PL
PPP
RM
SPKR

Tiếng Anh
Asian Development Bank

Ringgit Malaysia
Skem Pembangunan
Kesejahteraan Rakyat

Tiếng Việt
Ngân hàng phát triển Châu Á
Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam
Tổ chức Năng suất Châu Á
Chỉ số cơ thể
Ngân hàng Nhân dân
Quỹ Trợ vốn dành cho Việc
làm của người nghèo
Nhóm Tư vấn hỗ trợ người
nghèo
Cục Tình báo Trung ương
Cộng đồng các quốc gia độc
lập
Khảo sát chi tiêu hộ gia đình
Chỉ số nghèo đói
Chương trình so sánh quốc tế
Ngưỡng nghèo quốc tế
Mục tiêu Thiên niên kỷ
Chỉ số nghèo đói đa chiều
Chính sách Phát triển Quốc gia
Chính sách Kinh tế mới
Ngân hàng chính sách xã hội
Tầm nhìn Quốc gia
Sáng kiến Phát triển con người
và Nghèo đói Oxford

Yayasan Usaha Maju

Tài chính vi mô
Tín dụng nhân dân
Quỹ Kinh tế dành cho các
nhóm Doanh nghiệp quốc gia
Quỹ tình thương
Liên hợp quốc
Chương trình Phát triển Liên
hợp quốc
Tổ chức Văn hoá và Khoa học
Giáo dục Liên hợp Quốc
Nhóm công tác Tài chính vi mô
Việt Nam
Ngân hàng thế giới


TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Nghèo đói là một vấn đề đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, với
nhiều khái niệm khác nhau, có sự phát triển theo thời gian. Nhìn chung, nghèo đói
là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện, thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội
tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị
tổn thương trước những biến động bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và
những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá
trình ra quyết định, cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng. Nghèo
đói được chia thành Nghèo đói tuyệt đối (Absolute poverty) và Nghèo đói tương đối
(Relative Poverty). Ngưỡng nghèo là chi phí của một gói hàng hóa tương ứng với
phần thỏa dụng bị thiếu của người nghèo.
Nghèo đói có nhiều biểu hiện khác nhau, bao gồm thiếu thu nhập và nguồn
lực sản xuất đủ để đảm bảo sinh kế bền vững; đói và suy dinh dưỡng; sức khỏe

năm 1985, Yayasan Usaha Maju (YUM) ra đời năm 1995, và Quỹ kinh tế cho
Nhóm Doanh nhân Quốc gia (Economic Fund for National Entrepreneurs Group,
viết tắt là TEKUN) triển khai từ năm 1998. AIM là một tổ chức phi chính phủ trong
khi YUM và TEKUN được điều hành bởi Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp Chế
biến Malaysia (Ministry of Agriculture and Agro-based Industry Malaysia). Ba tổ
chức này chỉ cung cấp các khoản vay tín dụng vi mô mà không có các sản phẩm tài
chính vi mô khác như tiết kiệm hay bảo hiểm bởi lẽ nhận tiền gửi dưới bất cứ hình
thức nào là trái luật tại nước. Ngoài ra, các khoản vay ở đây cũng được trợ cấp và
không tính lãi suất, do quy định của luật Hồi giáo Shari’a. Đã có rất nhiều nghiên
cứu và minh chứng cho thấy đóng góp tích cực của các chương trình này trong việc
xóa đói giảm nghèo tại Malaysia bằng cách cung cấp vốn vay cho những khách
hàng nghèo khổ nhất. Bên cạnh đó, có khảo sát cho thấy các hoạt động tài chính vi
mô giúp tạo lập hoạt động kinh doanh bền vững hơn; tạo thêm nguồn thu nhập
khác, từ đó gián tiếp làm giảm khả năng tổn thương trước biến động bên ngoài của
người nghèo; đồng thời, có bằng chứng về việc tăng đầu tư vào giáo dục và sức
khỏe trẻ em. Dĩ nhiên, các thành tựu này được hỗ trợ rất lớn từ các chính sách,
chiến lược quốc gia khác của nước này.
Tại Việt Nam, nghèo đói và xóa đói giảm nghèo cũng là vấn đề dành được
rất nhiều sự quan tâm của Chính phủ. Dựa trên tính toán của World Bank căn cứ


