[[[[¬
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN BÍCH VÂN
PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Định hướng ứng dụng
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN BÍCH VÂN
PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
Bộ luật lao động
NLĐ
Người lao động
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
LĐCB
Lao động cưỡng bức
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO
7
ĐỘNG CƯỠNG BỨC VÀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
CƯỠNG BỨC
1.1
Khái niệm và đặc điểm của lao động cưỡng bức
18
1.3
Sự điều chỉnh của pháp luật đối với lao động cưỡng bức
20
1.3.1
Sự cần thiết phải điều chỉnh của pháp luật đối với lao động
20
cưỡng bức
1.3.2
Các quy định về lao động cưỡng bức ở một số quốc gia
24
Kết luận chương I
30
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
31
bắt buộc
2.1.1.5 Lao động của người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
37
dưỡng
2.1.1.6 Lao động của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo
39
dục bắt buộc.
2.1.1.7 Lao động là người di trú
40
2.1.1.8 Lao động của người thực hiện nghĩa vụ quân sự
43
2.1.2
Các chế tài pháp lý đối với lao động cưỡng bức
43
2.2
Thực tiễn thi hành pháp luật lao động cưỡng bức tại thành phố
53
2.2.2.5 Lao động là người nghiện ma túy trong các cơ sở cai nghiện
55
bắt buộc
2.2.2.6 Lao động của người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
56
dưỡng, cơ sở giáo dục và lao động có tính chất bắt buộc
2.2.3
Đánh giá
57
Kết luận chương II
60
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN
61
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC
3.1
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Lao động cưỡng bức đang là một vấn đề nhức nhối hiện nay, là mặt trái
của quá trình toàn cầu hóa. Nó xâm phạm đến một trong những quyền cơ bản
của con người, đó là quyền tự do lao động, tự do thân thể. Theo báo cáo của
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), LĐCB trong khu vực kinh tế tư nhân tạo ra
150 tỷ USD lợi nhuận bất hợp pháp mỗi năm trên toàn thế giới. Khu vực châu
Á – Thái Bình Dương chiếm tỉ lệ lớn nhất (56% trong tổng số LĐCB trên
toàn cầu). Tuy nhiên, lợi nhuận hàng năm thu về từ mỗi nạn nhân tại khu vực
châu Á – Thái Bình Dương (5.000 USD/người/năm) thấp thứ hai trên thế giới.
Người ta kiếm được nhiều tiền nhất từ mỗi nạn nhân ở các nền kinh tế phát
triển
(35.000
USD/người/năm)
và
ít
nhất
Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Việt Nam. Vì vậy, nhu
cầu lao động tại Hà Nội rất lớn. Bên cạnh đó với tốc độ tăng dân số nhanh,
lực lượng lao động của Hà Nội không ngừng dồi dào hơn. Theo thống kê gần
đây, Hà Nội là một trong 5 thành phố có lượng cung ứng lao động lớn nhất cả
nước. Với đặc điểm số lượng lao động lớn, Hà Nội có thể là nơi diễn ra tình
trạng LĐCB.
