BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
****************
LÊ THỊ HOÀI
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
****************
LÊ THỊ HOÀI
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Tổng hợp nộp ngân sách khối doanh nghiệp khoáng sản
30
bảng
2.1
giai đoạn 2012-2016
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ
Trang
Số điểm khai thác khoáng sản được cấp phép trên địa bàn
28
biểu đồ
khoáng sản .........................................................................................................10
1.1.3. Vai trò c a pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản .........................................................................................................12
1.2. Nội dung và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến pháp luật bảo vệ môi trường
trong hoạt động khai thác khoáng sản .......................................................................14
1.2.1. Nội dung pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng
sản ......................................................................................................................14
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt
động khai thác khoáng sản ................................................................................21
Chương 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ THỰC TIỄN THI
HÀNH TẠI TỈNH YÊN BÁI ..................................................................................24
2.1. Hoạt động khai thác khoáng sản và những vấn đề đặt ra đối với bảo vệ môi
trường trong khai thác khoáng sản tại tỉnh Yên Bái .................................................24
2.1.1. Tiềm năng, lợi thế c a tỉnh Yên Bái trong phát tri n các doanh nghiệp khoáng
sản..........................................................................................................................24
2.1.2. Tác động c a điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến phát tri n doanh
nghiệp khoáng sản trên địa bàn tỉnh Yên Bái ....................................................28
2.1.3. Thách thức và khó khăn ...........................................................................32
2.2. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định pháp luật bảo
vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Yên Bái ....................33
2.2.1. Về trách nhiệm c a cơ quan nhà nước đối với bảo vệ môi trường trong
hoạt động khai thác khoáng sản ........................................................................33
2.2.2. Về nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
c a các tổ chức, cá nhân ...................................................................................43
2.2.3. Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt
động khai thác khoáng sản ................................................................................57
Chương 3.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (Khóa XI)
khẳng định "... Tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những
vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ tác
động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước..." [15].
Yên Bái là một tỉnh nằm trong khu vực Tây - Bắc bộ có tiềm năng
khoáng sản, việc khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội là một tất yếu; nên, công tác quản lý nhà nước (QLNN) về khoáng sản
có vai trò rất quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững gắn với bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên. Tỉnh Yên Bái đã ban hành các quy định về công tác quản lý,
hoạt động khai thác khoáng sản gắn với mục tiêu BVMT như: Quyết định số
22/2012/QĐ-UBND ngày 28 tháng 6 năm 2012 ban hành Quy định về quản lý
hoạt động khai thác khoáng sản (HĐKTKS) trên địa bàn tỉnh; nhiều văn bản
chỉ đạo, điều hành trong công tác quản lý, HĐKTKS, ngăn chặn HĐKTKS
gây sự cố về môi trường. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã được
2
triển khai, thông qua các kế hoạch tuyên truyền, tập huấn văn bản quy phạm
pháp luật về khoáng sản, môi trường và các chương trình thanh tra, kiểm tra
HĐKTKS. Tuy nhiên, qua thời gian triển khai thực hiện, công tác BVMT trong
HĐKTKS còn bộc lộ nhiều hạn chế, các doanh nghiệp HĐKTKS chưa thực
sự tuân thủ các quy định của pháp luật, tình trạng khai thác khoáng sản trái
phép còn diễn ra, khai thác không đúng thiết kế; Việc thực hiện các quy định
trong quá trình khai thác như thực hiện các nội dung của báo cáo đánh giá tác
động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường; lập trình thẩm định phê
duyệt dự án cải tạo phục hồi môi trường, ký quỹ BVMT... của một số tổ chức,
cá nhân chưa được quan tâm đúng mức gây ô nhiễm môi trường, phát sinh các
sự cố về môi trường… Vì vậy, để tăng cường công tác QLNN về BVMT
trong HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong thời gian tới thì việc có một
Chải và Văn Chấn tỉnh Yên Bái.
