VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN PHƯỚC TÙNG
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN PHƯỚC TÙNG
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ XUÂN SANG
NƯỚC CẤP XÃ .........................................................................................................6
1.1. Cơ sở pháp lý và lý luận chung về quản lý ngân sách nhà nước .........................6
1.2. Cơ sở pháp lý và lý luận về quản lý ngân sách cấp xã.......................................11
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách cấp xã.........................................21
1.4. Các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý ngân sách cấp xã
.................23
1.5. Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý ngân sách cấp xã ở một số địa phương .......24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP
XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM.........30
2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội huyện Tiên Phước...............................30
2.2. Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách cấp xã của huyện Tiên Phước, tỉnh
Quảng Nam ...............................................................................................................34
2.3. Thực trạng ngân sách nhà nước cấp xã ở huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng
Nam ...........................................................................................................................37
2.4. Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn huyện Tiên
Phước, tỉnh Quảng Nam ............................................................................................45
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý nsnn cấp xã trên địa bàn huyện Tiên
Phước, giai đoạn 2014-2018 .....................................................................................56
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TẠI HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG
NAM .........................................................................................................................62
3.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam với huyện Tiên Phước .............62
3.2. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện tiên phước giai đoạn 2019 –
2022 ...........................................................................................................................62
3.3. Định hướng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tiên Phước đến năm
2020, tầm nhìn 2030..................................................................................................64
3.4. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tiên
Phước.........................................................................................................................69
nhà nước NSX
Ngân sách
Ngân sách
xã
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
TNCN
Thu nhập cá nhân
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
UBND
Uỷ ban nhân dân
XDCB
Xây dựng cơ bản
XHCN
Xã hội chủ nghĩa.
Trong ngân sách Nhà nước thì có một cấp là ngân sách xã. Qua những năm
thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước, công tác quản lý tài chính ngân sách đã đạt
được một số kết quả nhất định, đóng góp quan trọng vào công tác quản lý hoạt động
kinh tế - xã hội của chính quyền cơ sở xã, thị trấn. Để thực hiện Luật Ngân sách nhà
nước, Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản dưới luật quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước.
Chính quyền địa phương triển khai thực thi các nội dung của Luật Ngân sách
nhà nước. Thực hiện theo hướng dẫn công tác quản lý tài chính ngân sách các cấp
trong đó có ngân sách xã.
Trong tiến trình đổi mới nền kinh tế, các hình thức thu NSNN ở địa phương
đã từng bước thay đổi, điều chỉnh để thực hiện nhiệm vụ tập trung nguồn thu cho
NSNN. Cùng với quá trình quản lý thu NSNN thì việc quản lý chi NSNN cũng có
vị trí rất quan trọng trong quản lý điều hành NSNN góp phần ổn định phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập kinh tế thế
giới. Tuy nhiên, trong những năm qua, việc thực hiện quản lý thu, chi NSNN vẫn
còn nhiều hạn chế bất cập (từ quy trình lập, chấp hành và quyết toán, đến kiểm tra,
giám sát…) ảnh hưởng đến hiệu quả và hiệu lực quản lý ngân sách nhà nước tại các
1
cơ sở xã. Việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát, hoàn thiện quy trình quản lý ngân
sách cấp xã ở huyện Tiên Phước là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Quản lý ngân sách nhà
nước cấp xã trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ quản lý kinh tế với mục tiêu góp phần giải quyết các vấn đề tồn tại,
nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện Tiên
Phước, tỉnh Quảng Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua việc nghiên cứu quản lý NSNN ở nước ta là chủ đề
đề nghiên cứu đó đã đề cập đến các vấn đề chung, một số công trình đã lâu nên
không theo kịp và khó giải quyết vấn đề trong tình hình đổi mới hiện nay.
Vì vậy đề tài này về quản lý ngân sách nói chung, ngân sách cấp xã nói riêng
không phải là đề tài mới, nhưng xét trên địa bàn cụ thể của huyện Tiên Phước trong
những năm gần đây với những thay đổi trong quản lý ngân sách thì đây là vấn đề
mới, cần phải nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện quản lý ngân sách của cấp xã
trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam có hiệu quả tốt hơn trong thời gian
tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đó, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan để đề
xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý NSNN cấp xã trên địa bàn huyện Tiên
Phước, tỉnh Quảng Nam cho phù hợp với điều kiện hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những nội dung lý luận cơ bản của NSX và quản lý NSX.