vào ngưỡng nghèo quốc tế, khoảng cách nghèo của Malaysia luôn thấp hơn Việt
Nam nhiều, tình trạng bất bình đẳng về thu nhập ở Việt Nam mặc dù không nghiêm
trọng như tại Malaysia nhưng qua thời gian không có dấu hiệu được cải thiện mà
thậm chí dần tăng thêm. Nhìn chung qua thời gian, mức độ nghiêm trọng của nghèo
đói ở Việt Nam có giảm nhưng vẫn nằm trong ngưỡng nghèo đói đa chiều trung
bình.
Các hoạt động tài chính vi mô đầu tiên được triển khai tại Việt Nam muộn
hơn so với Malaysia một vài năm, cũng bắt đầu từ việc cung cấp các khoản vay nhỏ
(tín dụng vi mô) cho các hộ gia đình nghèo. Khung pháp lý cho hoạt động tài chính

giảm nghèo đói ở Malaysia được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu và học
tập.Các nhà khoa học Malaysia và quốc tế đã chỉ ra rằng một trong những nhân tố quan
trọng quyết định thành công trong quá trình xóa đói giảm nghèo tại đây chính là dịch
vụ tài chính vi mô dành cho người nghèo. Hai nhà nghiên cứu Norhaziah Nawai và
Mohamed SharifBashir năm 2006 đã phân tích vai trò của chương trình Amanah Iktiar
Malaysia (AIM) - chương trình tín dụng vi mô lớn nhất tiến hành tại Malaysia trong
xóa đói giảm nghèo và đánh giá tác động cụ thểởcác khu vực nông thôn được lựa
chọn.Sau đó, vào năm 2014, các nhà nghiên cứu Sayed Samer Ali Al-Shami, Izaidin
Bin Abdul Majid, Mohd Syaiful Rizal Bin Abdul Hamid và Nurulizwa Abdul Rashid
bổ sung thêm báo cáo và phân tích thông tin từ chính sách của một chương trình tài
chính vi mô khác là TEKUN tại Malaysia.
Không chỉ Malaysia, thực tế ở nhiều nước cũng cho thấy tài chính vi mô là biện
pháp hiệu quảđể thực hiện xóa đói giảm nghèo, ví dụ như mô hình ngân hàng Grameen
Bank (Bangladesh), nhóm tự quản SHG (Ấn Độ), ngân hàng Bank Rkyat Indonesia.
Tại Việt Nam, chúng ta cũng đã triển khai nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy mô hình tài
chính vi mô để hỗ trợ cho công cuộc xóa đói giảm nghèo; tuy nhiên các nỗ lực này
chưa mang lại hiệu quả thật sự nổi trội. Đáng chú ý là trong các báo cáo của Nhóm
công tác tài chính vi mô Việt Nam hàng năm, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp và đánh
giá thực trạng của tài chính vi mô Việt Nam qua gần ba thập kỷ hình thành, phát triển
và cho thấy mặc dù có nhiều diễn biến tích cực nhưng lĩnh vực này ở nước ta còn chưa
đóng góp được như kỳ vọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Từ đó, một vấn đề


13

quan trọng được đặt ra đối với các nhà nghiên cứu khoa học cũng như các nhà hoạch
định chính sách, đó là chúng ta có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm thành công của
nước bạn để áp dụng cho Việt Nam. Đây cũng là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Vai trò
của tài chính vi mô trong xóa đói giảm nghèo tại Malaysia và bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế quốc tế.

