BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y
DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH CÔNG THANH
GIÁ TRỊ CỦA THỬ NGHIỆM PHÁT HIỆN KHÁNG NGUYÊN
NS1 VÀ CÁC YẾU TỐ DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, HUYẾT HỌC VÀ
SINH HÓA TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ TIÊN LƯỢNG SỚM
SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE NẶNG Ở TRẺ EM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết dengue (SXHD) là bệnh nhiễm siêu vi do muỗi lây truyền
có tốc độ lan nhanh nhất trên thế giới. Trong hơn 50 năm qua, tần suất mới mắc
tăng lên gấp 30 lần với sự mở rộng vùng địa lý sang những quốc gia mới, từ
thành thị đến nông thôn. Ở những vùng có dịch, SXHD là một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây nhập viện và tử vong ở trẻ em. Ước tính trên toàn thế
giới, có trên 3 tỉ người sống trong vùng dịch tễ dengue trên hơn 100 quốc gia,
hằng năm có khoảng 100 triệu trường hợp bệnh có biểu hiện lâm sàng, khoảng
2% đến 5% trong số đó là nặng [124].
SXHD là một bệnh hệ thống và “động”, với diễn tiến bệnh và kết cuộc khó
đoán trước. Biểu hiện có thể từ không triệu chứng đến sốc, xuất huyết nặng có
tiên được sử dụng ngày càng nhiều là xét nghiệm phát hiện kháng nguyên NS1
của vi rút dengue (DENV). Tuy nhiên, giá trị chẩn đoán của xét nghiệm này thay
đổi qua nhiều nghiên cứu thực hiện tại nhiều nơi [49],[104],[114], chúng tôi
muốn đánh giá lại giá trị của xét nghiệm nhanh NS1 trên dân số trẻ em Tiền
Giang.
Đối với dân số không tiếp cận được với xét nghiệm nhanh NS1 cũng như
những phương tiện xét nghiệm đắt tiền khác cần có những chỉ tố lâm sàng
và/hoặc cận lâm sàng đơn giản và sớm nhằm đưa ra một chẩn đoán đáng tin cậy
cho những trường hợp SXHD ưu tiên nhập viện. Trong khi chờ đợi một xét
nghiệm chẩn đoán SXHD sớm nhanh, nhạy và giá thành rẻ được phổ biến rộng
rãi thì rất cần các mô hình chẩn đoán sớm.
Song song đó, SXHD là một bệnh biểu hiện lâm sàng phức tạp, có thể diễn
tiến nặng dẫn đến tử vong. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 2009 đã đưa
ra các dấu hiện cảnh báo các trường hợp có thể diễn tiến nặng, tuy nhiên những
dấu hiệu và triệu chứng này thường xuất hiện sau 72 giờ. Do đó, việc nhận diện
nhóm bệnh nhân nguy cơ bị SXHD nặng trong giai đoạn sớm trước 72 giờ sẽ
giúp các bác sĩ cho nhập viện và theo dõi sát phát hiện sớm biến chứng nặng để
điều trị kịp thời. Ngoài ra, nó sẽ gợi ý cho việc nhắm đến những chiến lược tiêm
ngừa và những thử nghiệm lâm sàng can thiệp điều trị trong tương lai.
4
Vì những lý do trên, chúng tôi đặt ra câu hỏi nghiên cứu giá trị của thử
nghiệm phát hiện kháng nguyên NS1 trong chẩn đoán sớm SXHD tại Tiền Giang
là như thế nào và vai trò của các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết học và sinh hóa
trong chẩn đoán sớm SXHD từ đó xây dựng mô hình chẩn đoán sớm SXHD
cũng như vai trò của các yếu tố này trong tiên lượng sớm SXHD nặng ở trẻ em
ra sao? Từ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Giá trị của thử nghiệm phát hiện
kháng nguyên NS1 và các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết học và sinh hóa trong
người đã chăm sóc cho những bệnh nhân trong suốt trận dịch năm 1780 tại
Philadelphia viết [176].
Tên gọi “sốt gãy xương” dành cho dengue được cho là tên gọi phổ biến
nhất cho bệnh này trong trận dịch đầu tiên được mô tả về một căn bệnh có
lâm sàng tương đồng với dengue tại Philadelphia vào năm 1780 [175]. Những
trận dịch này được phỏng đoán có nguyên nhân là do dengue dựa vào bệnh
cảnh lâm sàng và dịch tễ hay gặp ở Bắc Mỹ trong suốt thế kỷ 18 và 19.