Với những lý do trên, học viên đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về LĐCB và
thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sỹ luật học với mong muốn đóng góp một số ý kiến và quan điểm trong
quá trình hoàn thiện quy định pháp luật về LĐCB trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1 Về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
LĐCB là vấn đề mang tính toàn cầu, không chỉ được ILO quy định trong
các văn kiện pháp lý đối với các quốc gia thành viên mà còn là đề tài được
quan tâp tiếp cận, nghiên cứu với nhiều góc độ, phương diện khác nhau. Có
thể kể đến mộ;t số nghiên cứu như: Cuốn sách “Forced Labor: Coercion and
Exploitation in the Private Economy” (2009) (LĐCB : cưỡng bức và bóc lột
trong nền kinh tế tư nhân) được giới thiệu bởi hai chuyên gia của ILO: Beate
Andrees và Patrick Belser; Cuốn sách “Slavery, Forced labor, Debt bondage,
and Human Traficking: From Conceptional Confusion to Targeted Solutions”
(2011) của Ann Jordan; Báo cáo “How to Combat Forced Labour and
Trafficking” (2009) của tổ chức Liên đoàn công đoàn quốc tế (ITUC); Bài
viết: “Compensation for Forced during World War II in Nazi Germany”, tác
giả Siefert Achim đăng trên tạp chí International Journal of Comparative
Labour Law and Industrial Relation, Vol.17, Số 4/2001; Sách “A perspective
plan to eliminate forced labour in India” (Kế hoạch tổng thể để xóa bỏ LĐCB
ở Ấn Độ) của Tiến sĩ L. Mishra, 2001; Cuốn sách “Regulation and
Enforcement to Tackle Foced Labour in the UK: A Systematic Response?”
(2012) của tác giả Alex Balch thuộc tổ chức Joseph Rowntree Foundation…
sách “Hỏi đáp về công ước số 29 về LĐCB hoặc bắt buộc của tổ chức
lao động quốc tế” (2007) do Vụ pháp chế, Bộ lao động - thương bình
4
và xã hội; Tập sách “Đấu tranh chống LĐCB
- Sổ tay dành cho
NSDLĐ và doanh nghiệp” (2008) do Tổ chức lao động Quốc tế và
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp soạn thảo. Nhìn
chung, vấn đề LĐCB đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận trên một số
phương diện khác nhau trong phạm vi nhất định nhưng vẫn thiếu vắng các
nghiên cứu, các cuộc điều tra, thống kê liên quan đến thực trạng pháp luật về
chống LĐCB ở Việt Nam một cách hệ thống. Do đó, nghiên cứu về vấn đề
LĐCB ở nước ta hiện nay vẫn còn hạn chế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng tới mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về LĐCB, tìm
hiểu thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về LĐCB cũng như thực tiễn thi
hành pháp luật về LĐCB tại thành phố Hà Nội, từ đó tìm kiếm các giải pháp
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật điều chỉnh những nội dung
pháp lý về LĐCB trên phạm vi thành phố Hà Nội nói riêng cũng như Việt
Nam nói chung.
Để thực hiện mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ cần giải quyết:
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về LĐCB;
- Nghiên cứu các quy định pháp luật trong các văn bản pháp luật lao động và
ngành luật liên quan đến LĐCB ở Việt Nam, đồng thời đánh giá những thành
tựu và hạn chế trong thực hiện pháp luật Việt Nam hiện hành về những vấn đề
này trên đại bàn thành phố Hà Nội;
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác – Lê
nin như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê, liệt kê… đồng thời cũng dựa trên
cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước nước về chính sách
kinh tế - xã hội, bảo vệ và phát triển con người. Trong đó, chương 1 chủ yếu
sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê; chương 2
dùng phương pháp phân tích, kết hợp lý luận và thực tiễn; và chương 3 dùng
phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6
Luận văn phân tích, đánh giá các quy định pháp luật lao động Việt
Nam hiện hành và một số ngành luật có liên quan về LĐCB cũng như thực
trạng thi hành pháp luật tại thành phố Hà Nội. Luận văn đã góp phần phát
triển, bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật LĐCB
Trên cơ sở khoa học và thực tiễn, luận văn đưa ra định hướng và một số
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về LĐCB và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về LĐCB trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng như toàn
quốc nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về lao động cưỡng bức và pháp luật lao
động cưỡng bức;
Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động cưỡng bức và thực tiễn thi hành tại
thành phố Hà Nội;
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động cưỡng
bức.
dục bắt buộc hoặc chương trình đào tạo nghề bắt buộc được đề cập tới trong
các ngoại lệ của lao động cưỡng bức.