- Phân tích thực trạng quản lý NSX trên địa bàn huyện Tiên Phước từ năm
2014 đến năm 2018.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý NSNN trên địa
bàn huyện Tiên Phước trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản
lý ngân sách xã huyện Tiên Phước trên các khía cạnh nguồn thu, nhiệm vụ chi của
ngân sách xã, trình độ chuyên môn của đội ngũ kế toán, tài chính cấp xã.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến
các công tác quản lý NSX tại huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
- Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng giai đoạn 2014 – 2018; đề xuất
Góp phần làm rõ hơn một số vấn đề về lý luận, pháp lý về QLNN về ngân
sách
Đánh giá thực trạng ( thành tựu, hạn chế ), kết quả QLNN, phân tích công tác
quản lý Nhà nước về quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện Tiên Phước Tỉnh Quảng Nam.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về
quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện trong bối cảnh mới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho HĐND, Uỷ ban nhân dân,
các ban ngành của huyện Tiên Phước hiểu đúng về những nội dung cơ bản trong
công tác quản lý Nhà nước về quản lý ngân sách cấp xã. Là tư liệu cho những ai
quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý ngân sách nhà nước cấp xã.
Chương 2: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn huyện
Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp xã trên địa
bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CẤP XÃ
1.1. Cơ sở pháp lý và lý luận chung về quản lý ngân sách nhà nước
1.1.1. Ngân sách nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
Thuật ngữ "NSNN" có từ lâu và ngày nay được dùng phổ biến trong đời sống
kinh tế - xã hội và được diễn đạt dưới nhiều góc độ khác nhau. Song quan niệm
NSNN được bao quát nhất cả về lý luận và thực tiễn của nước ta hiện nay.
hội chứ không phải phục vụ cho lợi ích riêng của Nhà nước. Các đối tượng nộp thuế
cũng hoàn toàn ý thức được nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của Nhà nước. Họ cũng hiểu được vai trò của Nhà nước trong việc sử dụng các
nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội, do nhân dân giao
phó.
Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước chính là yếu tố quyết định tính chất
oạt động của NSNN, nói lên bản chất của NSNN. Mọi hoạt động của NSNN đều
nhằm vào việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính; nó phản ánh hệ thống các
quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh do Nhà nước
tạo lập thông qua NSNN. Đó là mối quan hệ kinh tế giữa phần nộp vào NSNN và
phần để lại cho các chủ thể kinh tế trong xã hội. Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục
được phân phối lại nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và phục vụ cho các
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước có thể
sử dụng các công cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho
mình các nguồn lực tài chính cần thiết. Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính
xuất phát từ sản xuất, mà chủ thể của sản xuất chính là các thành viên trong xã hội.
Mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế và đấu tranh bảo vệ lợi ích kinh tế đó, nghĩa là
thông qua quyền lực của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, chính sách giải
quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích của các thành viên trong xã hội. Do
vậy muốn có NSNN đúng đắn, lành mạnh thì phải tôn trọng và vận dụng các quy
luật kinh tế một cách khách quan, phải dựa trên cơ sở đảm bảo hài hoà lợi ích của
Nhà nước và lợi ích cho các thành viên trong xã hội. Một NSNN lớn mạnh phải
đảm bảo sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, bao
quát hết toàn bộ các nguồn thu, nuôi dưỡng nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi ngày
càng tăng. NSNN có 2 chức năng chính sau:
Thứ nhất, NSNN là các khoản chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, cho lực
lượng quân đội, công an, cho nhu cầu văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, chi
cho đầu tư phát triển,...
có hiệu quả kinh tế cao thì phải đóng góp nhiều vào NSNN.
Trình độ xã hội hóa càng cao, quy mô sở hữu càng lớn thì nguồn thu tập
trung vào NSNN và những nguồn lực tài chính cũng càng nhiều.
Thực hiện thu đúng, thu đủ từ các hình thức này không chỉ đảm bảo nguồn
lực tài chính cho Nhà nước, mà còn là hình thức cụ thể thực hiện quản lý chặt các
tài sản thuộc sở hữu Nhà nước để bảo tồn và phát triển chế độ sở hữu toàn dân.
- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân thuộc đối tượng phải đóng
góp theo luật định.
- Các khoản viện trợ: hình thức chủ yếu là viện trợ không hoàn lại, của các tổ
chức, các tổ chức phi chính phủ của các nước và quốc tế. Nguồn thu này chủ yếu
phụ thuộc vào đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đây là nguồn thu nhất
thời, không ổn định, không tính toán trước một cách chính xác.
- Các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đối
NSNN.
Khoản thu này được thực hiện thông qua quan hệ tín dụng Nhà nước trong
nước và quốc tế để sử dụng vào mục đích đầu tư phát triển kinh tế. Đây là nguồn
thu không thuộc quyền sở hữu Nhà nước, đến kỳ hạn Nhà nước phải thanh toán.
Vì vậy, việc sử dụng hình thức này đòi hỏi các tổ chức Nhà nước phải tính
toán nhu cầu đầu tư, hiệu quả kinh tế - xã hội của công trình và khả năng thu hồi
vốn để trả nợ.
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
b. Các khoản chi lấy từ ngân sách nhà nước
Chi NSNN là một hệ thống các quan hệ rất đa dạng, phức tạp, bao gồm
Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội.
- Các khoản chi bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ
máy Nhà nước. Đây là những khoản chi bắt buộc trong NSNN của mọi quốc gia
nhằm để giữ vững an ninh tổ quốc, ổn định chính trị - xã hội.
Quy mô khoản chi này tuỳ thuộc vào việc xác định chức năng nhiệm vụ và tổ
cân bằng thu - chi ngân sách. Nếu có vay để bù đắp bội chi NSNN thì phải trên
nguyên tắc tiền vay không được sử dụng cho tiêu dùng mà chỉ sử dụng vào mục đích
phát triển và có kế hoạch thu hồi vốn vay để đảm bảo cân đối ngân sách, chủ động
trả nợ đến hạn. Ngân sách địa phương được cân đối theo quy tắc: tổng số chi không
được vượt quá tổng số thu.
1.2. Cơ sở pháp lý và lý luận về quản lý ngân sách cấp xã
1.2.1. Khái niệm quản lý ngân sách cấp xã
Về bản chất ngân sách xã là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với
các chủ thể khác, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ
của chính quyền nhà nước cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ đã được phân công,
phân cấp quản lý.
Hoạt động thu, chi của ngân sách xã luôn gắn chặt với chức năng, nhiệm vụ
của chính quyền xã đã được phân công, phân cấp; đồng thời luôn chịu sự kiểm tra
giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp xã. Vì vậy, các chỉ tiêu thu, chi của
ngân sách xã luôn mang tính pháp lý.
Về hình thức, quá trình vận động của quỹ ngân sách xã gồm: quá trình huy
động nguồn thu và quá trình phân phối, sử dụng ngân sách xã - thể hiện toàn bộ
hoạt động của ngân sách xã kể từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc chuyển
sang năm mới. Đây được xem là chu trình ngân sách xã. Như vậy chu trình ngân
sách bao gồm các khâu: lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách xã.
Quản lý ngân sách xã là hoạt động thu thập, xử lý, kiểm tra, giám sát toàn bộ
hoạt động kinh tế - tài chính của xã, bao gồm: hoạt động thu, chi ngân sách và các
hoạt động tài chính khác thuộc phân cấp của xã.
1.2.2. Đặc trưng của ngân sách cấp xã
Ngân sách xã có vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động của xã, phường
được thể hiện qua đặc điểm của ngân sách xã. Đặc điểm đó được khái quát như
sau:
được quy định như sau: [6]
* Thu ngân sách xã
- Các khoản thu 100%
Các khoản thu ngân sách xã hưởng một trăm phần trăm là các khoản thu
dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài chính đảm bảo các nhiệm vụ
chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển.
Các khoản phí, lệ phí giao cho xã tổ chức thu theo quy định. [6].
+ Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào NSNN theo
quy định của pháp luật.
+ Thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác do xã quản lý theo quy
định của pháp luật.
+ Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định
của pháp luật do cấp xã thực hiện.
+ Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước do các cơ quan,
đơn vị, tổ chức thuộc xã xử lý theo quy định của pháp luật, sau khi trừ đi các chi phí
theo quy định của pháp luật.
