VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI THANH SƠN
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC CỦA HUYỆN HIỆP ĐỨC TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI THANH SƠN
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC CỦA HUYỆN HIỆP ĐỨC TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8 34 04 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐÀO THỊ HOÀNG MAI
HÀ NỘI, năm 2019
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIÊN CÔNG
TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở
HUYỆN HIỆP ĐỨC TỈNH QUẢNG NAM ................................................ 62
3.1. Định hướng phát triển kinh tế xã hội ở huyện Hiệp Đức......................... 62
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên
ngân sách nhà nước huyện ở Hiệp Đức, Quảng Nam ..................................... 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự
toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước. NSNN có vai trò quan trọng để thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế nhanh và
bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng, thực hiện các chính sách xã hội, là một
công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua
NSNN, Nhà nước thực hiện huy động các nguồn lực trong xã hội, phân phối và sử
dụng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới
đất nước.
Chi NSNN, trong đó chi thường xuyên thường chiếm một tỷ trọng lớn và có
vị trí, vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) đất nước.
Trong những năm gần đây, việc bố trí nguồn vốn chi thường xuyên còn dàn trải,
tính bao cấp chưa được xoá bỏ triệt để, hiệu quả còn thấp; tình hình chi ngân sách
còn nhiều thất thoát, lãng phí; chi tiêu hành chính và chi NSNN cho một số lĩnh vực
như y tế, giáo dục chưa đáp ứng được nhu cầu cần thiết. Vì vậy, việc quản lý chi
thường xuyên NSNN như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất, triệt để tiết kiệm,
khắc phục tình trạng chi ngoài dự toán, chi vượt dự toán hoặc chi không đúng thẩm
Nam.
- Bài viết “Cải cách quản lý tài chính công áp dụng khuôn khổ chi tiêu trung
hạn: Những thách thức với Việt Nam” của Vũ Sỹ Cường, (Tạp chí nghiên cứu Tài
chính kế toán số 3 -2013) đã làm rõ một số thách thức khi áp dụng khuôn khổ chi
tiêu trung hạn ở Việt Nam, như : Thách thức lợi ích cục bộ địa phương, các nhóm
trong xã hội khi chi tiêu NSNN dành cho họ bị điều chỉnh để ưu tiên cho chiến lược
và lợi ích chung của quốc gia. Thách thức từ khuôn khổ pháp luật và thể chế quản
lý tài chính khi Luật NSNN vể lập dự toán hàng năm chưa có qui định về xây dựng
kế hoạch trung hạn hay sự lồng ghép trong phân cấp quản lý, tính minh bạch và kỷ
luật tài khóa…
- Nghiên cứu về môi trường pháp lý trong hệ thống tài chính công ở Việt
Nam, “Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát tài chính
công ở Việt Nam” của tác giả Trần Vũ Hải & Hoàng Minh Thái ( Tạp chí nghiên
cứu lập pháp số 7 – 2014). Bài báo đã phân tích về thực trạng pháp lý về giám sát
2
tài chính khu vực công chỉ ra những bất cập, hạn chế như: Sự khác biệt về chuẩn
mực kế toán công ở Việt Nam so với các tiêu chuẩn quốc tế, pháp luật hiện hành
chưa tách biệt chức năng kế toán công ra khỏi chức năng ngân quỹ đối với Kho bạc
nhà nước…, đồng thời đưa ra các phương hướng khắc phục, hoàn thiện.