- “Sự đe dọa bằng hình phạt”: Theo công ước số 29 thì đây là hậu quả
mà người bị cưỡng bức lao động hoặc nhân thân của họ sẽ phải chịu khi
2
ILO (2001) Stopping Forced Labour: Global Report under the Follow-up to the ILO Declaration on
Fundamental Principles and Rights at Work. Báo cáo của Tổng giám đốc ILO năm 2001, Giơ ne vơ trang 9
8
người bị cưỡng bức lao động không thực hiện công việc được yêu cầu. Trên
thực tế, hành vi đe dọa về hậu quả xảy ra khi người bị cưỡng bức lao động khi
không thực hiện công việc là rất đa dạng và phong phú. Hình phạt đó không
nhất thiết dưới hình thức là chế tài hình sự, đó có thể là việc bạo lực về thể
chất như sử dụng vũ lực, bắt giữ người bị cưỡng bức lao động và thân nhân
của họ. Nhưng cưỡng bức lao động cũng có thể biểu hiện dưới các hành vi
tinh vi hơn như mất đi một số quyền trong quan hệ lao động như không cho
người lao động hưởng trợ cấp hay đe dọa tiết lộ bí mật đời tư của người bị
cưỡng bức lao động và nhân thân của họ. Hình phạt khác có thể có tính chất
tài chính, bao gồm cả trừng phạt kinh tế liên quan đến các khoản nợ, không
thanh toán tiền lương, hoặc mất tiền lương đi kèm với các mối đe dọa sa thải
nếu công nhân từ chối làm thêm giờ vượt ra ngoài phạm vi hợp đồng của họ
hoặc của pháp luật quốc gia. NSDLĐ trong một số trường hợp sẽ yêu cầu giữ
các giấy tờ tuỳ thân của NLĐ, và có thể sử dụng điều này như một mối đe dọa
để cưỡng bức lao động.
- “Không tự nguyện thực hiện”: có nghĩa là NLĐ không có sự đồng ý
làm việc, không sẵn sàng làm việc. Điều này cho thấy quyền của NLĐ trong
tự do lựa chọn việc làm, quyền tự do rời khỏi việc làm của họ không được
những thành viên của tập thể đó thực hiện, và vì vậy có thể coi như là những
nghĩa vụ công dân bình thường của các thành viên tập thể, với điều kiện là
những thành viên trong tập thể đó hoặc những người đại diện trực tiếp của họ
có quyền được tham khảo ý kiến về sự cần thiết của những công việc ấy.
Năm 1957, ILO ban hành Công ước số 105 về xóa bỏ LĐCB đã thêm
vào định nghĩa trước đó những ngoại lệ hoàn toàn mới đó là “LĐCB và bắt
buộc” không bao gồm “biện pháp cưỡng chế hay giáo dục chính trị, hoặc một
sự trừng phạt đối với những ai đang có hoặc đang phát biểu chính kiến, hay ý
kiến chống đối về tư tưởng đối với trật tự chính trị, xã hội, hoặc kinh tế đã
được thiết lập; biện pháp huy động và sử dụng nhân công vào mục đích phát
Công dân là chủ thể quốc gia, được quốc gia đó bảo hộ thì phải có nghĩa vụ với quốc gia mình sinh sống, ví
dụ: lao động công ích, tham gia xây dựng cầu cống, đường xá...thì không bị xem là LĐCB
5
Mặc dù NLĐ không tự nguyện, nhưng đó là hình phạt thích đáng và phù hợp với người vi phạm pháp luật,
mục đích răn đe, giáo dục nên không phải là LĐCB
6
Những trường hợp khẩn cấp được công ước đề cập đến bao gồm các trường hợp được pháp luật xem là bất
khả kháng như: động đất, dịch bệnh, thiên tai... Việc Công ước liệt kê cách trường hợp khẩn cấp này nhằm
làm rõ cũng như giới hạn khái niệm và trường hợp được xem là khẩn cấp để tránh vận dụng hoặc bị lạm dụng
không đúng khi áp dụng quy định này.