DENV gần như chắc chắn là nguyên nhân của bệnh sốt 5 đến 7 ngày gây ra ở
những thực dân Châu Âu tại Châu Á nhiệt đới trong suốt giai đoạn này. Căn
bệnh tương tự cũng xảy ra ở những thực dân tại Châu Úc nhiệt đới.
Vào năm 1801, nữ hoàng Tây Ban Nha đã dùng thuật ngữ “dengue” để
mô tả căn bệnh sốt cấp xảy ra ở các thành viên trong triều đình Tây Ban Nha
với các triệu chứng đau nhức xương khớp, xuất huyết và vàng da [175]. Trận
dịch lớn ở Caribe năm 1828, xảy ra ở một cộng đồng đa chủng tộc, đa ngôn
ngữ đã giúp quốc tế hóa việc sử dụng thuật ngữ “dengue” cho căn bệnh này
và dùng trong y văn liên tục đến ngày nay.
Sự phát hiện tác nhân và nhận diện vật truyền bệnh [162]
Các nhà nghiên cứu đã sớm có gợi ý rằng DENV được truyền qua muỗi,
nhưng đến năm 1906, sự truyền bệnh thật sự do một vật truyền bệnh thật sự,
muỗi Aedes aegypti, mới được Bancroft chứng minh. Simmons cũng chứng
minh vai trò của Aedes albopictus trong việc lây truyền DENV. Sau đó, một
số loài Aedes khác cũng thấy có vai trò lây lan bệnh.
Kimura and Hotta là những người đầu tiên phân lập được DENV từ mẫu
máu của những bệnh nhân trong trận dịch dengue tại Nagasaki, Nhật Bản năm
1943 và từ đó đã mở ra kỷ nguyên mới cho các nghiên cứu về dengue [162].
Trong các trận dịch dengue từ năm 1897 đến 1902 ở Úc, năm 1928 ở Hy Lạp
và năm 1931 ở Đài Loan, người ta đã mô tả một hội chứng nặng đặc trưng với
sốc, xuất huyết và tử vong. Đến năm 1960, trong khi nghiên cứu về bệnh bại
tình hình dịch đã giảm, trung bình mỗi năm ghi nhận khoảng 50.000 đến
100.000 trường hợp mắc, gần 100 trường hợp tử vong. Tuy nhiên, theo
TCYTTG, so với tình hình chung của thế giới trong giai đoạn 2004-2010,
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 3 về số ca mắc SXHD trung bình mỗi năm
[66].
Trong những năm gần đây, bệnh sốt xuất huyết đã giảm, có tỉ lệ mắc
trên/100.000 dân là 56,7, thấp hơn so với một số nước và tỉ lệ phần trăm tử
vong/ mắc (0,029) thấp nhất so với các quốc gia trong khu vực. Trong 7 tháng
đầu năm 2017 ghi nhận 58.888 trường hợp mắc, trong đó có 50.497 trường
hợp nhập viện và 17 trường hợp tử vong [3].
Tại Tiền Giang, kể từ trận dịch đầu tiên vào năm 1960 xuất hiện ở Cái
Bè được mô tả và xác định, SXHD đã phát thành dịch lớn vào các năm 1979,
1983, 1987, 1988. Theo số liệu Hội nghị giao ban Công tác điều trị SXHD
khu vực phía Nam, trong năm 2017 Tiền Giang không còn nằm trong 10 tỉnh
có số trường hợp mắc SXHD cao nhất cả nước nhưng lại là một trong 12 tỉnh
có số tử vong cao nhất (2 trường hợp) [2]. Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùng
khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long có
khí hậu với nhiệt độ cao ổn định (nhiệt độ trung bình 26,90C), lượng mưa
(lượng mưa trung bình 1450 mm) và độ ẩm (83%) thích hợp để muỗi sống
sót, sinh sản và phát triển. Song song đó, tình trạng đô thị hóa diễn ra nhanh,
mật độ cân cư khá đông cùng với tập quán sinh hoạt của người dân đã tạo
điều kiện thuận lợi cho bệnh SXHD lây lan và diễn ra quanh năm.
