BỘ TƢ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨ U SO SÁNH
PHÁP LUẬT PHÒ NG, CHỐ NG THAM NHŨNG
CỦA MỘT SỐ QUỐ C GIA CHÂU Á
ĐÁP ỨNG YÊ U CẦU SỬA ĐỔI NHỮNG VẤN ĐỀ TRỌ NG TÂM
CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG VIỆT NAM
MÃ SỐ: LH - 2016 - 41/ĐHL - HN
Chủ nhiệm đề tài:
TS. Đào Lệ Thu
Thư ký đề tài:
NCS. Đặng Thị Hồng Tuyến
HÀ NỘI - 2017
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật Hình sự
BLHS
C ng ƣớc Liên h p qu c về ph ng ch ng Tham nh ng
Tổ chức h p tác và phát triển kinh tế
OEDC
Ủy ban ch ng tham nh ng và quyền c ng dân Hàn Qu c
ARCR
Uỷ ban độc lập ch ng tham nh ng Hàn Qu c
KICAC
Ủy ban độc lập về ch ng tham nh ng Hồng K ng
ICAC
Ủy ban diệt trừ tham nh ng Indonesia
KPK
Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ƣơng của Đảng Trung Qu c
CCDI
M ỤC LỤC
Trang
BỐI CẢNH LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
CỦA VIỆT NAM
II
10
SO SÁNH NHỮ NG CHẾ ĐỊNH CƠ BẢN VỀ PHÒNG
NGỪ A VÀ XỬ L Ý T HAM NHŨNG TRONG PHÁP
LUẬT CỦA M ỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á
III
18
NHỮ NG ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC SỬ A ĐỔI, BỔ
SUNG LU ẬT PHÒNG, CHỐNG T HAM NHŨNG C ỦA
VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ NGHIÊ N CỨU SO SÁNH
47
KẾT LUẬN
64
PHẦN THỨ HAI
CÁC CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1
65
126
153
So sánh mô hình tổ chức cơ quan ch ng tham nh ng theo
pháp luật một s qu c gia Châu Á và đề xuất sửa đổi Luật
PCTN của Việt Nam
Chuyên đề 6
189
So sánh quy định về ph ng, ch ng tham nh ng trong khu
vực tƣ của một s qu c gia Châu Á và đề xuất sửa đổi
Luật PCTN của Việt Nam
229
PHẦN THỨ BA
BÀI VIẾT TẠP CHÍ
274
PHẦN THỨ NHẤT
BÁO CÁO TỔNG THUẬT
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1
coi đây là nhiệm vụ then chốt, cơ bản và lâu dài; sửa đổi, bổ sung những quy định mà qua
thực tiễn công tác PCTN cho thấy đã rõ việc thực hiện còn mang tính hình thức, chưa
hiệu quả; lựa chọn các vấn đề sửa đổi, bổ sung có trọng tâm, trọng điểm nhằm tạo bước
2
chuyển thực chất trong công tác PCTN như: kiểm soát xung đột lợi ích; kiểm soát hiệu
quả biến động tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và có cơ chế phát hiện
và thu hồi tài sản tham nhũng; củng cố hệ thống cơ quan PCTN; đặc biệt là từng bước mở
rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực ngoài nhà nước...1
Chính vì vậy, việc nghiên cứu so sánh một số hệ thống pháp luật về PCTN ở các
quốc gia Châu Á đã có những thành công nhất định trong việc sử dụng pháp luật đấu
tranh chống tham nhũng để rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc sửa đổi Luật
PCTN của Việt Nam là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa.
II.
Tình hình nghiên cứu
Trong vòng 10 năm trở lại đây những nghiên cứu về về PCTN đã được thực hiện
với số lượng đáng kể và ở các góc độ khác nhau như: xã hội học, kinh tế học, tội phạm
học, khoa học luật hình sự, v.v...và ở nhiều cấp độ cũng như phạm vi khác nhau. Từ góc
độ luật học, có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình sau:
1. Các nghiên cứu trong nước:
- TSKH Đào Trí Úc (chủ nhiệm), Đề tài độc lập cấp nhà nước “Luận cứ khoa học
cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh chống
tham nhũng đến năm 2010”, mã số đề tài: ĐTĐL.2005/17G, nghiệm thu năm 2005.