7
Những công việc mang lợi ích công cộng và phục vụ cho cộng đồng.
4
10
triển kinh tế; biện pháp về xử lý vi phạm kỷ luật lao động; sự trừng phạt đối
với việc đã tham gia đình công; biện pháp phân biệt đối xử về chủng tộc, xã
hội, dân tộc hoặc tôn giáo”.
11
với giới tính, ảnh hưởng tới sức khỏe, nhân phẩm, danh dự…”. BLLĐ năm
2012 quy định cụ thể khái niệm cưỡng bức lao động tại khoản 10 điều 3 như
sau: “Cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các
thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái ý muốn của họ.” Khái
niệm này được xây dựng trên cơ sở khái niệm LĐCB hoặc bắt buộc theo
Công ước số 29, tuy nhiên, vẫn có những điểm khác biệt và bất cập:
+ Nội hàm khái niệm hẹp hơn khi nhấn mạnh chủ yếu yếu tố không tự
nguyện ở đây là do việc dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, trong khi thực
tế có rất nhiều những dạng ép buộc, cưỡng bức khác.
+ Các “thủ đoạn khác” đã không được giải thích một cách rõ ràng nên
rất khó xác định.
+ Công ước số 29 dùng thuật ngữ “một người phải thực hiện một công
việc hoặc dịch vụ” bao gồm được cả trường hợp công việc hay dịch vụ đó có
thể là hợp pháp hoặc có thể là bất hợp pháp. LĐCB do đó không được định
nghĩa bằng tính chất của công việc (có thể hợp pháp hoặc không hợp pháp
theo luật quốc gia) mà bằng tính chất của mối quan hệ giữa người thực hiện
công việc và người hưởng lợi từ công việc. Khái niệm trong BLLĐ năm 2012
sử dụng thuật ngữ “lao động” thì hoạt động lao động của con người chỉ bao
hàm những hoạt động tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội và
thường đó là những hoạt động không bị pháp luật cấm. Với thuật ngữ này dễ
dẫn đến cách hiểu LĐCB chỉ xảy ra khi một người phải thực hiện những công
việc hợp pháp trái với ý muốn của họ, còn những công việc bất hợp pháp một
người phải thực hiện ngoài ý muốn của họ không nằm trong nội hàm khái
niệm LĐCB.
Các ngoại lệ và các hình thức LĐCB bị cấm trong pháp luật lao động
Việt Nam chưa được quy định một cách hệ thống, rõ ràng, đầy đủ và đặc biệt
không gắn với việc xác định nội hàm khái niệm chung về LĐCB được đề cập
tại khoản 3 Điều 3 BLLĐ năm 2012. Tuy nhiên, có thể thấy, rải rác trong các
khăn hoặc do điều kiện bản thân khiến họ không thể làm một công việc khác.
Trường hợp đối tượng khác lợi dụng tình trạng khó khăn, lệ thuộc khiến một
người không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tuân theo sự ép buộc
13
phải thực hiện hành vi đó, thì khi đó mới có khả năng phát sinh tình trạng
LĐCB.
b/ NLĐ luôn chịu sự theo dõi, giám sát trong quá trình thực hiện công
việc hay dịch vụ
Chủ thể theo dõi, giám sát là chủ thể được hưởng lợi ích trực tiếp từ
việc thực hiện, công việc dịch vụ đó hoặc là người được người có công việc,
dịch vụ thuê làm công việc giám sát này. Hoạt động theo dõi, giám sát này
khác với hoạt động quản lý NLĐ của NSDLĐ được quy định trong pháp luật
của các quốc gia. Quản lý là nhu cầu tất yếu của nền sản xuất trong xã hội có
giai cấp. Phạm vi quản lý lao động của NSDLĐ chỉ giới hạn trong quá trình
NLĐ thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, phát sinh từ khi các bên thiết lập
đến khi chấm dứt quan hệ lao động. Trong LĐCB, việc giám sát, theo dõi
người bị cưỡng bức lao động được thực hiện thường xuyên, liên tục, không kể
thời gian nghỉ ngơi hay khi thực hiện công việc. Việc giám sát cũng được
thực hiện trên nhiều nội dung khác nhau, từ ăn ở, sinh hoạt cá nhân đến việc
thực hiện công việc. Mục đích của quản lý lao động là nhằm thiết lập trật tự,
kỉ cương trong đơn vị sử dụng lao động để sử dụng sức lao động một cách
hợp lý, hiệu quả. Trong khi đó, việc theo dõi, giám sát đối với LĐCB nhằm
khiến họ không có cơ hội thoát khỏi tình trạng cưỡng bức.