- Mai Thành Trung (2013), Quản lý khai thác, chế biến đá vôi trắng
tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, Luận văn thạc sĩ Khai thác mỏ, Đại học Mỏ Địa chất, Hà Nội. Luận văn đã nghiên cứu về lĩnh vực khoáng sản, đặc biệt là
quản lý việc khai thác và sử dụng hiệu quả đá vôi trắng tại huyện Lục Yên Một thế mạnh của tỉnh Yên Bái về khoáng sản.
- Nguyễn Ngọc Anh Đào (2013), Pháp luật về sử dụng các công cụ
kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật
học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội. Luận án đã đi sâu
nghiên cứu về việc sử dụng các công cụ kinh tế của Nhà nước và các lợi ích
kinh tế của các bên nhằm BVMT trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
- Nguyễn Văn Nghệ (2012), khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài
nguyên với Bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay, Tạp chí Khoa học công
nghệ và môi trường, số 3(15), Hà Nội.
- Lê Văn Khoa - ThS. Phan Đình Nhã (2012), Thực trạng khai thác,
chế biến và sử dụng Tytan tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học công nghệ và môi
trường, số 15(115), Hà Nội.
4
- Đinh Tiến Quân - PGS.TS Trần Minh Hưởng (2013), Công tác thanh
tra, ki m tra vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, Tạp chí Khoa học công
nghệ và môi trường, số 50(315), Hà Nội.
- Nguyễn Quang Hùng (2014), Tình hình ban hành chính sách pháp
luật, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường,
Vụ Khoa học công nghệ và môi trường - Văn phòng Quốc hội, Hà Nội.
- Trần Thanh Thủy - ThS. Nguyễn Việt Dũng (2015), khai thác khoáng
sản và giảm nghèo: mối quan hệ trái chiều và một số vấn đề chính sách, Bản
tin chính sách, quý II/2015, Trung tâm Con người và thiên nhiên, Hà Nội.
- Phạm Sỹ Cường (2016), ánh giá công tác quản lý Nhà nước về môi
4. Đối tượng v phạm vi nghiên cứu của đề t i
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật BVMT. Trong đó đi sâu vào
quy định pháp luật BVMT trong HĐKTKS và thực tiễn thực hiện trên địa bàn
tỉnh Yên Bái mà chủ thể quản lý là Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh (Sở Tài
nguyên và Môi trường với tư cách là cơ quan tham mưu giúp UBND tỉnh),
các doanh nghiệp khoáng sản, đồng thời có tính tới yếu tố giám sát của các tổ
chức xã hội và người dân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp
luật về BVMT trong HĐKTKS, những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên
nhân và biện pháp khắc phục.
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu giai đoạn 2011 - 2016, (tuy nhiên
có sử dụng và tham khảo số liệu giai đoạn 2005 - 2015 là giai đoạn Sở Tài
nguyên và Môi trường Yên Bái thành lập và đi vào hoạt động).
6
5. Phương pháp nghiên cứu của đề t i
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh; phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
và pháp luật của Nhà nước ta về môi trường (thông qua Luật BVMT, Khoáng
sản và các văn bản dưới Luật); lý thuyết kinh tế hiện đại như: QLNN về kinh
tế, Kinh tế học, Kinh tế học phát triển, Kinh tế học môi trường...
- Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu. Trong đó,
chú trọng sử dụng các phương pháp: Hệ thống, thống kê, so sánh, phân tích
tổng hợp; số liệu báo cáo thực tế của các sở, ngành và địa phương về BVMT;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong
hoạt động khai thác khoáng sản.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
1.1. Quan niệm về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản
1.1.1. Khái niệm hoạt động khai thác khoáng sản và pháp luật bảo
vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.1.1.1. Hoạt động khai thác khoáng sản
Theo Điều 2 Luật Khoáng sản năm 2010, liên quan đến khoáng sản có
một số khái niệm như sau:
- Khoáng sản: Là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên
ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả
khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ.