- “Nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Vĩnh Phúc” của
Đặng Hữu Nghĩa (2014), luận văn Thạc sĩ quản lý kinh tế, Đại học kinh tế và quản
trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên. Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác quản
lý chi thường xuyên NSNN cấp tỉnh ở tỉnh Vĩnh Phúc từ 2009-2014. Tác giả đã chỉ
ra những bất cập hiện có trong công tác quản lý chi thường xuyên trên địa bàn, đưa
ra những dự báo về thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế thời gian tới có
tác động đến công tác quản lý chi thường xuyên. Từ cảnh báo đó đưa ra hướng giải
quyết và nâng cao chất lượng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách cho địa
“Quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam” nghiên
cứu về thực tế công tác quản lý CTX NSNN tại huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam
với số liệu tại phòng Kế Hoạch – Tài chính, Kho bạc, UBND huyện Hiệp Đức
nhằm đưa ra các đề xuất không những áp dụng được vào thực tiễn công tác quản lý
CTX của NSNN cấp huyện nói chung, mà còn có thể áp dụng vào công tác quản lý
CTX NSNN ở huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam. Đề tài không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu trước đây.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn hướng tới trả lời một số vấn đề như sau:
(1) Quản lý chi thường xuyên NSNN huyện gồm những nội dung gì?
(2) Quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam
giai đoạn 2016 - 2018 đã đạt được những kết quả gì?
(3) Có những hạn chế gì trong quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện
Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016 - 2018?
(4) Giải pháp nào giúp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN tại
huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới?
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công
tác quản lý CTX NSNN trên địa bàn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý CTX NSNN
4
cấp huyện;
- Trình bày kinh nghiệm quản lý CTXNSNN của một số địa phương trong
nước, ngoài nước từ đó rút ra bài học cho huyện Hiệp Đức.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý CTX NSNN trên địa bàn huyện Hiệp
vực nghiên cứu (thu chi NSNN) như Lãnh đạo của phòng quản lý ngân sách - Sở
Tài chính Quảng Nam, lãnh đạo UBND và HĐND huyện, Phòng Tài chính - Kế
hoạch huyện, Kho bạc Nhà nước (Trưởng phòng tài chính - kế hoạch, giám đốc kho
bạc Nhà nước, trưởng, phó các phòng ban đơn vị cán bộ, nhân viên liên quan đến
công tác quản lý CTX ngân sách của Phòng tài chính, các đơn vị liên quan…)
+ Xác định quy mô mẫu: Khảo sát 120 đối tượng;
+ Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên.
6.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
- Nguồn số liệu, dữ liệu thu thập được tổng hợp và hệ thống hóa theo các
nhóm tiêu thức chỉ tiêu phù hợp với nội dung nghiên cứu;
- Số liệu tính toán, điều tra được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm thống kê
thông dụng Excel và SPSS.
6.3. Phương pháp phân tích
- Dùng phương pháp so sánh, phương pháp thống kê mô tả để xác định xu
hướng biến động của nguồn CTXcủa ngân sách nhằm phục vụ cho việc phân tích
đánh giá công tác quản lý CTX ngân sách;
- Sử dụng các phương pháp phân tích dãy dữ liệu thời gian, phương pháp
phân tích kinh tế để phân tích, đánh thực trạng quản lý CTX ngân sách trên cơ sở
các số liệu thứ cấp và sơ cấp đã được tổng hợp.
- Sử dụng phương pháp phương pháp phân tích hồi qui để làm rõ công tác
quản lý CTX NSNN của Huyện.
6.4. Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực quản lý CTX để tham khảo
đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp.
7. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN và quản lý CTX
NSNN; Phân tích thực trạng quản lý CTX NSNN tại huyện Hiệp Đức để đánh giá
kết quả, hạn chế và nguyên nhân hạn chế. Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác quản lý CTX NSNN cho huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng
Nam.
xác định quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp quận, huyện về
quản lý tài chính, ngân sách. Cùng với thực hiện CNH,HĐH của nước nhà, ngân
sách nhà nước (NSNN) huyện được xác định lại vai trò nhiệm vụ của mình. Ngày
27/11/1989, HĐBT đã ra nghị quyết 186/HĐBT về phân cấp quản lý ngân sách địa
phương, trong đó có NSNN huyện. Tiếp đến ngày 16/2/1992, HĐBT ban hành nghị
quyết 186/HĐBT sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 186/HĐBT ngày 27/11/1989. Tại kỳ
họp thứ 8 Quốc hội khóa IX khẳng định: ngân sách quận, huyện là một cấp ngân
sách thực hiện vai trò, chức năng nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn quận,
huyện.