Đề tài chủ yếu đề cập đến vấn đề đường lối, chính sách đấu tranh chống tham
nhũng từ góc độ lý luận và ở cấp độ vĩ mô. Một vài dẫn chứng so sánh về pháp luật
chống tham nhũng của quốc gia khác được đưa ra nhưng không có tính hệ thống,
hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quy định của Luật PCTN - thực trạng
và giải pháp, Đề tài cấp bộ. Công trình này chỉ nghiên cứu về một nội dung nhỏ,
vấn đề công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong
Luật PCTN, mà không nghiên cứu tổng thể các vấn đề liên quan đến luật PCTN.
Bên cạnh đó, công trình cũng không đi sâu vào các nghiên cứu so sánh luật.
Có thể thấy các nghiên cứu này đã phân tích pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực khác
nhau của công tác PCTN, ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế. Tuy nhiên, hoặc các nghiên
cứu này không tiếp cận nội dung vấn đề từ góc độ so sánh luật, hoặc nếu có cũng chỉ
dừng ở từng mảng vấn đề mà không đặt phạm vi tiếp cận toàn bộ các nội dung cơ bản của
pháp luật về PCTN, hoặc tuy đề cập đến kinh nghiệm quốc tế nhưng thực chất chỉ thuần
túy nghiên cứu pháp luật nước ngoài chứ không phải là một nghiên cứu so sánh luật đúng
nghĩa. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chưa đặt trong bối cảnh sửa đổi toàn diện Luật
PCTN Việt Nam năm 2005. Tương tự như vậy, có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu sau:
4
- Cục Chống tham nhũng - Thanh tra Chính phủ (2013), Một số vấn đề về quản lý
nhà nước trong PCTN, Đề tài cấp bộ.
- Viện Khoa học thanh tra (2015), Tham nhũng và PCTN trong khu vực tư ở Việt
Nam, Đề tài cấp bộ.
- Viện Khoa học thanh tra (2015), PCTN trong các cơ quan thực hiện chức năng
PCTN, do ThS. Tạ Thu Thủy, Viện Khoa học thanh tra làm chủ nhiệm đề tài, Đề
tài cấp cơ sở.
- Viện Khoa học Thanh tra (2015), Vai trò của doanh nghiệp, hiệp hội doanh
nghiệp, hiệp hội ngành nghề trong trong PCTN ở Việt Nam hiện nay, do ThS.
Phạm Thị Huệ, Phó Trưởng phòng Thông tin – Tư liệu & Thư viện, Viện Khoa học
thanh tra làm chủ nhiệm đề tài, Đề tài cấp cơ sở.
- Thanh tra Chính phủ (2014), Một số kinh nghiệm quốc tế về công tác PCTN, Nxb
về các cơ chế xử lý và thực thi pháp luật PCTN. Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ
yếu tập trung vào cơ chế phối hợp giữa các chủ thể có trách nhiệm trong công tác
PCTN mà không nghiên cứu toàn bộ những nội dung trọng tâm liên quan đến pháp
luật phòng, chống tham nhũng. Bên cạnh đó, pháp luật PCTN của các quốc gia
châu Á đặt trong mối liên hệ so sánh với pháp luật PCTN của Việt Nam cũng
không phải là nội dung nghiên cứu chủ đạo của công trình này. Hơn nữa, công
trình này được thực hiện nhằm phục vụ cho việc sửa đổi Luật PCTN vào năm
2012, vì vậy, cho đến nay, ở thời điểm nước ta đang xây dựng Dự thảo Luật PCTN
mới, những nghiên cứu đó không còn mang tính thời sự.
- UNODC (2013), Good practices in ensuring compliance with Article 9 of the
United Nations Convention against Corruption (Những thực tiễn tốt trong việc bảo
đảm thực thi Điều 9 UNCAC), Phòng Xuất bản và Thư viện, Văn phòng Liên Hợp
quốc tại Viên, Áo. Đây là cuốn sách hướng dẫn về chống tham nhũng trong lĩnh
vực mua sắm công và quản trị tài chính công, một lĩnh vực thuộc mảng phòng
ngừa tham nhũng. Những thực tiễn tốt được đề cập bao gồm pháp luật của Georgia,
Slovakia, Áo và Mê-xi-cô. Có thể thấy công trình này không hướng tới nghiên cứu
thực tiễn thực thi Điều 9 UNCAC ở các nước châu Á và đặc biệt không có liên hệ
với pháp luật PCTN Việt Nam.