c/ Người bị ép buộc thực hiện công việc luôn trong tình trạng bị đe dọa
về những hậu quả bất lợi có thể xảy ra đối với bản thân hoặc thân nhân của
họ khi họ không thực hiện công việc theo yêu cầu.
Việc đe dọa hay áp dụng các hình phạt nhằm ép buộc NLĐ phải làm
chính phủ và những cán bộ khác có liên quan để xác định những ai có thể bị
rơi vào cạm bẫy của LĐCB và những ai có thể cần sự hỗ trợ khẩn cấp.
Những chỉ số này cho biết những dấu hiệu, hoặc bằng chứng phổ biến nhất về
một vụ việc cưỡng bức lao động cụ thể nào đó. Trong một tình huống cụ thể
nào đó, có thể chỉ cần một chỉ số là ta đã nhận biết tình trạng LĐCB. Tuy
nhiên trong nhiều trường hợp khác, có thể cần phải kết hợp một số chỉ tiêu
khác thì mới nhận ra vụ việc về cưỡng bức lao động. Các chỉ số này là những
yếu tố chính có thể của một vụ việc về cưỡng bức lao động và đây là cơ sở để
đánh giá, xác định liệu một cá nhân nào đó có phải là nạn nhân của tình trạng
LĐCB hay không.
- Lạm dụng tình trạng khó khăn của NLĐ:
15
Những người thiếu kiến thức về luật pháp, ngoại ngữ, có ít lựa chọn trong
việc mưu sinh, thuộc về một nhóm dân tộc, hoặc tôn giáo thiểu số, bị khuyết
tật hoặc có những đặc tính khác mà vì đó họ bị cô lập khỏi cộng đồng dân cư
là những người dễ bị rơi vào tình trạng lạm dụng và thường là nạn nhân của
cưỡng bức lao động.
Khi lâm vào tình trạng khó khăn, ví dụ như thiếu sự chọn lựa về cách mưu
sinh, không nhất thiết đẩy một người nào đó vào tình trạng LĐCB. Đó là khi
NSDLĐ lợi dụng tình trạng khó khăn của NLĐ để áp đặt thời gian làm việc
quá nhiều, hoặc giữ tiền lương…thì khi đó mới phát sinh tình trạng LĐCB.
LĐCB cũng phát sinh từ trương hợp NLĐ bị lệ thuộc nhiều mặt vào NSDLĐ
như lệ thuộc vào công việc, nhà ở, ăn uống và vì công ăn việc làm của người
thân.
- Lừa gạt:
Lừa gạt là tình trạng không thực hiện những gì đã hứa, bằng lời nói, hoặc
trên giấy tờ với NLĐ. Nạn nhân của tình trạng cưỡng bức lao động thường
kinh doanh nơi NLĐ làm việc không đăng ký hợp pháp, rất khó làm cho các
cơ quan chức năng hoặc các tổ chức bảo vệ NLĐ xác định địa điểm và giám
sát những gì xảy ra đối với NLĐ.
