LO âu của BỆNH NHÂN UNG THƯ điều TRỊ tại TRUNG tâm y học hạt NHÂN và UNG bướu –BỆNH VIỆN BẠCH MAI và một số yếu tố LIÊN QUAN - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

TRỊNH PHƯƠNG THẢO

LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ TẠI
TRUNG TÂM Y HỌC HẠT NHÂN VÀ UNG BƯỚU –
BỆNH VIỆN BẠCH MAI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

TRỊNH PHƯƠNG THẢO

LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ TẠI
TRUNG TÂM Y HỌC HẠT NHÂN VÀ UNG BƯỚU –
BỆNH VIỆN BẠCH MAI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN


Max

Tổ chức đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu
Thang đánh giá lo âu và trầm cảm tại bệnh viện
Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất

NC
OR

Nghiên cứu
Tỷ suất chênh

SAS
SD

Thang tự đánh giá lo âu của Zung
Độ lệch chuẩn

UICC
WHO

Hiệp hội phòng chống ung thư quốc tế
Tổ chức Y tế Thế giới


MỤC LỤ
ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................................1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................................3

2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.................................................................22
CHƯƠNG 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ......................................................................23
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu...................................................23
3.2. Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu....................................................27
3.2.1. Điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu.....................................................27
3.2.2. Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu......................................................28
3.3. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh.............................33
CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN...................................................................37
4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu...................................................37
4.2. Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu....................................................37
4.2.1.Tỷ lệ lo âu theo thang HADS...................................................................37
4.2.2. Tỷ lệ lo âu theo thang SAS.....................................................................37
4.2.3 Tỷ lệ lo âu chung.....................................................................................37
4.3. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của bệnh nhân...............................37
4.4. Hạn chế của nghiên cứu................................................................................37
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..........................................................................................38
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ..................................................................................39
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Y

DANH MỤC BẢNG


Bảng 1.1 Phân biệt u lành và u ác theo đặc tính sinh học..........................................3
Bảng 1.2. Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý..............................8
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu..............................................23
Bảng 3.2 Thông tin chung về tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu.................25
Bảng 3.3 Thông tin chung về môi trường bệnh viện................................................26
Bảng 3.4 Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang SAS.............................27

Ngày nay, nền y học và khoa học kĩ thuật phát triển hiện đại với những
phương pháp điều trị tiên tiến, hiệu quả đã mang thêm niềm hi vọng cho bệnh nhân
ung thư nhưng những gánh nặng mà họ phải chịu đựng vẫn là rất lớn [8]. Bên cạnh
việc đối mặt với các vấn đề về kinh tế như trang trải viện phí hay đau đớn về thể
xác, suy giảm sức khỏe thì những tổn thương về tinh thần, lo lắng, căng thẳng cũng
là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư.


2

Theo như nghiên cứu của tiến sĩ Bottomley A (1998) thì những triệu chứng lo âu rất
phổ biến trên bệnh nhân ung thư nhưng lại thường ít được chẩn đoán và điều trị dẫn
đến nhiều trường hợp người bệnh không tuân theo sự chăm sóc y tế tốt nhất để có
thể phát huy tối đa hiệu quả phục hồi [9]. Một nghiên cứu khác của A Malekian và
cộng sự (2008) cho thấy lo âu, trầm cảm có thể mang đến những tác động tiêu cực
sâu sắc với người bệnh ung thư về cả tình trạng chức năng, chất lượng cuộc sống,
thời gian nằm viện và hiệu quả điều trị do đó việc đánh giá đúng mức và điều trị
những rối loạn này là rất quan trọng [10].
Như vậy có thể thấy bên cạnh việc điều trị về thể chất thì người bệnh ung thư
rất cần được quan tâm chăm sóc về mặt tinh thần. Những cảm xúc tiêu cực, lo âu,
buồn phiền mà bệnh nhân ung thư đang trải qua hàng ngày cần phải được chú ý
phát hiện, tìm hiểu và có những giải pháp chăm sóc phù hợp nhằm mang đến hiệu
quả điều trị tốt nhất và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy vậy việc nghiên cứu các
vấn đề này tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu –
Bệnh viện Bạch Mai được thành lập từ tháng 12 năm 2008 và đã có những thành
tựu to lớn trong chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư với những kỹ thuật tiên tiến,
hiện đại ngang tầm các nước trong khu vực và thế giới. Hiện nay, chưa có nghiên
cứu nào về vấn đề lo âu của bệnh nhân ung thư được điều trị tại đây, do đó chúng
tôi thực hiện đề tài “Lo âu của bệnh nhân ung thư điều trị tại Trung tâm Y học
hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai và một số yếu tố liên quan” với