- Arsema Tamyalew, A Review of the Effectiveness of the Anti-corruption and Civil
6
Rights Commission of the Republic of Korea (Đánh giá hiệu quả của Ủy ban
Chống Tham nhũng và Quyền công dân của Hàn Quốc), Nghiên cứu của Ngân
hàng thế giới (The World Bank). Nghiên cứu này chủ yếu đánh giá về tổ chức và
hoạt động của cơ quan độc lập chống tham nhũng của Hàn Quốc, không đặt mục
tiêu nghiên cứu so sánh với mô hình cơ quan độc lập chống tham nhũng của các
quốc gia khác.
Như vậy mặc dù nghiên cứu pháp luật về PCTN đã được thực hiện ở nhiều phạm
Á, trong những nội dung mà phạm vi nghiên cứu đề tài đặt ra.
7
- Một số phương pháp khác được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài là tổng hợp,
phân tích, thống kê,...
VI.
Các sản phẩm của đề tài
Kết quả thực hiện đề tài được thể hiện ở những sản phẩm chủ yếu sau:
1. Báo cáo tổng thuật kết quả nghiên cứu đề tài
2. Các chuyên đề nghiên cứu, gồm 5 chuyên đề:
- Chuyên đề 1: Những vấn đề chung về nghiên cứu so sánh pháp luật phòng,
chống tham nhũng của một số quốc gia Châu Á trong bối cảnh sửa đổi Luật
PCTN của Việt Nam.
- Chuyên đề 2: So sánh quy định về minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập
trong pháp luật của một số quốc gia Châu Á và đề xuất sửa đổi Luật PCTN
của Việt Nam.
- Chuyên đề 3: So sánh quy định về kiểm soát xung đột lợi ích trong pháp
luật của một số quốc gia Châu Á và đề xuất sửa đổi Luật PCTN của Việt
Nam.
- Chuyên đề 4: So sánh quy định về xử lý tham nhũng trong pháp luật của
một số quốc gia Châu Á và đề xuất sửa đổi Luật PCTN của Việt Nam.
- Chuyên đề 5: So sánh mô hình tổ chức cơ quan chống tham nhũng theo
pháp luật một số quốc gia Châu Á và đề xuất sửa đổi Luật PCTN của Việt
Nam.
- Chuyên đề 6: So sánh quy định về phòng, chống tham nhũng trong khu vực
tư của một số quốc gia Châu Á và đề xuất sửa đổi Luật PCTN của Việt
giải pháp pháp luật đã được nhiều quốc gia Châu Á lựa chọn để giải quyết cùng vấn đề.
Kết quả cuối cùng của đề tài thể hiện bằng những đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật PCTN
Việt Nam trên cơ sở rút kinh nghiệm các giải pháp pháp luật của các nước Châu Á đã
nghiên cứu so sánh, đặc biệt là trong sự gắn kết với Dự thảo Luật PCTN sửa đổi. Các vấn
đề nghiên cứu của đề tài được khái quát như sau:
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á
TRONG BỐI CẢNH LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA VIỆT
NAM
1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu so sánh pháp luật phòng, chống tham nhũng của
một số nước Châu Á trong bối cảnh sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng
của Việt Nam
Luật PCTN của Việt Nam 2005 đang được sửa đổi, bổ sung toàn diện. Thực tiễn
đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam cho thấy việc áp dụng Luật PCTN (Luật PCTN)
còn chưa hiệu quả và còn nhiều hạn chế, vướng mắc. Luật PCTN của Việt Nam còn bị
đánh giá là nặng tính hình thức, chủ yếu là những chế định mang tính hành chính, những
quy định về phòng ngừa tham nhũng chưa cụ thể và khả thi, tính cưỡng chế chưa cao,
chưa tạo được nhiều cơ chế đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả (đặc biệt là cơ chế bảo
đảm trách nhiệm và sự hợp tác của các cơ quan tham gia vào công tác PCTN), chưa có
quy định về PCTN ở khu vực ngoài nhà nước để bảo đảm sự bình đẳng và tính đồng bộ
10
trong PCTN, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế ở nhiều khía cạnh.2 Như vậy, việc rà soát
những quy định của Luật cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá những khiếm khuyết nội
tại của Luật, chỉ ra những hạn chế trong thực tiễn áp dụng luật, đánh giá tính tương thích
của Luật so với UNCAC mà Việt Nam là quốc gia thành viên, đồng thời so sánh với quy
định của pháp luật PCTN của các quốc gia khác, trong đó có một số quốc gia Châu Á có
nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước
luật hay ngôn ngữ văn bản mà tập trung vào các giải pháp pháp luật được sử dụng trong
các nhà nước khác nhau để giải quyết cùng vấn đề phòng ngừa và xử lý tham nhũng.