Như vậy, khoáng sản là những khoáng vật, khoáng chất được tạo
thành trong vỏ trái đất tồn tại dưới dạng rắn, lỏng, khí và được sử dụng trong
công nghiệp, trong cuộc sống hàng ngày của con người. Còn tài nguyên
khoáng sản là sự tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ
trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên
tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày.
- Hoạt động khai thác khoáng sản: Là hoạt động nhằm thu hồi khoáng
sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt
động khác có liên quan.
và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.
Có thể nói, pháp luật xã hội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa tính giai
cấp và tính xã hội. Pháp luật còn là một bộ phận quan trọng của cấu trúc
thượng tầng xã hội. Nếu pháp luật phản ánh đúng đắn các quy luật vận động
và phát triển của xã hội, nhất là các quy luật kinh tế thì pháp luật sẽ có tác
động tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, pháp luật sẽ kìm
hãm sự phát triển đó.
Pháp luật về BVMT trong HĐKTKS có thể được hiểu là những quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
10
sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác khoáng sản tác động đến một
hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều
chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của
con người.
Pháp luật về BVMT trong HĐKTKS điều chỉnh các vấn đề liên quan
đến công tác BVMT trong hoạt động khai thác khoáng được xây dựng và thực
hiện theo hướng ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước
và các tổ chức, cá nhân có liên quan để giảm thiểu các chất gây ô nhiễm môi
trường, phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu cho môi
trường do ảnh hưởng của các loại chất thải phát sinh trong HĐKTKS [28, tr. 3]...
Theo đó, pháp luật về BVMT trong HĐKTKS nằm trong nhóm các
quy định về bảo tồn và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Đây là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình con người tiến hành các HĐKTKS, nhằm giữ gìn,
phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi
trường trong HĐKTKS; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện
môi trường do HĐKTKS gây ra; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài
Pháp luật BVMT trong HĐKTKS cần có sự phối hợp của nhiều chủ
thể. Để pháp luật BVMT trong HĐKTKS được thực hiện tốt đòi hỏi trang
thiết bị phải hiện đại, trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý cao, chi phí lớn
cho việc ứng phó, khắc phục sự cố, phục hồi môi trường… với những yêu cầu
đòi hỏi cao như vậy, để pháp luật BVMT trong HĐKTKS có hiệu quả cần có
sự chung tay của toàn xã hội: từ phía nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các
tổ chức cá nhân, các doanh nghiệp HĐKTKS và cộng đồng dân cư.
- Pháp luật BVMT trong HĐKTKS không chỉ nhằm bảo vệ các thành
phần môi trường trong HĐKTKS mà còn phải giữ gìn trữ lượng, chất lượng
khoáng sản với tư cách là một thành phần môi trường quan trọng bảo đảm cho
sự phát triển của con người, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà trữ lượng
khoáng sản đang suy giảm và hầu hết không tái tạo lại được, đồng thời nhu
cầu sử dụng khoáng sản của con người ngày càng lớn. Pháp luật BVMT trong
12
HĐKTKS cần tiến hành một cách toàn diện, không chỉ hạn chế, ngăn ngừa,
khắc phục ô nhiễm, suy thoái sự cố môi trường mà còn phải hướng tới việc
sử dụng khoáng sản sao cho tiết kiệm và hiệu quả nhằm bảo vệ nguồn tài
nguyên này [19, tr. 13-15].
1.1.3. Vai trò c a pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai
thác khoáng sản
Pháp luật BVMT trong HĐKTKS nhằm phát triển kinh tế - xã hội
gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi
trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên;
xác lập các yêu cầu về BVMT trong HĐKTKS. Bên cạnh những cơ chế quản
lý nhằm đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước đối với nguồn tài nguyên
khoáng sản và giám sát đối với quá trình khai thác, chế biến khoáng sản,
pháp luật về khoáng sản nói riêng và pháp luật về môi trường nói chung đều
đã có chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư đối với các dự án khai thác gắn
liền với chế biến tại chỗ, khoáng sản ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Dự án có áp dụng
kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, bảo đảm môi trường, thu hồi tối đa các thành
phần có ích, làm ra các sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm có giá
trị và hiệu quả kinh tế - xã hội cao; Dự án chế biến khoáng sản nhập khẩu đáp
ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu.