1.2. XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN SXHD
1.2.1. DENV:
Vi rút gây bệnh SXHD thuộc họ Flaviviridae, giống flavivirut. DENV
cấu tạo bởi một ARN sợi đơn cực dương, khoảng 11.000 nucleotide, nằm
trong lõi capsid hình khối hai mươi mặt, đường kính 30 nm, bên ngoài là vỏ
lipo-protein tạo thành khối cầu (đường kính 50 nm). Các protein cấu trúc lõi
tả các thời điểm phát hiện DENV và các kháng thể IgM, IgG thông thường
trong sơ nhiễm.
1
2
3
4
5
6
7
8
9
14 ngày
Nhiều năm
3 tháng
Phát hiện IgG
Phân lập vi rút
Khởi triệu chứng
nhiễm DENV lần 2 được sử dụng để xác định đáp ứng huyết thanh học đối
với nhiễm DENV. Loại kháng thể chiếm ưu thế là IgG phát hiện với mức cao,
ngay cả trong giai đoạn cấp và tồn tại từ 10 tháng cho đến suốt đời. Mức IgM
ở giai đoạn hồi phục sớm trong tái nhiễm dengue thấp hơn so với sơ nhiễm và
có thể không phát hiện được trong một số trường hợp. Để phân biệt sơ nhiễm
và tái nhiễm dengue, ngày nay người ta thường dùng tỉ lệ kháng thể IgM/IgG
hơn là thử nghiệm HI.
Dengue sơ nhiễm
Ngày sau khi khởi phát triệu chứng
Dengue tái nhiễm
Ngày sau khi khởi phát triệu chứng
Hình 1.3. Mô hình đáp ứng kháng thể trong sơ nhiễm và tái nhiễm
dengue
* “Nguồn: Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh Hoa Kỳ” [35]
Do các kháng thể tăng tương đối chậm nên kết quả huyết thanh học có
thể âm tính trong giai đoạn sớm của bệnh. Chính vì vậy bệnh phẩm cần được
thu thập ít nhất 7 ngày sau khi khởi triệu chứng. Kháng thể IgM sinh ra trong
bệnh SXHD phản ứng cao nhất với týp huyết thanh vi rút gây bệnh, nhưng
cũng cho phản ứng chéo với các týp huyết thanh DENV khác và với các
flavivirut khác ở mức thấp hơn. Lý tưởng là kháng thể IgM nhận biết kháng
nguyên DENV cần được so sánh định lượng với các flavivirut khác đang lưu
hành trong cùng vùng địa lý.
Kháng thể sinh ra trong bệnh SXHD có khả năng bảo vệ chống lại týp
tại chỗ, chi phí và thời điểm lấy máu mà người ta lựa chọn phương pháp chẩn
đoán nào.
Giai đoạn vi rút huyết trong dengue ở bệnh nhân thì ngắn, điển hình xuất
hiện 2-3 ngày trước khởi sốt và kéo dài trong 4-7 ngày bệnh. Trong suốt giai
đoạn này, có thể phát hiện DENV, axit nucleic của nó và kháng nguyên vi rút
lưu hành [147].
Hình 1.4. Biểu đồ thời gian của sơ nhiễm và tái nhiễm dengue cùng các
phương pháp có thể sử dụng để phát hiện nhiễm vi rút.
“Nguồn: TCYTTG, 2009” [145].
1.2.3.2. Các phương pháp chẩn đoán để phát hiện nhiễm dengue
[147]
Chẩn đoán xác định nhiễm dengue bởi các xét nghiệm: phát hiện vi rút,
bộ gien vi rút hay kháng nguyên NS1, hoặc đảo ngược huyết thanh của IgM
hoặc IgG trong mẫu huyết thanh kép (IgM/IgG chuyển từ âm sang dương tính
hoặc tăng gấp 4 lần hiệu giá kháng thể chuyên biệt).
Tiêu chuẩn chẩn đoán một trường hợp có thể nhiễm dengue là huyết
thanh học IgM dương tính hoặc hiệu giá kháng thể xét nghiệm ức chế ngưng
kết hồng cầu có giá trị từ 1/1280 trở lên.