Như vậy, NSNN cấp huyện mang bản chất của NSNN, đó chính là các mối
quan hệ giữa cấp ngân sách huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong
quá trình phân bổ, sử dụng với bản chất nhà nước XHCN. NSNN huyện là quỹ tiền
tệ tập trung của huyện được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản
chi trong phạm vi huyện; Nó phản ảnh những mối quan hệ một bên là chính quyền
cấp huyện với một bên là các chủ thể khác thông qua sự vận động của các nguồn tài
chính, nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền huyện.
1.1.1.2. Vai trò Ngân sách nhà nước cấp huyện
Một là, ngân sách cấp huyện đảm bảo thực hiện vai trò nhà nước, bảo vệ
quốc phòng và an ninh trật tự cấp huyện. Là một cấp chính quyền, nên huyện cùng
tổ chức ra cho mình một hệ thống các cơ quan, đoàn thể với một quỹ tài chính tập
trung nhằm thực hiện các chức năng và quyền hạn nhà nước ở địa phương. Tùy theo
8
phạm vi địa lý, tình hình KT-XH trên từng huyện mà nhu cầu đảm bảo này là khác
nhau. Trong các chức năng, chức năng đảm bảo trật tự an ninh, quốc phòng đóng
vai trò đặc biệt quan trọng. Để đảm bảo chức năng đặc biệt quan trọng này, ngân
sách cấp huyện cần phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, có các khoản dự phòng hợp lý.
Hai là, ngân sách cấp huyện là công cụ thúc đẩy, phát triển ổn định KT-XH.
cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công tại huyện đó, qua
đó thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước trên các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo
dục đào tạo, y tế, văn hóa, xã hội… và các hoạt động sự nghiệp khác trên địa bàn
huyện.
* Đặc điểm:
- Chi thường xuyên mang tính liên tục, ổn định : Nhìn chung, hầu hết các
khoản chi thường xuyên (CTX) từ NSNN đều mang tính ổn định và có tính chu kỳ
trong một khoảng thời gian nhất định trong một năm tài chính.
- Các khoản CTX phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng: CTX nhằm trang trải
cho các nhu cầu về quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, về an ninh quốc
phòng, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động xã hội khác.
- Chi thường xuyên NSNN huyện gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà
nước và việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong
từng thời kỳ: Phần lớn các khoản CTX nhằm duy trì hoạt động, hiệu quả của bộ
máy quản lý Nhà nước, việc sử dụng kinh phí thường xuyên phải đúng mục đích,
tiết kiệm và có hiệu quả. Hiệu quả của CTX không thể đánh giá, xác định cụ thể
như chi cho đầu tư phát triển, hiệu quả của nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà
được thể hiện qua sự ổn định chính trị, xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững
của đất nước.
- Chi thường xuyên để đầu tư vào nguồn lực con người trong quá trình phát
triển KTXH: Bên cạnh đó, thông qua các khoản chi này thực hiện các chức năng
văn hóa, giáo dục, quản lý, an ninh - quốc phòng… Nguồn tài chính chi cho mục
đích công cộng này có thể huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau: từ nguồn
NSNN; nguồn tự tạo của các đơn vị thông qua hoạt động sự nghiệp; nguồn tài chính
của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, của các tổ chức xã hội; nguồn huy động
từ sự đóng góp của dân theo chính sách hoặc tự nguyện …
CTX NSNN bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền với chức
năng quản lý xã hội của Nhà nước, chúng được phân thành hai phần: Thứ nhất, Chi
cho nhu cầu quản lý kinh tế xã hội chung và thứ hai, Chi để đáp ứng nhu cầu của
dân cư về phát triển văn hóa xã hội, nó có mối quan hệ trực tiếp đến thu nhập và
+ Chi về hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước cấp huyện.
+ Chi về hoạt động của hệ thống cơ quan pháp luật.
+ Chi về hoạt động quản lý vĩ mô nền KT-XH cho hệ thống các cơ quan
11
quản lý KT-XH và chính quyền cấp huyện.