+ Các khoản huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân gồm: các
khoản huy động đóng góp theo quy định của pháp luật, các khoản đóng góp theo
nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do HĐND xã quyết định
đưa vào ngân sách xã quản lý;
+ Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá
nhân ở ngoài nước trực tiếp cho ngân sách xã;
+ Thu kết dư ngân sách xã năm trước.
+ Thu chuyển nguồn ngân sách cấp xã năm trước chuyển sang;
+ Các khoản thu khác của ngân sách xã theo quy định của pháp luật.
- Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách xã, thị
trấn với ngân sách cấp trên:
+ Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp;
chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã; các khoản chi
khác theo quy định của pháp luật;
+ Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo trên địa bàn xã;
+ Chi cho nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ (không có nhiệm vụ chi
nghiên cứu khoa học và công nghệ);
+ Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa
bàn xã;
+ Chi hoạt động văn hóa, thông tin;
+ Chi hoạt động phát thanh, truyền thanh;
+ Chi hoạt động thể dục, thể thao;
+ Chi hoạt động bảo vệ môi trường, bao gồm thu gom, xử lý rác thải;
+ Chi các hoạt động kinh tế bao gồm: Duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo
các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình khác do xã
quản lý; hỗ trợ khuyến khích phát triển các hoạt động kinh tế như: khuyến công,
khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm theo chế độ quy định; các hoạt động kinh tế
khác;
+ Chi hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các
tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật:
Chi hoạt động của các cơ quan nhà nước: Tiền lương cho cán bộ, công chức;
tiền công lao động và hoạt động phí đại biểu Hội đồng nhân dân; các khoản phụ cấp
khác theo quy định của Nhà nước; công tác phí; chi về hoạt động, văn phòng, như:
chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu điện, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân,
khánh tiết; chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc và tài
sản cố định khác; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn cho cán
bộ xã và các đối tượng khác theo chế độ quy định; chi khác theo chế độ quy định;
Kinh phí hoạt động của tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam ở xã;
Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở xã (Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,
Các ban, tổ chức thuộc UBND xã căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao
và chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi lập dự toán chi của đơn vị tổ chức này.
Ban Tài chính và ngân sách xã lập dự toán thu, chi và cân đối ngân sách trình
UBND xã, báo cáo chủ tịch hoặc phó chủ tịch HĐND xã để xem xét gửi UBND
huyện và phòng Tài chính - Kế hoạch huyện.
Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, phòng Tài chính - Kế hoạch
huyện làm việc với UBND xã về việc cân đối thu chi ngân sách xã thời kỳ ổn định
mới theo khả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương. Đối với những
năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, phòng Tài chính - Kế hoạch huyện chỉ tổ chức
làm việc với UBND xã khi UBND xã có yêu cầu.
Quyết định dự toán ngân sách xã:
Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi do UBND huyện quyết
định, UBND xã hoàn chỉnh dự toán ngân sách xã và phương án bổ sung ngân sách xã
trình HĐND xã phê duyệt. Sau khi dự toán xã được HĐND xã phê duyệt, UBND xã
báo cáo với UBND huyện, phòng Tài chính - Kế hoạch huyện đồng thời công khai
ngân sách xã cho nhân dân biết theo chế độ công khai tài chính về ngân sách xã.
Điều chỉnh ngân sách xã hàng năm (nếu có) trong các trường hợp có yêu cầu
của UBND cấp trên để đảm bảo phù hợp với định hướng chung hoặc có sự biến
động lớn về nguồn thu và nhiệm vụ chi.
c. Chấp hành dự toán ngân sách cấp xã.[6]
Hàng năm xã phải tổ chức chấp hành dự toán ngân sách theo đúng điều
khoản về Luật Ngân sách và Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn
chấp hành dự toán ngân sách của Bộ Tài chính.
Căn cứ dự toán ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách xã cả năm đã
được HĐND xã phê chuẩn, UBND xã phân bổ chi tiết dự toán chi ngân sách xã theo
mục lục NSNN (kèm theo biểu mẫu) gửi Kho bạc Nhà nước (KBNN) nơi giao dịch
để làm căn cứ thanh toán và kiểm soát chi. Căn cứ vào dự toán và khả năng thu, nhu
cầu chi của từng quý, UBND xã lập dự toán thu, chi quý (có chia ra tháng gửi