Hiếm có phân bào
Luôn có gián phân
Phát triển chậm
Phát triển nhanh
Không xâm lấn
Xâm lấn lan rộng
Không có hoại tử
Hay có hoại tử trung tâm
Có vỏ bọc
Không có vỏ hoặc ranh giới
Rất ít tái phát
Luôn tái phát
Không di căn
Di căn
Ít ảnh hưởng tới cơ thể
Ảnh hưởng nặng tới cơ thể
Hiện nay, người ta biết có đến hơn 200 loại ung thư trên cơ thể người, những
loại ung thư này có đặc điểm giống nhau về bản chất nhưng có nhiều điểm khác
nhau về nguyên nhân gây bệnh, tiến triển của bệnh, về phương pháp điều trị và về
tiên lượng bệnh [11].
1.1.2. Các triệu chứng lâm sàng của bệnh ung thư [11]
1.

Triệu chứng báo hiệu ung thư


4

Là những dấu hiệu lâm sàng xuất hiện tương đối sớm có thể giúp chẩn đoán
sớm được một số bệnh ung thư. Các dấu hiệu này thường nghèo nàn, ít đặc hiệu, ít


Ung thư là bệnh rất đa dạng về chủng loại, khác nhau về nguyên nhân, sự
phát triển, vị trí tổn thương, giai đoạn và tiên lượng bệnh, do đó để điều trị
đạt hiệu quả cần áp dụng nhiều phương pháp điều trị khác nhau và chỉ định
trên từng trường hợp cụ thể theo các nguyên tắc:
-

Nguyên tắc phối hợp

-

Xác định rõ mục đích điều trị

-

Lập kế hoạch điều trị

-

Bổ sung kế hoạch điều trị

-

Theo dõi sau điều trị
Một số phương pháp điều trị ung thư thường áp dụng :

-

Phẫu thuật: là phương pháp điều trị cơ bản, nó cho phép loại bỏ phần lớn tổ chức
ung thư song nó chỉ thực hiện triệt để được khi bệnh ở giai đoạn sớm, tổ chức

Như vậy có thể thấy mỗi phương pháp chỉ giải quyết được một khâu trong quá

trình điều trị, do đó theo như nguyên tắc phối hợp, các phương pháp này sẽ bổ sung
cho nhau tạo thành một quá trình điều trị hoàn chỉnh mang lại hiệu quả tốt nhất cho
người bệnh. Và việc phối hợp các phương pháp điều trị cũng là chỉ định bắt buộc
đối với nhiều loại ung thư.
1.1.4. Dịch tễ học và gánh nặng của bệnh ung thư
1.1.4.1.Trên thế giới:
Ung thư đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử
vong trên toàn thế giới, với khoảng 14 triệu người mới mắc và 8,2 triệu ca tử vong
vào năm 2012 [1] .Số lượng các trường hợp mới mắc dự kiến sẽ tăng khoảng 70%
trong 2 thập kỷ tớivà hiện nay hơn 60% tổng số các trường hợp mới mắc hàng năm
của thế giới xảy ra ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ. Các vùng này cũng
chiếm đến 70% các ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới [1], [13].
Số liệu thống kê năm 2012 cho thấy 5 loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới
là ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày và
ung thư gan. Đối với nữ giới là ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung
thư cổ tử cung và ung thư dạ dày [13]
Sử dụng thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với bệnh ung thư,gây
ra khoảng 20% các ca tử vong do ung thư và 70% các ca tử vong vì ung thư phổi
trên toàn cầu [13]. Ung thư do nhiễm virus như HBV / HCV và HPV chiếm tơi 20%
các ca tử vong do ung thư ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp [14].
Theo báo cáo về Ung thư toàn cầu năm 2008, gánh nặng ung thư đã tăng gấp
đôi trong ba mươi năm cuối cùng của thế kỷ XX, và người ta ước tính rằng điều này
sẽ tăng gấp đôi một lần nữa từ năm 2000 đến năm 2020 và gần gấp ba vào năm
2030 trên toàn thế giới [8]. Mỗi năm, ước tính nền kinh tế toàn cầu phải chi 1,16
nghìn tỷ đô la Mỹ dành cho phòng chống và điều trị ung thư còn những tổn hại về
kinh tế toàn cầu do ung thư gây ra cho các cá nhân, gia đình và xã hội ước tính