- Bạo lực về thân thể và tình dục:
Dấu hiệu rất rõ ràng của tình trạng cưỡng bức lao động là sử dụng bạo lực
như một hình thức kỷ luật. NLĐ bị cưỡng bức, gia đình, bạn đồng hành với
họ có thể phải chịu đựng tình trạng bạo lực về thân thể hoặc tình dục. Bạo lực
bằng cách bắt ép dùng ma túy, hoặc rượu để kiểm soát, ép buộc thực hiện
những công việc không có trong thỏa thuận ban đầu, thực hiện công việc bắt
buộc thay vì những việc thông thường. Bắt cóc cũng là một hình thức bạo lực
có thể được sử dụng để giam một người nào đó, sau đó ép buộc họ làm việc.
- Dọa dẫm, đe dọa:
Nạn nhân bị cưỡng bức lao động có thể phải chịu sự đe dọa, những lời dọa
dẫm khi họ có ý kiến về điều kiện ăn ở và sinh hoạt hoặc muốn thôi việc. Sự
đe dọa phổ biến đối với NLĐ vào những việc như tố cáo với cơ quan xuất
nhập cảnh, bị mất tiền lương, hoặc tiếp cận nhà cửa đất đai, sa thải người nhà,
điều kiện làm việc tồi hơn, không được rời khỏi nơi làm việc; thường xuyên
17
bị lăng mạ và nói xấu NLĐ còn là hình thức ép buộc về mặt tâm lý đối với
NLĐ.
- Giữ giấy tờ tùy thân:
Việc chủ sử dụng lao động giữ giấy tờ tùy thân hoặc các tài sản cá nhân có
giá trị là một dấu hiệu cưỡng bức lao động nếu NLĐ không thể tiếp cận được
những tài sản này khi có yêu cầu và họ thấy rằng họ không thể rời khỏi nơi
làm việc nếu không muốn tài sản của mình bị mất. Trong nhiều trường hợp,
nếu không có giấy tờ tùy thân, người lao động không thể tìm được việc khác
hoặc tiếp cận những dịch vụ cần thiết và có thể họ không dám nhờ sự giúp đỡ
việc thấp kém là sự cảnh báo về dấu hiệu của sự ép buộc mà nó ngăn cản
NLĐ bị lạm dụng chuyển đổi nơi làm việc.
- Liên tục làm ngoài giờ:
NLĐ bị cưỡng bức có thể bị buộc làm việc ngoài giờ liên tục, hoặc làm
việc nhiều ngày ngoài thời gian được quy định bởi luật pháp quốc gia hoặc
thỏa thuận lao động tập thể. Họ có thể không được bố trí thời gian nghỉ giải
lao hoặc ngày nghỉ trong tuần, phải đảm nhiệm ca kíp và thời gian làm việc
của đồng nghiệp khác nghỉ việc, hoặc thường xuyên phải trực 24 giờ trong
ngày và 7 ngày trong tuần. Làm việc thêm thời gian nhiều hơn thời gian cho
phép theo quy định của luật pháp quốc gia dưới một số hình thức đe dọa (như
đe dọa sa thải), hoặc để có được mức tiền lương tối thiểu là đã cấu thành của
tình trạng LĐCB.
1.2.2 Phân loại lao động cưỡng bức
a/ Phân loại theo chủ thể cưỡng bức lao động
Lao động cưỡng bức bao gồm:
- Lao động do nhà nước cưỡng chế: “Nhà nước” ở đây được hiểu rằng
bao gồm các cơ quan, cá nhân nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước
như tòa án, quân đội, công an, cảnh sát, trại giam,…. Các cơ quan này
sử dụng quyền lực nhà nước để thực thi việc buộc một các nhân phải
thực hiện công việc, dịch vụ theo yêu cầu của họ. Cụ thể, lao động do
nhà nước cưỡng chế có thể là: lao động bắt buộc của tù nhân, lao động
của cá nhân khi bị xử phạt vi phạm hành chính, lao động của người
thực hiện nghĩa vụ quân sự…