Bảng 1.1. Chẩn đoán xác định và có thể nhiễm dengue, phân tích kết quả
và đặc tính mẫu thử. “Nguồn: TCYTTC, 2012” [46]
Phương pháp
Xác
nhiễm
định Phân lập vi rút
Phân tích
1-5)
và
Đảo ngược huyết IgG chuyển từ (-) sang (+) huyết
thanh
hồi
thanh IgG
trong mẫu huyết thanh kép phục (15-21 ngày
hoặc IgG tăng gấp 4 lần sau
mẫu
huyết
giữa 2 mẫu huyết thanh thanh đầu)
kép
Có
nhiễm
dengue
thể IgM (+)
IgM (+)
Mẫu huyết thanh
phát hiện sản phẩm khuếch đại. Có thể xảy ra kết quả dương tính giả và có thể
phòng ngừa điều này bằng cách cô lập chính xác các bước khác nhau của xét
nghiệm và quan sát quy trình khử nhiễm nghiêm ngặt.
Độ nhạy của RT-PCR thông thường thay đổi từ 48,4 đến 98,2% và có
giới hạn phát hiện ở mức 1–50 đơn vị thành lập mảng (PFUs) [155],[161],
[169],[180]. Những xét nghiệm này sử dụng những mồi gắn với những vùng
bảo tồn đã biết của bộ gien DENV nhằm tránh cho kết quả âm tính giả do
những đột biến tự nhiên trong quá trình sao chép bộ gien RNA vi rút. Độ
nhạy của RT-PCR tùy thuộc nhiều vào cửa sổ cơ hội ngắn ngủi trùng với giai
đoạn vi rút huyết, có thể kéo dài đến 8 ngày kể từ lúc khởi bệnh. Tuy nhiên,
RT-PCR hiếm khi dương tính sau ngày thứ 6.
Real-time RT-PCR (RT-PCR định lượng) dựa trên huỳnh quang có độ
nhạy và ngưỡng phát hiện tốt hơn (0,1-3,0 PFUs) nhờ độ nhạy của phát hiện
huỳnh quang trong máy luân nhiệt (thermocycler) [38],[125],[140],[152],
[168] là hệ thống xét nghiệm một bước sử dụng cặp mồi và các que dò đặc
hiệu cho mỗi týp huyết thanh DENV. Chỉ cần sử dụng một que dò huỳnh
quang phát hiện và định lượng sản phẩm của phản ứng mà không cần điện
di. Nhiều xét nghiệm RT-PCR định lượng được triển khai hoặc ở dạng
“đơn mồi” (chỉ phát hiện một týp huyết thanh DENV mỗi lần xét nghiệm)
hoặc “đa mồi” (có thể định danh tất cả bốn týp huyết thanh DENV từ một
mẫu bệnh phẩm duy nhất). RT-PCR đa mồi còn tránh khả năng bội
nhiễm trong quá trình thao tác mẫu bệnh phẩm [38],[70],[168],[178],[180].
Ngoài mẫu thử máu, RT-PCR có thể được sử dụng để phát hiện RNA
DENV trong mô, kể cả những mẫu cố định formalin. RNA DENV có thể
được phát hiện trong mẫu thử nước tiểu và nước bọt, sử dụng real-time RTPCR. Đối với nước tiểu, mẫu thử được thu thập từ ngày 6 đến ngày 16 sau
khởi sốt cho thấy tỉ lệ phát hiện cao hơn (50-80%) so với những mẫu lấy từ
ngày 1 đến ngày 3 (25-50%) [163]. Do đó RT-PCT phát hiện dengue sử dụng
mẫu thử nước tiểu có thể mở rộng cửa sổ cơ hội cho việc phát hiện RNA vi
RNAvi rút. NS1 được sản sinh ở tất cả các flavivirut và đóng vai trò then chốt
cho sự nhân lên và sống còn của vi rút. Protein NS1 chỉ được bài tiết trong tế
bào động vật có vú, nhưng không có trong tế bào côn trùng [10],[24],[44].
Hình 1.5. Cấu trúc bộ gien của DENV.
Bộ gien của DENV mã hóa 3 protein cấu trúc: lõi (C), màng (M) và vỏ
(E) và 7 protein không cấu trúc (NS1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B và
NS5).