1.2.1. Một số khái niệm về lo âu


8

1.2.1.1. Lo âu bình thường
Lo âu là một hiện tượng cảm xúc tất yếu của con người trước những khó khăn,
thử thách của tự nhiên, xã hội. Lo âu cũng là tín hiệu cảnh báo trước những mối đe
dọa đột ngột, trực tiếp do đó giúp con người tồn tại và thích nghi [18].Lo âu bình
thường có chủ đề rõ ràng trong cuộc sống như công việc, học tập… và mang tính
chất nhất thời. Khi những sự kiện trong đời sống ảnh hưởng đến tâm lý chủ thể hết
tác động thì lo âu cũng không còn hoặc còn lại rất ít triệu chứng [19].
1.2.1.2. Lo âu bệnh lý
Khác với lo âu bình thường, lo âu bệnh lý có thể xuất hiện không có liên quan
tới một mối đe dọa rõ ràng nào hoặc các sự kiện tác động đã chấm dứt nhưng vẫn
còn lo âu, mức độ lo âu cũng không tương xứng với bất kì một đe dọa nào để có thể
tồn tại hoặc kéo dài. Khi mức độ lo âu gây trở ngại rõ rệt các hoạt động, lúc đó được
gọi là lo âu bệnh lý [20].
Lo âu bệnh lý thường kéo dài và lặp đi lặp lại với các triệu chứng như: mạch
nhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, lạnh chân tay, run rẩy, bất an. Lo
âu bệnh lý cũng là lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, không có chủ đề rõ ràng,
mang tính chất mơ hồ, vô lý [21], [22].
Theo Andrew R. Getzfeld (2006), sự phân biệt giữa lo âu bình thường và lo âu
bệnh lý là ở mức độ khó khăn trong kiểm soát hoặc loại bỏ lo âu [23].
Bảng 1.2. Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý [24]
Lo âu bình thường
Lo âu bệnh lý
- Lo âu không làm ảnh hưởng đến - Lo âu gây mất ổn định các hoạt động,
công việc, hoạt động hàng ngày.
ảnh hưởng đến nghề nghiệp, cuộc

không biệt định khác, rối loạn lo âu không biệt định.
Phân loại theo DSM – IV

-

Rối loạn lo âu không biệt định bao gồm rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm

-

Rối loạn hoảng sợ không bao gồm ám ảnh sợ đám đông

-

Rối loạn lo âu lan tỏa

-

Rối loạn hoảng sợ bao gồm ám ảnh sợ đám đông

-

Ám ảnh sợ đám đông không có tiền sử rối loạn hoảng sợ

-

Ám ảnh sợ xã hội

-

Ám ảnh sợ đặc hiệu

mà còn rất nhiều những vấn đề khác bao gồm sự đau đớn trong cơ thể,
những tác dụng phụ gây ra bởi các phương pháp điều trị, những thương tật
vĩnh viễn hoặc suy giảm chức năng các cơ quan, quan hệ xã hội, khả năng
chi trả… tác động đến tâm lý của họ [28], [29]. Sự cẳng thẳng tâm lý này
diễn ra hàng ngày không chỉ với bệnh nhân ung thư mà còn ảnh hưởng đến
gia đình bệnh nhân và những người chăm sóc khác. Những tổn thương về
cả thể chất và tâm thần này có thể gây ra tình trạng mất khả năng lao động
hoặc thực hiện các vai trò xã hội của người bệnh [30]. Bên cạnh đó, những
rối loạn tâm lý tiến triển hàng ngày mà không được chú ý đến có thể ảnh
hưởng lớn đến việc điều trị ung thư và gây tử vong sớm. Do đó cần có
những can thiệp để cải thiện đời sống tinh thần sẽ có thể mang đến những
hiệu quả điều trị tốt hơn cho người bệnh ung thư [29].
1.3.2. Một số nghiên cứu về lo âu trên bệnh nhân ung thư
Năm 2001, Zabora J, BrintzenhofeSzoc K, Curbow B, Hooker C và
Piantadosi S đã tiến hành một nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ căng thẳng
tâm lý của các bệnh nhân ung thư với cỡ mẫu rất lớn gần 4500 người (n =
4496). Kết quả cho thấy tỷ lệ lo âu, căng thẳng và đau khổ về tâm lý trung
bình là 35,1% và số điểm trung bình cao nhất đối với các triệu chứng lo âu,
trầm cảm thuộc về nhóm bệnh nhân ung thư tuyến tụy [31].
Nhằm đánh giá ảnh hưởng của lo âu, trầm cảm đến chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân ung thư, Smith EM, Gomm SA và Dickens CM (2003) đã sử
dụng công cụ Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS) tiến hành
nghiên cứu trên 68 bệnh nhân gồm 33 nam và 35 nữ. Kết quả cho thấy có
25% bệnh nhân lo âu ( điểm số lo âu ≥ 11), 22% bệnh nhân trầm cảm và
những rối loạn này có liên quan đến sự suy giảm chất lượng cuộc sống [32].
Cùng cho kết luận rối loạn lo âu làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh


11



12

chất lượng cuộc sống tốt hơn về sức khỏe tâm thần (p
trạng bệnh của họ. Điều này có thể làm cho những người bệnh trong nhóm
không biết chẩn đoán của mình có thêm nhiều hi vọng hơn do đó có thể dẫn
đến điểm số về lo âu cũng thấp hơn [47]. Ngoài ra, một nghiên cứu khác
của Nordin K và cộng sự (1996) trên 141 bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa


14

cho kết quả 15% bị rối loạn lo âu theo thang đo HADS [48], trong năm
1997 Nordin K và cộng sự tiếp tục làm một nghiên cứu khác cũng đo theo
thang HADS trên các bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa (n=139) thì tỉ lệ lo
âu là 17% [49]. Môt nghiên cứu khác tại Trung Quốc năm 2004 trên 108
bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa của Ke-Jun Nan và cộng sự đã sử dụng
thang đo SAS (Zung self-rating anxiety scale) cho kết quả tới 46,3% bệnh
nhân bị lo âu ( tổng điểm >50%) [50].
Như vậy có rất nhiều nghiên cứu cho thấy các triệu chứng lo âu trên
bệnh nhân ung thư là thường gặp, tuy nhiên việc ước tính tỉ lệ lo âu của người
bệnh ung thư lại rất khác nhau, có báo cáo đã cho thấy tỉ lệ này dao động trong
khoảng từ 1,5% đến gần 50% [51]. Tại Việt Nam, những nghiên cứu về lo âu
trên bệnh nhân ung thư là rất hạn chế. Năm 2014, Trương Thị Phương đã
nghiên cứu về tỉ lệ lo âu trầm cảm trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K
(n=290) sử dụng thang đo HADS cho kết quả 27,2% có triệu chứng lo âu
trong đó tỉ lệ lo âu thực sự là 11,4%. Điểm lo âu trung bình là 5,7± 3,8 (min=0,
max=19), tỉ lệ lo âu nữ (19,7%) cao hơn so với nam (4,4%). Loại ung thư vú
và cổ tử cung cho tỷ lệ lo âu cao nhất 26,3% và 19,6% [43].
1.3.3. Các thang đo đánh giá tình trạng lo âu ở bệnh nhân ung thư
Có nhiều thang điểm trắc nghiệm để đánh giá các mức độ rối loạn tâm lý ở bệnh
nhân, trong đó có thang đo lo âu Zung, thang tự đánh giá mức độ lo âu S-TAI (StateTrait Anxiety Inventory), thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale
– HARS), thang đánh giá lo âu và trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện (HADS)…
- Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self - Rating Anxiety Scale):do W.W.