phương pháp đo lường nghèo đói quốc tế mới - Chỉ số nghèo đói đa chiều (MPI) và
được sử dụng cho các Báo cáo Phát triển Con người của Chương trình Phát triển Liên
hợp quốc kể từ sau năm 2010.
United Nations High Commissioner for Human Rights,Principles and
Guidelines for a Human Rights Approach to Poverty Reduction Strategies, 2012 [87]
đã bổ sung phương pháp tiếp cận đối với phát triển và giảm nghèo khi nhìn nhận nghèo
đói không chỉ dưới góc độ thu nhập, mà về cơ bản là vấn đề sống một cách có phẩm
giá và được hưởng các quyền cơ bản và tự do, các năng lực, sự lựa chọn, an ninh và
quyền lực cần thiết để đạt được một mức sống thích hợp và tham gia vào đời sống kinh
tế, xã hội.
Martin Ravallion đưa ra định nghĩa và cách xác định ngưỡng nghèo trong hai ấn
phẩm của Ngân hàng thế giới là Poverty Line in Theory & Practice, World Bank, 1998
[55] và Poverty Lines across the World, World Bank, 2010 [54].
Jonathan Morduch, Barbara Haley, Analysis of the Effects of Microfinance on
Poverty Reduction, 2002. NYU Wagner Working Paper No. 1014 [49] phân tích về các
tác động tích cực của tài chính vi mô tới kết quả giảm nghèo chung của toàn xã hội, đặc
biệt khả năng tiếp cận những đối tượng nghèo đói nhất trong cộng đồng của các hoạt
động cho vay quy mô nhỏ này. Các phân tích mới chỉ dừng lại ở nhận định và lý
thuyết, đồng thời tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đó; chưa có sự kiểm chứng rõ
ràng qua thời gian hay tại một tổ chức tài chính vi mô thực tế nào ở một quốc gia bất
kỳ.
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Finance for the Poor: Microfinance
Development Strategy, 2000 [28] đã phân tích thực trạng những người nghèo không thể
hoặc có thể không tiếp cận được với các dịch vụ tài chính vi mô; trên cơ sở đó đề ra
chiến lược hỗ trợ của ADB đối với các nước đang phát triển để mở rộng phạm vi tác
động của các tổ chức tài chính vi mô và tăng hiệu quả đối với xóa đói giảm nghèo.
James C. Brau và Gary M. Woller, Microfinance: A Comprehensive Review of
the Existing Literature, 2004 [45] đã tổng hợp về các lý thuyết nghiên cứu tài chính vi
mô, tuy nhiên phần lớn nội dung tập trung liên quan đến lĩnh vực tài chính, mà chưa
nhắc tới nhiều tác động tới xóa đói giảm nghèo.

việc điều tra thực nghiệm đã được triển khai dựa trên câu hỏi khảo sát tại các khu vực
này. Đây có thể coi là bằng chứng cho thấy tài chính vi mô thực sự là một công cụ hữu
hiệu để xóa đói giảm nghèo, đặc biệt tại đất nước Malaysia. Dựa trên các kết quả từ


16

báo cáo nghiên cứu này, ta có thể rút ra một số gợi ý về mặt chính sách của chính phủ
trong việc thúc đẩy tín dụng vi mô phát triển.
Norma Md Saad, Jarita Ouasa, An Economic Impact Assessment of a
Microcredit program in Malaysia: the case of Amanah Ikhtiar Malaysia (AIM), Dubai,
2009 [57] tiếp tục phân tích những đóng góp của AIM trong xóa đói giảm nghèo tại
Malaysia, bổ sung số liệu và dẫn chứng trong ba năm từ 2007 đến 2009.
Abdullah Al Mamun, C. A. Malarvizhi, Sayed Hossain, Sazali Abdul Wahab,
Examining the effect of participation in microcredit programs on assets owned by
hardcore poor households in Malaysia, 2011 [24] phân tích các tác động của chương
trình tín dụng vi mô đối với việc tăng tài sản sở hữu, từ đó giúp những người nghèo
cùng cực ở Malaysia giảm nghèo và thoát nghèo.
Al-Shami, Sayed, Samer, Ali, Izaidin Bin Adbul Majid, Nurulizwa Abdul
Rashid, & Mohd Syaiful Rizal Bin Abdul Hamid, Conceptual framework: The role of
microfinance on the wellbeing of poor people cases studies from Malaysia and Yemen.
Asian Social Science 10(1), 230–42, 2013 [27] thông qua trường hợp tại Malaysia và
Yemen để phân tích vai trò của tài chính vi mô trong việc tăng phúc lợi của người
nghèo.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều phân tích đánh giá về hoạt
động tài chính vi mô cho người nghèo tại Malaysia như: David A. Lucock, Banking on
the Rural Poor in Malaysia. Project Ikhtiar, 1990 [33];
Nhóm tác giả Sayed Samer Ali Al-Shami, Izaidin Bin Abdul Majid, Mohd
Syaiful Rizal Bin Abdul Hamid and Nurulizwa Abdul Rashid, The Impact of
Microfinance on Poverty Reduction: Empirical Evidence from Malaysian Perspective,

chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2014 và Nghị quyết số 621/NQUBTVQH13 ngày 22/7/2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Báo cáo là bản liệt kê
tương đối đầy đủ các nghiên cứu về nội dung xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam.
Đào Tấn Nguyễn, Giải pháp tín dụng góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo
của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, 2004 [11] đã phân tích thực trạng hoạt
động tín dụng cho vay hộ nghèo của ngân hàng phục vụ người nghèo trong thời gian
bảy năm từ 1996 đến 2002. Luận án phân tích trên góc độ về chính sách vay, chế độ lãi
suất cho vay, chủ yếu dựa trên kiến thức về tài chính; và từ đó rút ra một số bài học
kinh nghiệm ban đầu về tín dụng cho người nghèo, ý thức tiết kiệm và hỗ trợ lẫn nhau
giữa phụ nữ nghèo.