+ Chi về hoạt động của các cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở cấp huyện.
+ Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội.
- Chi quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội ở huyện: Là đặc biệt quan
trọng, đảm bảo ổn định trật tự xã hội và sự toàn vẹn lãnh thổ.
- Chi sự nghiệp văn hóa xã hội: Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng
xã hội, liên quan đến sự phát triển đời sống tinh thần của các tầng lớp dân cư, gắn
với quá trình đầu tư phát triển nhân tố con người. Bao gồm các khoản chi cho các
hoạt động sự nghiệp như: khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, nghệ
thuật, thể dục thể thao, thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình và các hoạt động
khác....
- Chi sự nghiệp kinh tế của Nhà nước: Là khoản chi để phục vụ hoạt động
của mỗi ngành và phục vụ chung cho cấp huyện, tạo thuận lợi cho các thành phần
kinh tế.
- Chi khác: Ngoài các khoản CTX lớn thuộc 4 lĩnh vực trên còn có các
khoản chi khác cũng xếp vào cơ cấu CTX như: chi trợ giá theo chính sách của Nhà
nước, chi trả tiền lãi do Chính phủ vay, chi hỗ trợ quỹ BHXH...
1.2. Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện
1.2.1. Khái niệm và nguyên tắc quản lý chi thường xuyên ngân sách cấp
huyện
1.2.1.1. Khái niệm quản lý chi thường xuyên Ngân sách nhà nước cấp huyện
Quản lý chi NSNN là hoạt động của chính quyền nhà nước sử dụng phương
pháp, công cụ chuyên ngành để lập dự toán, chấp toán dự toán, quyết toán và kiểm
suốt quy trình quản lý CTX NSNN để vừa đảm bảo tập trung, thống nhất quản lý
ngân sách quốc gia, để vừa định mức hợp lý các khoản CTX, nhằm gia tăng hiệu
quả sử dụng nó.
* Quản lý theo dự toán:
Dự toán là khâu đầu của công tác quản lý chi NSNN, vì thế khi dự toán phải
căn cứ vào cả lý luận và thực tiễn. Cơ cấu thu chi NSNN phụ thuộc vào sự phán
quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, do vậy các khoản chi từ nguồn NSNN sẽ trở
thành hiện thực khi có trong dự toán đã được phê duyệt. Đồng thời, phạm vi chi
NSNN đa dạng và liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực hoạt động khác
nhau và mức chi cho mỗi đối tượng hay lĩnh vực cũng lại phụ thuộc vào định mức
riêng, tùy thuộc vào thực tế.
13
* Thực hiện tiết kiệm và có hiệu quả:
Với đặc điểm của chi thường xuyên thực hiện trên nhiều đối tượng, nhiều
lĩnh vực và trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp, trong khi nguồn lực và kinh phí
lại có hạn. Vì thế, trong quá trình phân bổ và sử dụng CTX NSNN phải coi trọng
nguyên tắc tiết kiệm và có hiệu quả. Khi xây dựng dự toán, xây dựng định mức tiêu
chuẩn phải phù hợp với thực tế và phù hợp với từng đối tượng; Sắp xếp có tính ưu
tiên theo từng đối tượng, công việc để đảm bảo các hoạt động ....
* Hợp pháp, công khai, minh bạch:
Quản lý CTX NSNN cấp huyện phải theo luật định ở tất cả các khâu: xây
dựng dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán ngân sách, kiểm tra và xử lý nếu có vi
phạm. Việc phân bổ dự toán CTX NSNN cấp huyện cho các cơ quan sử dụng
NSNN thì phải tuân thủ quy định về đối tượng, tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức phân
bổ NSNN hiện hành. Phải cung cấp thông tin công khai để người dân có thể tham
gia giám sát tính hợp pháp và đúng đắn của các khâu trong quản lý CTXNSNN cấp
huyện.
duyệt, tiến hành kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ, chứng từ...