HARS) : Đây là thang đo được sử dụng rất rộng rãi trên lâm sàng đặc biệt là trong
các nghiên cứu hiệu quả điều trị lo âu [54], [55]. Thang đo này bao gồm 14 nhóm
câu hỏi cho các triệu chứng và tương đối chi tiết, thường được sử dụng đánh giá các
triệu chứng lo âu trong rối loạn lo âu lan tỏa [24].
- Thang đánh giá lo âu và trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện HADS :
Đây là công cụ có giá trị và đáng tin cậy để sàng lọc, đánh giá các triệu chứng lo âu
và trầm cảm của bệnh nhân tại bệnh viện [56], [57]. Thang đo này rất đơn giản, dễ
hiểu và dễ dàng hoàn thành trong khoảng thời gian chưa đến 5 phút, gồm 14 câu hỏi


16

tự trả lời về những triệu chứng của chính người bệnh trong thời gian tuần kế trước,
bao gồm 7 câu đánh giá lo âu (HADS – A) và 7 câu cho trầm cảm (HADS – D).
Mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn theo các mức độ tương ứng với các số điểm từ 0 đến 3.
Sau khi tính tổng điểm cho mỗi phần, từ 11 điểm trở lên là rối loạn lo âu hay trầm
cảm thực sự, từ 8 đến 10 điểm là có thể có triệu chứng của lo âu hay trầm cảm, từ 0
đến 7 điểm là bình thường [53], [58], [59].
Nhìn chung HADS là công cụ đáng tin cậy, ngắn gọn, dễ sử dụng và có độ
nhạy cao với sự thay đổi [52]. Bên cạnh đó, thang đo này rất dễ thực hiện để phát
hiện một tỉ lệ lớn những rối loạn lo âu thường gặp ở bệnh nhân ung thư [60], [61].
Tại Việt Nam, thang đo này đã được mua bản quyền và dịch sang tiếng Việt bởi
Khoa nghiên cứu y học hành vi thuộc Trường Đại học New South Well, Úc [43].


17

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

tâm thần).
2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu
2.4.1. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho việc ước lượng một tỷ
lệ trong quần thể, với α=0,05; ε = 0,2; p = 0,27 [43]:
Trong đó:


18

-

n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết

-

α: mức ý nghĩa thống kê (Chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, thay vào bảng
ta được Z(1 – α/2) = 1,96)

-

p: tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng lo âu trong nghiên cứu của Trương Thị Phương
(2014).

-

ε: sai số mong muốn giữa mẫu và quần thể (sai số tương đối)
Như vậy cỡ mẫu tối thiểu cần thiết trong nghiên cứu là 260. Xem xét tỷ lệ loại

trừ là 10%, vậy cỡ mẫu cần thiết là 286 bệnh nhân.

2.6. Biến số và chỉ số nghiên cứu
Mục

Nhóm

Biến số

tiêu biến số
Thông
tin

Chỉ số và cách tính
Tỷ lệ % nam và nữ: Số bệnh nhân (BN) nam

Giới

(nữ) trên tổng số BN tham gia nghiên cứu

Tuổi

(NC).
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN từng nhóm tuổi trên tổng

chung

số BN tham gia NC.
Tình trạng hôn Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng loại tình trạng
nhân
hôn nhân trên tổng số BN tham gia NC.
Số năm học hoàn Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm năm học


về

Loại ung thư

Tỉ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm khả năng
chi trả trên tổng số BN tham gia nghiên cứu
+ Tỷ lệ % : tỷ lệ mỗi loại hoặc nhóm bệnh
ung thư trên tổng số BN tham gia NC.
+ Tỷ lệ % theo giới: tỷ lệ mỗi loại hoặc nhóm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status