18

PGS. TS. Nguyễn Kim Anh, PGS. TS. Ngô Văn Thứ, TS. Lê Thanh Tâm, ThS.
Nguyễn Thị Tuyết Mai, Tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam – Kiểm định và
so sánh, NXB Thống kê, Hà Nội, 2011 [1] tập trung cung cấp thông tin về hoạt động
tài chính vi mô Việt Nam, đặc biệt, thông qua các kết quả kiểm định và so sánh, nghiên
cứu khẳng định một lần nữa tác động tích cực của tài chính vi mô đến giảm nghèo ở
nước ta. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc kiểm chứng trong phạm vi giới
hạn của mẫu nghiên cứu tại Việt Nam, mà chưa có sự đối chiếu và học tập kinh nghiệm
từ quốc tế.
Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam đã thực hiện nhiều báo cáo, bao gồm:
Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam: thực trạng và một số kiến
nghị, Hà Nội, 2013 [13]; Báo cáo hoạt động năm 2014: 10 năm - Một chặng đường,
Hà Nội,2014 [12]; Tài chính vi mô tại Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị chính
sách,2014 [14]. Các báo cáo đã thể hiện thực trạng của tài chính vi mô Việt Nam qua
gần 3 thập kỷ hình thành và phát triển. Hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam còn
chậm phát triển, chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của các cơ quan quản lý Nhà
nước, Chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức đoàn
thể, các nhà đầu tư, nhà tài trợ và các bên liên quan. Đáng chú ý là hành lang pháp lý


nghèo;
Phân tích thực trạng phát triển tài chính vi mô và tác động đối với nghèo đói và xóa đói

giảm nghèo tại Việt Nam;
• Đề xuất một số xuất một số kiến nghị chính sách và giải pháp nhằm tiếp tục phát triển
tài chính vi mô gắn với xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm cơ sở lý luận về nghèo đói, tài
chính vi mô và tác động của tài chính vi mô trong xóa đói giảm nghèo; kinh nghiệm
thành công tại Malaysia và thực trạng, hạn chế cũng như đề xuất định hướng để cải
thiện hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn như sau:


Về mặt nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu tổng quát bức tranh nghèo đói; các
sản phẩm, dịch vụ của tài chính vi mô và kết quả tác động tới đối tượng khách hàng
nghèo đói. Tại Malaysia, tác giả chỉ đề cập chủ yếu đến chương trình Amanah Iktiar
Malaysia (AIM), và điểm qua dự án Ikhtiar, Chương trình Yayasan Usaha Maju

(YUM), Quỹ kinh tế cho Nhóm Doanh nhân Quốc gia (TEKUN).
• Về mặt không gian: luận văn nghiên cứu tình hình nghèo đói, thực trạng và tác động


của tài chính vi mô tại lãnh thổ hai quốc gia Malaysia và Việt Nam.
Về mặt thời gian: luận văn phân tích các số liệu của Malaysia trong giai đoạn từ năm
1999 đến năm 2014; và Việt Nam giai đoạn từ 1992 đến 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, trong phạm vi thời gian hữu hạn tác giả đã sử
dụng kết hợp các phương pháp phân tích, thu thập thông tin, tài liệu, số liệu từ các

ý kiến cũng như hỗ trợ tìm kiếm thông tin trong quá trình tác giả thu thập số liệu, tài
liệu để thực hiện luận văn này.
Trần Thị Hương Giang
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1.

Giới thiệu chung về Nghèo đói


21

1.1.1. Khái niệm Nghèo đói và Ngưỡng nghèo
a. Định nghĩa Nghèo đói

Các vấn đề về nghèo đói đã được nghiên cứu từ rất lâu và ngay trong những
tài liệu đầu tiên, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như tại mỗi quốc gia đều cố
gắng để đưa ra một định nghĩa về tình trạng này.
Theo định nghĩa của Ủy ban kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
(Economic and Social Commission for Asia and the Pacific)trong Hội nghị về
chống nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tháng 9 năm 1993 tại Bangkok,
Thái Lan thì, “nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa
mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấyphụ thuộc trình độ
phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy
được xã hội thừa nhận.
Trong báo cáo của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức
tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đưa ra một mô tả khác về Nghèo đói như sau:
Nghèo đói có biểu hiện khác nhau, bao gồm thiếu thu nhập và nguồn lực sản xuất
đủ để đảm bảo sinh kế bền vững; đói và suy dinh dưỡng; sức khỏe kém; hạn chế
hoặc thiếu tiếp cận với giáo dục và các dịch vụ cơ bản khác; tăng tỷ lệ mắc bệnh và
tử vong do bệnh tật; vô gia cư và nhà ở không đầy đủ; môi trường không an toàn;