Về mặt cách thức, việc nghiên cứu so sánh có thể được tiến hành trên cơ sở tìm
hiểu, rà soát, tổng hợp các quy định của pháp luật PCTN của từng quốc gia được lựa chọn
nghiên cứu, sau đó đưa ra những đánh giá, kết luận so sánh về từng vấn đề trong pháp luật
mỗi quốc gia đó và pháp luật PCTN của Việt Nam. Tuy nhiên, cách so sánh này đi cùng
với yêu cầu về việc nghiên cứu một cách đầy đủ các chế định về PCTN khác nhau trong
luật của mỗi quốc gia có thể dẫn đến có sự lặp lại nội dung trong từng chuyên đề nghiên
cứu. Do đó, nghiên cứu so sánh pháp luật PCTN của các quốc gia theo chủ đề, theo vấn
đề là cách hấp dẫn hơn.
Những vấn đề tiếp theo liên quan đến các bước để thực hiện nghiên cứu so sánh
luật.4 Các bước đó có thể được khái quát bao gồm: (1) Xác định chế định, quy phạm pháp
luật về PCTN cần so sánh và xây dựng giả thuyết để nghiên cứu so sánh; (2) Lựa chọn hệ
thống pháp luật phù hợp của các quốc gia Châu Á có những điểm tương đồng về quan
điểm PCTN hoặc bối cảnh PCTN hoặc cơ chế PCTN để so sánh; (3) Mô tả các giải pháp
pháp luật về PCTN của các hệ thống pháp luật được lựa chọn về vấn đề nghiên cứu so
sánh; (4) Xác định những điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về PCTN giữa
các hệ thống pháp luật trên cơ sở hệ thống tiêu chí so sánh; (5) Giải thích nguồn gốc của
những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật về PCTN giữa các hệ
thống pháp luật, đồng thời phân tích đánh giá ưu điểm và hạn chế của các giải pháp pháp
luật về PCTN của các hệ thống pháp luật được so sánh.
3
Về vấn đề phương pháp chức năng của luật so sánh và chức năng tương đương của các chế định hoặc các quy phạm
pháp luật ở các hệ thống pháp luật khác nhau, xem: Ralfs Micheals, The Functional Method of Comparative Law,
trong sách “The Oxford Handbook of Comparative Law”, Reimann, Mathias, Zimmermann và Reinhard (chủ biên),
Oxford University Press, 2006.
4
Về các bước để thực hiện một công trình so sánh luật, xem: Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật so sánh, Nxb.
Khái niệm xung đột lợi ích và việc kiểm soát xung đột lợi ích còn khá mới mẻ ở
Việt Nam. Trong khi đó, nhìn trên bình diện quốc tế đây lại là vấn đề được quan tâm
5
6
Thanh tra Chính phủ, Tờ trình Dự thảo Luật PCTN sửa đổi, tháng 7/2016.
Xem: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN của Chính phủ tháng 7/2016.
13
trong PCTN. Kiểm soát xung đột lợi ích được coi là biện pháp phòng ngừa tham nhũng
hiệu quả, bởi nó giúp hạn chế ở mức cao nhất nguyên nhân của tham nhũng. Xuất phát từ
tầm quan trọng của việc kiểm soát xung đột lợi ích trong phòng ngừa tham nhũng, Dự
thảo Luật đã quy định thành một chế định riêng bao gồm các điều về khái niệm; trách
nhiệm thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích; trách nhiệm xử lý thông tin, báo cáo, thẩm
quyền quy định và thực hiện việc kiểm soát xung đột lợi ích trong cơ quan, tổ chức, đơn
vị.Nghiên cứu so sánh những quy định cụ thể trong pháp luật của nhiều nước châu Á về
xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích sẽ góp phần đánh giá những điểm mới trong
quy định về nội dung này của Dự thảo Luật PCTN Việt Nam.