1.2.2.2. Lập dự toán chi thường xuyên Ngân sách huyện
Dự toán CTX ngân sách là một bộ phận quan trọng trong dự toán ngân sách,
nó là khâu mở đầu của chu trình quản lý ngân sách. Mục tiêu cơ bản của nó là tính
toán đúng đắn khả năng và nhu cầu ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa
học và thực tiễn các chỉ tiêu ngân sách trong kỳ kế hoạch. Lập dự toán CTX NSNN
thực chất là lập kế hoạch CTX ngân sách trong một năm ngân sách. Kết quả của
khâu này là dự toán ngân sách được các cấp thẩm quyền quyết định.
Ý nghĩa của lập dự toán chi thường xuyên:
- Dự toán là khâu mở đầu có tính chất quyết định đến hiệu quả trong quá
trình điều hành, quản lý ngân sách. Bởi nó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng
của dự toán và hiệu quả của quá trình điều hành ngân sách.
- Dự toán ngân sách là công cụ điều chỉnh quá trình KT-XH của Nhà nước.
Đồng thời, nó là cơ sở kiểm tra lại tính đúng đắn hiện thực và cân đối của kế hoạch
KT-XH; cũng như đánh giá hiệu quả công việc của các bộ phận kế hoạch tài chính.
Yêu cầu trong quá trình lập ngân sách cấp huyện phải đảm bảo:
- Dự toán ngân sách để mang tính hiện thực phải bám sát kế hoạch phát triển
KT-XH và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH.
- Dự toán CTX ngân sách phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các
15
quan điểm của chính sách tài chính địa phương và yêu cầu của Luật Ngân sách nhà
nước.
- Lập dự toán CTX ngân sách phải tính đến các kết quả phân tích, đánh giá
tình hình thực hiện dự toán chi ngân sách của các năm trước, đặc biệt là của năm
báo cáo.
- Lập dự toán chi ngân sách phải dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn
định mức chi cụ thể về tài chính nhà nước.
công tác hoạt động thường xuyên của bộ máy nhà nước hợp lý, tiết kiệm và hiệu
quả.
Ý nghĩa của tổ chức thực hiện dự toán:
- Thực hiện dự toán đúng đắn là tiền đề cơ sở bảo đảm điều kiện để thực hiện
các khoản thu, chi đã đề ra trong kế hoạch nhằm phát triển KTXH của địa phương.
- Tổ chức thực hiện dự toán NSNN là khâu quan trọng trong quá trình quản
lý NSNN. Thực hiện tốt sẽ có tác động tích cực bảo đảm thăng bằng thu - chi ngân
sách.
Yêu cầu của tổ chức chấp hành dự toán
- Việc phân phối nguồn vốn phải đảm bảo hợp lý, tập trung có trọng điểm
trên cơ sở dự toán chi đã xác định.
- Công tác phát kinh phí phải được thực hiện kịp thời, chặt chẻ tránh gây
lãng phí thất thoat nguồn vốn của NSNN.
- Tuân thủ nguyên tắc thanh toán trực tiếp qua kho bạc nhà nước.
Chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện đã có trong dự toán
ngân sách được giao; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy
định; đã được chủ trương đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền
quyết định chi. Quản lý các khoản chi là hướng tới mục tiêu đảm bảo yêu cầu tiết
kiệm và hiệu quả, các cơ quan thẩm quyền và chuyên môn của địa phương và phải
xem nó là tiêu thức cơ bản khi xác lập các biện pháp quản lý, từ đó quản lý chặt chẽ
từ các đối tượng sử dụng ngân sách, đối tượng thụ hưởng ngân sách, quản lý có hiệu
quả các khâu xây dựng dự toán, xây dựng tiêu chuẩn, định mức, chấp hành và quyết
toán ngân sách, thường xuyên phân tích đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm, trên cơ
sở đó đổi mới cơ cấu chi, các biện pháp quản lý chi.