này cho thấy rằng nghèo là khái niệm động thay đổi theo không gian và thời gian,
cũng như theo trình độ học vấn và truyền thống. Đây là cách tiếp cận nghèo đói tập
trung vào phúc lợi của tỷ lệ số dân nghèo nhất, có tính đến mức phân phối phúc lợi
của toàn xã hội. Khái niệm nghèo tương đối phát triển theo thời gian, tùy thuộc vào
mức sống của xã hội. Chuẩn mực để xem xét nghèo tương đối cũng thường khác
nhau giữa các nước, các quốc gia, hoặc các vùng lãnh thổ. Có thể khẳng định rằng
nghèo tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế xã hội nào.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “nghèo đói” được
định nghĩa trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 (Vietnam Development
Report), “nghèo đói là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện, thu nhập hạn
chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những
lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng
truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít


23

được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị xỉ nhục, không được người
khác tôn trọng v.v.”
b. Ngưỡng nghèo

Dù có cách nhìn nhận như thế nào về Nghèo đói thì việc xác định được đâu
là ranh giới một người được xếp vào nhóm nghèo đói và không nghèo đói cũng rất
quan trọng, bởi từ đó các nhà nghiên cứu mới có thể có được số liệu để nghiên cứu
và đề ra chính sách cũng như đánh giá hiệu quả chính sách. Từ đó, các tổ chức và
các nhà nghiên cứu về vấn đề này cố gắng xây dựng ngưỡng nghèo, chuẩn nghèo
hay mức nghèo (Poverty Line, viết tắt PL) dưới đây được gọi chung là “ngưỡng
nghèo”. Hiện nay ngưỡng nghèo trên phạm vitoàn cầu được sử dụng dựa trên
ngưỡng nghèo quốc tế (International Poverty Line, viết tắt là IPL) do Ngân hàng
quốc tế (World Bank, viết tắt là WB) đưa ra và cập nhật. Mỗi quốc gia cũng có thể

website chính thức của mình, WB cũng đặt ra một ngưỡng nghèo vừa phải ở mức
3,10 USD một ngày (PPP 2011).

Hình 1.1 – Ngưỡng nghèo quốc tế của WB qua thời gian
Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo Phát triển Thế giới về Nghèo đóicủa WB
1.1.2. Đặc điểm của Nghèo đói

Trong thực tế có nhiều ý kiến xung quanh việc xác định đặc điểm của người
nghèo. Theo Ủy ban Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (United Nations, viết
tắt là UN) xác định tại phiên họp thứ 3 tháng 4 năm 1995, “các đặc điểm kinh tế
chung chủ yếu của người nghèo là họ thiếu tư liệu sản xuất, hoặc là vốn vật chất
hoặc vốn nhân lực. Tại các khu vực nông thôn, nơi tập trung chủ yếu người nghèo ở
hầu hết các nước đang phát triển, ngoại trừ Mỹ Latin, họ là những người nông dân,
người dân du mục, ngư dân, người chăn gia súc và người sống trong rừng, không
biết chữ, không có đất hoặc gần như không có đất, họ chỉ có thu nhập từ việc làm
nông nghiệp theo mùa hoặc từ những vùng đất biên và rừng hay từ thu nhập thấp
của công việc phi nông nghiệp. Tại các khu vực thành thị, họ là những người không
có tay nghề, không được học hành, thiếu vốn vật chất, những người sống phụ thuộc
vào những công việc không chính thức có mức lương thấp và là lớp dưới cùng trong
lĩnh vực dịch vụ, không có sự hỗ trợ của Chính phủ, hoặc những người nhặt rác vật
liệu từ các bãi rác hay đường phố.” “Cho dù ở nông thôn hay thành thị, những


25

người sống trong nghèo đói thường bị suy dinh dưỡng, ngay cả khi đã dành phần
lớn thu nhập cho thực phẩm. Con cái của họ nói chung có trọng lượng dưới trung
bình so với tuổi và vì chịu sự suy giảm về phát triển tinh thần và thể chất mà dẫn tới
nguy cơ không có việc làm khi lớn lên. Bệnh tật dễ đến với người nghèo và làm tiêu
hao năng lượng sản xuất của họ, làm giảm thu nhập của gia đình và ngăn trẻ em


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status