Pháp luật về BVMT trong HĐKTKS nhằm tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Để đảm bảo việc thực hiện tốt các yêu cầu
nghiêm ngặt và đòi hỏi khắt khe của BVMT trong HĐKTKS, pháp luật BVMT
cũng ban hành những chế tài nghiêm khắc, đủ sức răn đe, trừng phạt người vi
phạm, như cùng là hành vi xả nước thải trái phép vào nguồn nước, song hành
vi xả nước thải có chứa thành phần nguy hại như: thủy ngân, chất phóng xạ rõ
ràng cần phải được xử lý "mạnh tay" hơn so với hành vi xả nước thải không
chứa thành phần nguy hại vì mức độ hậu quả của hai hành vi này hoàn toàn
khác nhau [28, tr. 5-7].
14
1.2. Nội dung v các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến pháp luật
bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.1. Nội dung pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai
thác khoáng sản
1.2.1.1. Các quy định về trách nhiệm c a cơ quan nhà nước đối với
bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Để phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong HĐKTKS có thể gây ra cho
con người và môi trường, pháp luật BVMT trong HĐKTKS đã quy định cụ
thể các quy định pháp luật về BVMT trước khi tiến hành HĐKTKS
* Quy định pháp luật về lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá
định được nêu trong giấy phép.
Hoạt động cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản là
những biện pháp mang tính pháp lý để nhà nước theo dõi, quản lý, kiểm soát
chặt chẽ toàn bộ quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản. Hoạt
động này một mặt sẽ góp phần hạn chế việc khai thác, sử dụng các nguồn tài
nguyên khoáng sản một cách bừa bãi, lãng phí đồng thời kiểm soát được
những tác động xấu đến môi trường từ các HĐKTKS. Thông qua công tác cấp
giấy phép khai thác khoáng sản khẳng định pháp luật về khoáng sản quy định
chính sách khuyến khích BVMT và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên
khoáng sản. Nhà nước đã có chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư đối với
các dự án khai thác gắn liền với chế biến tại chỗ, khoáng sản ở vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn; Dự án có áp dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, bảo đảm môi trường,
thu hồi tối đa các thành phần có ích, làm ra các sản phẩm kim loại, hợp kim
hoặc các sản phẩm có giá trị và hiệu quả kinh tế - xã hội cao; Dự án chế biến
khoáng sản nhập khẩu đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu.
1.2.1.2. Các quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản c a các tổ chức, cá nhân
Khai thác khoáng sản tuy mang lại lợi ích kinh tế lớn cho doanh
nghiệp, cho quốc gia nhưng đã phải đánh đổi với sự hủy hoại môi trường, các
16
hệ sinh thái, đánh đổi với tiềm năng các nguồn tài nguyên khác như du lịch,
nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông, lâm nghiệp... và đối mặt với nhiều thách
thức vế kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư vùng khai khoáng. Bên cạnh
đó, tài nguyên đất, nước bị sử dụng lãng phí, cộng đồng dân cư địa phương
phải gánh chịu hậu quả và chính quyền địa phương luôn phải tìm cách khắc
phục. Chính vì vậy khoáng sản phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng
quản lý quản lý tài nguyên môi trường, đóng vai trò tác động trực tiếp đến
việc thực hiện trách nhiệm BVMT ngay sau khi thác khoáng sản của tổ chức,
cá nhân. Việc thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường được thực hiện
theo Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, Thông tư
số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
quy định về cải tạo, phục hồi môi trường trong HĐKTKS; đã hướng dẫn thực
hiện quy định về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi
trường đối với HĐKTKS. Theo quy định, các tổ chức, cá nhân khi HĐKTKS
phải lập dự án cải tạo, phục môi trường sau khai thác (trong đó số tiền ký quỹ
đã được cụ thể hóa và dự toán chi tiết theo phương án phục hồi môi trường)
và tiến hành ký quỹ tại Quỹ BVMT.