Nội dung tiếp theo được xác định là trọng tâm của lần sửa đổi này là quy định về
xử lý tham nhũng.
Tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN cho thấy quy định về việc xử lý kỷ luật đối
với người có hành vi tham nhũng chưa mang tính khả thi, thiếu tính răn đe. Bên cạnh đó
Luật cũng chưa thể hiện được mối liên hệ rõ nét với những quy định về xử lý tội phạm
tham nhũng trong BLHS (BLHS). Dự thảo Luật sửa đổi lần này đã quy định một chương
riêng về xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật về PCTN. Mục đích của việc
sửa đổi có tính tổng thể này là nhằm thể hiện sự nghiêm minh trong việc xử lý tham
nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật về PCTN, tăng cường hiệu quả thực thi Luật
PCTN và hiệu quả của công tác PCTN. Việc nghiên cứu những quy định mang tính
quy định cụ thể về chủ thể, hành vi tham nhũng ở khu vực ngoài nhà nước để định hướng
cho việc hướng dẫn thi hành những quy định liên quan trong BLHS; thứ ba là để bảo đảm
tính liêm chính trong kinh doanh và bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh của Việt
Nam trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế; thứ tư là để kịp thời phòng ngừa và xử lý hiện
tượng tham nhũng ở khu vực ngoài nhà nước đã trở nên tương đối phổ biến trong lĩnh vực
kinh doanh tại Việt Nam. Vì đây là những nội dung còn rất mới mẻ đối với pháp luật về
PCTN của Việt Nam nên việc nghiên cứu so sánh với pháp luật của các quốc gia châu Á
sẽ góp phần quan trọng vào việc đánh giá, hoàn thiện chế định PCTN trong kinh doanh
của Dự thảo Luật PCTN sửa đổi.
4. Những yêu cầu về kết quả nghiên cứu so sánh đáp ứng yêu cầu sửa đổi
Trước hết, cần nhận thức rằng kết quả nghiên cứu so sánh cần được thể hiện bằng:
(i) những phát hiện về điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về những nội dung
trọng tâm nêu trên của pháp luật về PCTN; (ii) những đánh giá về giá trị và hiệu quả của
15
những giải pháp pháp luật của các quốc gia được nghiên cứu so sánh trong công tác
PCTN; (iii) những liên hệ với thực tiễn của Việt Nam về PCTN để luận giải cho sự cần
thiết học hỏi kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài cũng như sự phù hợp của những giải
pháp pháp luật đó trong bối cảnh Việt Nam; (iv) kết quả cuối cùng và quan trọng nhất
chính là những đề xuất mang tính nguyên tắc kết hợp với những đề xuất cụ thể cho các
quy định trong Dự thảo Luật PCTN sửa đổi, chính vì vậy các quy định được đưa ra trong
Dự thảo cần phải được bám sát để bình luận, so sánh.
Trên cơ sở những nghiên cứu so sánh quy định của pháp luật PCTN nước ngoài về
một số nội dung trọng tâm được đặt ra trong Dự thảo Luật PCTN sửa đổi, các chuyên đề
so sánh luật trong phạm vi đề tài này cần đạt được những kết quả sau phục vụ việc sửa
đổi, bổ sung Luật PCTN Việt Nam 2005:
Thứ nhất, đối với quy định về kê khai và kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập
Việc nghiên cứu so sánh cần tập trung đưa ra những đề xuất quy định các vấn đề:
nguyên mô hình này, bên cạnh việc quy định thêm vai trò của Ủy ban kiểm tra Đảng. Đây
là nội dung đang rất được chú ý trong lần sửa đổi, bổ sung luật này.
Chuyên đề nghiên cứu so sánh về nội dung này cần chỉ ra được kinh nghiệm lập
pháp của các nước châu Á trong việc quy định cơ chế bảo đảm tính hiệu quả của mô hình
đa cơ quan PCTN; quy định tăng cường sức mạnh và cơ chế bảo đảm tính độc lập trong
hoạt động của các cơ quan PCTN, đặc biệt là cơ quan xử lý tham nhũng; quy định về cơ
chế đối trọng trong việc kiểm soát quyền lực của các cơ quan PCTN... Bên cạnh đó,
những điểm hạn chế trong mô hình đa cơ quan mà các hệ thống pháp luật khác gặp phải
cũng cần được phân tích, bình luận để làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc
khắc phục nhược điểm của mô hình này trong bối cảnh sửa đổi luật.