“Nguồn: Guzman MG, 2010” [56]
NS1 được mô tả đầu tiên là một kháng nguyên cố định bổ thể hòa tan
trong nuôi cấy tế bào nhiễm. NS1 của flavivirut là kháng nguyên quan trọng
vì kháng thể kháng protein này đóng vai trò bảo vệ phòng ngừa bệnh. Vai trò
tiềm năng trong sinh bệnh học của cả NS1 và kháng thể kháng NS1 cũng
được đề ra dựa trên phát hiện cả hai có thể gắn kết với nhau và hoạt hóa tế
bào nội mô. Đáp ứng kháng thể kháng NS1, ký ức tìm thấy trong tái nhiễm
kết hợp với mức NS1 bài tiết cao trong huyết thanh của những bệnh nhân này
gợi ý rằng chúng cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học
thông qua việc hình thành phức hợp miễn dịch [10].
Mức NS1 DENV huyết tương hoặc huyết thanh có liên quan đến nồng độ
vi rút máu và độ nặng của bệnh [63],[83],[151]. Alcon đã báo cáo kháng
nguyên NS1 được tìm thấy trong máu tuần hoàn từ ngày đầu đến ngày thứ 9
của bệnh: mức NS1 0,04 đến 2 µg/ml trong mẫu huyết thanh giai đoạn cấp và
0,04 µg/ml trong giai đoạn hồi phục (ngày 8 trở đi). Trong tái nhiễm, nồng độ
NS1 thay đổi từ 0,01 đến 2 µg/ml và không thể phát hiện trong mẫu huyết
thanh hồi phục [23],[48],[149]. Shu và cộng sự cũng có những báo cáo tương
tự [122]. NS1 thậm chí có thể phát hiện đến 18 ngày sau khởi bệnh ở một số
đó và có thể tồn tại trong khoảng 179 ngày đối với sơ nhiễm và 139 ngày đối
với tái nhiễm [172]. Do đó, mẫu IgM đơn làm tăng khả năng một bệnh nhân
sốt bị dengue, tuy nhiên nếu muốn chẩn đoán xác định cần phải có huyết
thanh kép để chứng minh sự gia tăng hiệu giá kháng thể IgM.
Người ta thấy đáp ứng IgM sớm (dưới 2 tháng) có thể phản ứng chéo với
tất cả 4 týp huyết thanh [156] và các flavivirut khác [166]. Do đó thông tin
dịch tễ học về tỉ lệ lưu hành cuả các flavivirut khác sẽ hữu ích để hướng dẫn
phân tích một kết quả IgM dương tính. Dương tính giả cũng thấy ở những
bệnh nhân nhiễm dengue hoặc sốt rét trước đó [159].
Trong sơ nhiễm, IgG có thể chỉ được phát hiện sau 10 ngày khởi bệnh,
điều này khiến nó ít hữu dụng trong chẩn đoán sớm. Tuy nhiên sự tăng nhanh
của mức IgG trong tái nhiễm (từ ngày 4 sau khởi bệnh) [103] có thể gợi ý
dengue khi sử dụng tỉ số IgM và IgG [32],[152],[159],[166],[172]. Bệnh nhân
SXHD được xác định là sơ nhiễm nếu tỉ số kháng thể IgM/IgG kháng DENV
lớn hơn 1,8; hoặc là tái nhiễm nếu tỉ số trên nhỏ hơn 1,8 khi xét nghiệm
những mẫu huyết thanh bệnh nhân SXHD ở những vùng lưu hành bệnh [68].
Phát hiện kháng thể trung hòa dengue
Kháng thể trung hòa ức chế nhiễm vi rút và do đó có thể cho độ đặc hiệu
tốt hơn trong phân biệt kháng thể kháng dengue với kháng thể flavivirut phản
ứng chéo khác [86],[177]. Những kháng thể này có thể đo bằng xét nghiệm
trung hòa giảm đám hoại tử (plaque reduction neutralizing tests (PRNTs) do
Russell phát triển đầu tiên [177]. Đến nay, PRNT vẫn là xét nghiệm được sử
dụng rộng rãi nhất cho các nghiên cứu miễn dịch. Tuy nhiên, nó đòi hỏi tốn
công sức, thời gian và cho công suất thấp [173], do đó nó không được sử
dụng thường quy trong chẩn đoán SXHD. Các xét nghiệm mới như xét
nghiệmvi trung hòa ELISA…đã được phát triển để vượt qua những hạn chế
liên quan đến PRNT.