1.2.2.4. Quyết toán chi thường xuyên Ngân sách huyện
Quyết toán CTX NSNN huyện là công tác tổng kết quá trình thực hiện dự
17
18
toán năm để gửi xét duyệt. Đơn vị dự toán cấp dưới lập báo cáo quyết toán năm gửi
đơn vị dự toán cấp trên. Trong thời gian tối đa 20 ngày kể từ ngày nhận được báo
cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới, đơn vị dự toán cấp trên có trách
nhiệm xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự
toán cấp dưới. Sau 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo xét duyệt quyết toán
của đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp dưới không có ý kiến gì thì coi như
đã chấp nhận để thi hành.
1.2.2.5. Công tác kiểm tra, giám sát về quản lý chi thường xuyên Ngân sách
nhà nước cấp huyện
Công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm soát, kiểm toán CTX là một nội
dung rất quan trọng của công tác quản lý ngân sách. Nó đảm bảo để thực hiện ngân
sách đúng pháp luật, phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật,
phát hiện tham nhũng, lãng phí, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính
sách, pháp luật nhằm đảm bảo việc sử dụng nguồn lực đóng góp của nhân dân theo
đúng mục tiêu đề ra, tránh những hậu quả xấu đè nặng lên người dân, người chịu
thuế.
Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán chi ngân sách được thực hiện bởi
nhiều cơ quan. Trong đó, chịu trách nhiệm chính và trước hết là Thủ trưởng các đơn
vị dự toán phải thường xuyên tự kiểm tra đối chiếu với chính sách chế độ về quản lý
ngân sách để đảm bảo việc chi đúng chính sách, chế độ quy định. Các Bộ, các đơn
vị dự toán cấp trên chịu trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành các chế độ chi và quản
lý chi ngân sách, quản lý tài sản nhà nước của các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn
các đơn vị này thực hiện việc kiểm tra trong đơn vị mình. Cơ quan Tài chính, cơ
quan Kho bạc nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm soát
thường xuyên, định kỳ đối với các đơn vị sử dụng ngân sách.
Thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi và quản lý
sách thường niên còn chưa gắn hữu cơ với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (cả
trung hạn và dài hạn), gây vướng mắc trong việc chủ động triển khai thứ tự ưu tiên
thực hiện nhiều mục tiêu, nhiệm vụ; tình trạng tùy tiện sử dụng ngân sách chưa
được ngăn chặn, tình hình sử dụng công quỹ còn rất nhiều lãng phí gây thất thoát
CTX NSNN.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế nêu trên, cho thấy tính cấp bách và sự cần thiết
phải hoàn thiện, tăng cường sự quản lý nhà nước đối với chi NSNN nói chung và
CTX ngân sách cấp huyện nói riêng, nhằm mục tiêu ổn định ngân sách, tiết kiệm,
20
chống lãng phí, chống tiêu cực trong chi tiêu NSNN.
1.2.4. Tiêu chí đánh giá quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
a) Tiêu chí định tính
Đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ trong quản lý CTX NSNN phải
minh bạch, công khai, tiết kiệm, không gây thất thoát, lãng phí.
- Mức độ chuẩn xác công tác lập dự toán: Dự toán NSNN là bản dự trù các
khoản thu, chi ngân sách theo các chỉ tiêu xác định trong một năm, được các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để thực hiện thu, chi ngân sách. Dự toán
NSNN, dù ở mức độ tổng hợp hay chi tiết cũng đều nhằm tạo khuôn khổ tài chính
đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và phát triển KT-XH, đồng thời tạo căn cứ
khoa học và hợp lý cho việc điều hành CTX ngân sách. Vì vậy, mức độ chuẩn xác
của dự toán có vai trò vô cùng quan trọng đối với quản lý chi thường xuyên NSNN
và là yếu tố then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng NSNN.
- Chấp hành chi so với dự toán: Chấp hành dự toán là quá trình tổng hợp các
biện pháp kinh tế - tài chính và hành chính để biến các chỉ tiêu chi NSNN đã được
ghi trong dự toán trở thành hiện thực hướng tới đạt được các mục tiêu KT-XH đã
đặt ra. Do đó, mức độ bám sát của chấp hành chi so với dự toán sẽ phản ánh hiệu
quả của việc sử dụng ngân sách để đạt được những mục tiêu chiến lược đã đặt ra