Quyết định số 02/2014/QĐ-TTg ngày 13/01/2014 của Thủ tướng
Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của quỹ BVMT Việt Nam, thì
quỹ có nhiệm vụ: Tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn vốn từ ngân sách
nhà nước, các nguồn tài trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các hoạt động BVMT; nhận ký quỹ
phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản với các tổ chức, cá nhân
được phép khai thác khoáng sản; tài trợ, đồng tài trợ cho các hoạt động
BVMT: xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường, ứng phó, khắc phục hậu quả do
sự cố môi trường.
* Quy định pháp luật về quản lý chất thải trong HĐKTKS
Trong quá trình HĐKTKS các tổ chức, cá nhân làm phát sinh nhiều
yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường như: nước thải, chất thải rắn, khí
thải độc, bụi, tiếng ồn, dầu mỡ, các phụ tùng, vật tư hư hỏng của các phương
18
tiện cơ giới trong quá trình khai thác khoáng sản. Chính vì vậy, việc quản lý
chất thải được đặt ra là một yêu cầu bức thiết nhằm giảm thiểu những tác động
quy định yêu cầu các chủ thể khi tham gia khai thác khoáng sản phải chủ
động xây dựng các phương án, các kế hoạch và dự báo các tình huống xảy ra
khi thực hiện dự án để chủ động phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt
hại về người và tài sản do HĐKTKS gây ra. Quy định về sử dụng công nghệ
phù hợp, thiết bị thân thiện với môi trường trong khai thác khoáng sản: Theo
Điều 30 Luật Khoáng sản 2010, tổ chức, cá nhân HĐKTKS phải sử dụng
công nghệ, thiết bị, vật liệu thân thiện với môi trường; thực hiện các giải pháp
ngăn ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và cải tạo, phục hồi môi
trường. Cũng theo Điều 38 Luật BVMT 2014, tổ chức, cá nhân khi tiến hành
khai thác khoáng sản phải có biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi
trường; việc sử dụng máy móc, thiết bị có tác động xấu đến môi trường, hóa
chất độc hại trong khai thác chế biến khoáng sản phải chịu sự kiểm tra, thanh
tra của cơ quan QLNN về BVMT.
* Quy định pháp luật về đóng cửa mỏ khoáng sản; cải tạo, phục hồi
môi trường sau khi kết thúc HĐKTKS.
Luật Khoáng sản, Luật BVMT, Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày
14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
BVMT tại Chương II quy định cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo,
phục hồi môi trường đối với HĐKTKS xác định phải thực hiện cải tạo, phục
hồi môi trường ngay trong quá trình HĐKTKS. Từ đó đưa ra yêu cầu xây
dựng đề án cải tạo phục hồi môi trường, đề án cải tạo, phục hồi môi trường bổ
sung; phục hồi môi trường; tổ chức thực hiện đề án cải tạo, phục hồi môi
trường. Sau khi hoàn thành việc cải tạo, phục hồi môi trường theo đề án hoặc
đề án bổ sung được phê duyệt phải lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền
kiểm tra, xác nhận, trong hồ sơ phải lấy ý kiến của cộng đồng nơi hoàn thành
việc cải tạo, phục hồi môi trường. Trong thời hạn theo luật định, cơ quan có
thẩm quyền cấp Giấy xác nhận hoàn thành toàn bộ nội dung cải tạo, phục hồi
môi trường và là cơ sở để tiến hành các thủ tục đóng cửa mỏ, bàn giao đất và