Chuyên đề cũng cần chỉ ra được những xu thế lập pháp về mô hình cơ quan PCTN
của pháp luật các nước châu Á, những ưu điểm của việc quy định một cơ quan độc lập
(chuyên trách) về PCTN. Đây sẽ là cơ sở cho việc đề xuất những sửa đổi về mô hình cơ
quan PCTN của Việt Nam trong tương lai.
Thứ năm, đối với quy định về tham nhũng trong kinh doanh (khu vực tư)
Nghiên cứu so sánh luật về vấn đề này cần đánh giá và rút ra kinh nghiệm lập pháp
của các quốc gia khác trong việc quy định về phạm vi của tham nhũng trong khu vực tư
(hành vi, chủ thể), yêu cầu của phòng ngừa, kiểm soát và xử lý tham nhũng trong khu vực
tư. Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu chuyên đề cần phản ánh được thực tiễn trong đó pháp
17
luật PCTN của các quốc gia châu Á tạo dựng và duy trì một môi trường kinh doanh lành
mạnh, liêm chính, phi tham nhũng bằng quy định về các nguyên tắc, yêu cầu, hướng dẫn
về xây dựng các chính sách, biện pháp phòng ngừa và xử lý tham nhũng. Một nội dung
khác cần được thể hiện trong kết quả nghiên cứu so sánh là kinh nghiệm quy định về xử
lý vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng trong khu vực tư.
II. SO SÁNH NHỮNG CHẾ ĐỊNH CƠ BẢN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ
THAM NHŨNG TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á
duy trì hệ thống này. Bên cạnh đó, phạm vi đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản của Việt
Nam lại rộng hơn các quốc gia chỉ yêu cầu một số chủ thể đặc biệt, những cán bộ, công
chức thuộc nhánh lập pháp hay tư pháp phải minh bạch tài sản, thu nhập (ví dụ
Taijikistan, Bangladesh…). Quy định này của Việt Nam đảm bảo được sự công bằng,
nhằm tránh bỏ sót các đối tượng có nguy cơ tham nhũng đến từ cả ba nhánh quyền lực.
Tuy nhiên, Thông tư Số 08/2013/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ liệt kê tới 9 nhóm
đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập lại cho thấy pháp luật Việt Nam quy định
vấn đề này có phần khá rộng và quá chi tiết so với mặt bằng chung các quốc gia châu Á
và so với yêu cầu thực tiễn cũng như so với khả năng kiểm soát việc kê khai tài sản của
cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, hầu hết pháp luật các quốc gia đều mở rộng đối
tượng kê khai tới các gia đình của cán bộ, công chức. Điểm này cho thấy các nước có cái
nhìn tương đối giống nhau trong việc ngăn chặn và phát hiện việc chuyển giao tài sản.
Thứ hai, thông tin phải kê khai
Mặc dù các quốc gia thường sử dụng thuật ngữ “kê khai tài sản” (assets
declarations” nhưng trên thực tế, người có nghĩa vụ còn phải công bố, kê khai những
thông tin khác nhau không chỉ riêng tài sản. Đó là: thu nhập, tài sản, các khoản nợ, quà
tặng, công tác phí, lợi ích tiền và không phải là tiền, xác định vợ/chồng, người thân và
những người có liên quan khác. Những yêu cầu về thông tin phải kê khai ở các quốc gia
châu Á tương đối đa dạng. Đối với Việt Nam hiện nay, chỉ có một mẫu kê khai tài sản
duy nhất. Trong đó yêu cầu chủ thể có nghĩa vụ kê khai phải khai báo thông tin về các
loại tài sản như: các loại nhà, công trình xây dựng; quyền sử dụng đất; tiền; ô tô, mô tô,
xe máy, xe gắn máy; kim loại quý, đá quý, cổ phiếu, vốn góp, giấy tờ có giá; tài sản, tài
khoản ở nước ngoài; các khoản nợ; tổng thu nhập trong năm… Nhìn chung, Việt Nam
tương đối giống với nhiều quốc gia châu Á khác ở chỗ liệt kê khá chi tiết những thông tin
gì cần phải kê khai. Tuy nhiên, một nội dung chưa được quy định trong luật pháp Việt
19
Nam cũng như nhiều nước, đó là kê khai các khoản chi phí lớn của quan chức, ví dụ việc