Phát hiện kháng thể/kháng nguyên kết hợp
ban của TCYTTG đã phát triển những hướng dẫn phân loại trường hợp
SXHD vào năm 1974, dựa trên những nghiên cứu về các kiểu bệnh trên trẻ
em tại Thái Lan vào những năm 1960, sau đó được điều chỉnh và phát hành
một vài lần. Tuy nhiên, rõ ràng là hệ thống phân loại này không áp dụng toàn
cầu để điều trị lâm sàng thích hợp. Vào năm 2006, Nhóm Công tác Khoa học
dengue TCYTTG đề nghị nghiên cứu thêm về chẩn đoán SXHD và phân loại
bệnh nhân để có điều trị tối ưu. Những nghiên cứu xa hơn về việc sử dụng
hướng dẫn lâm sàng chẩn đoán SXHD, bao gồm nghiên cứu kiểm soát SXHD
(nghiên cứu DENCO), đưa đến việc phân loại lại SXHD thành trường hợp
nặng và không nặng. Sau đó lại được sửa lại thành SXHD có và không có
DHCB và SXHD nặng, và được ban hành năm 2009.
SXHD ± DHCB
Không DHCB
Có DHCB
SXHD nặng
1.
2.
3.
Thất
thoát
huyết
tương nặng
Xuất huyết nặng
Suy cơ quan nặng
Sốt và 2 trong số các . Ói dai dẳng
SXHD)
tiêu chuẩn sau:
. Tích tụ dịch lâm sàng
. Tích tụ dịch kèm suy
. Nôn, ói.
. Chảy máu niêm
hô hấp
. Ban
. Lừ đừ, bứt rứt
2. Xuất huyết nặng
. Đau, nhức.
. Gan to > 2cm
Được đánh giá bởi bác
.Thử nghiệm dấu dây . Xét nghiệm: tăng Hct sĩ lâm sàng
với 39% (1997).
1.3.2. Những yếu tố tiên lượng SXHD nặng
Có những bằng chứng cho thấy mức độ biểu hiện nặng của nhiễm DENV
tùy thuộc vào một số yếu tố, ví dụ những yếu tố liên quan vi rút (như độc lực
DENV, tải lượng vi rút) những thành phần vi rút và tình trạng ký chủ khác
nhau (tuổi, di truyền, tình trạng dinh dưỡng, phản ứng miễn dịch ký chủ, bệnh
kết hợp, dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm cũng như nồng độ các chất khác
nhau trong huyết tương).
1.3.2.1. DENV
Những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên thú vật đã chỉ ra rằng
mức độ biểu hiện nặng của nhiễm DENV được cho là bị ảnh hưởng bởi
những thuộc tính nội tại và độc lực của dòng và týp huyết thanh bị nhiễm.
Những quan sát trên người cũng gợi ý rằng nhiễm vi rút liên tiếp thì quan
trọng cho độ nặng của bệnh.
Thực tế cho thấy rằng nhiễm khác týp thứ phát với chuỗi gien châu Á
của týp huyết thanh DENV-2 thì liên quan đến SXHD và hội chứng sốc
SXHD ở Đông Nam Á và châu Mỹ. Ngược lại chuỗi gien châu Mỹ của týp
huyết thanh DENV-2 liên quan với bệnh nhẹ, được cho là ít có khả năng nhân
lên trong Aedes aegypti [141].
1.3.2.2. Thành phần vi rút
Bộ gien vi rút mã hóa 3 protein cấu trúc (C, prM, E) và ít nhất 7 protein
phi cấu trúc (NS1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B và NS5). Trong số các
protein phi cấu trúc, NS1 được nói đến nhiều và được cho là giữ vai trò chính
trong mức độ nặng của bệnh, bởi vì nồng độ NS1 tự do trong huyết thanh liên
quan với nồng độ vi rút máu và độ nặng của bệnh. Nồng độ NS1 ≥ 600 ng/mL
trong vòng 72 giờ đầu khởi bệnh có thể được sử dụng như là một yếu tố để
tiên lượng SXHD [83].
1.3.2.3. Tải lượng vi rút