NGHIÊN cứu đặc điểm HÌNH ẢNH và kết QUẢ điều TRỊ hẹp ĐỘNG MẠCH CẢNH TRONG đoạn NGOÀI sọ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP nội MẠCH - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐÊ
Trong số các bệnh lý liên quan đến tim mạch, đột quỵ chiếm tỷ lệ đáng
kể và thiếu máu não là thể bệnh lý thường gặp nhất trong nhóm đột quỵ [1].
Bệnh học dẫn đến thiếu máu não nói riêng hay đột quỵ nói chung khá phức tạp
nhưng đa phần thường liên quan đến xơ vữa mạch máu và huyết khối. Xơ vữa
gây nguy cơ dẫn đến nhiều biến cố bệnh lý, từ cứng hoá thành động mạch đến
làm hẹp lòng, và có thể dẫn đến tắc nghẽn dòng chảy. Xơ vữa của động mạch
chủ và các nhánh của nó, đặc biệt động mạch cảnh trong là một trong các
nguyên do gây ra đột quỵ thiếu máu não. Theo nhiều tác giả, 20-30% TBMMN
là do huyết khối từ mảng xơ vữa ĐM cảnh gây ra [2].
Bệnh cảnh lâm sàng của hẹp, tắc động mạch cảnh trong có thể rất nặng
nề nếu hệ thống bàng hệ không hoạt động tốt, dẫn tới tử vong hoặc di chứng
nặng nề [3] hoặc chỉ có đột quỵ ở mức độ trung bình, nhẹ, ở dạng thiếu máu
não thoáng qua hoặc thậm chí không có triệu chứng [4].
Tại thời điểm hiện tại, có nhiều lựa chọn trong điều trị hẹp động mạch
cảnh trong, nhưng tất cả đều với mục đích cố gắng hạn chế tối thiểu mức độ
can thiệp cho người bệnh. Trong thập kỷ vừa qua, phương pháp đặt stent động
mạch cảnh trong (CAS) được đề xuất là một lựa chọn bên cạnh phẫu thuật bóc
tách nội mạc (CAE) trên những bệnh nhân có triệu chứng và không có triệu
chứng với chẩn đoán hẹp nặng động mạch cảnh trong đoạn ngoài sọ. Phương
pháp này đã được các nghiên cứu lớn như CAVATAS [5], SAPPHIRE [6],
CASES-PMS [7]… chứng minh về tính hiệu quả và an toàn, được Cục Quản
Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận và áp rộng rãi trên
thế giới.
Lợi thế của đặt stent động mạch cảnh trong bao gồm việc tránh được gây
mê toàn thân, tránh được rạch da can thiệp vùng cổ và tránh nguy cơ tổn


2

và hệ đốt sống - thân nền hay hệ tuần hoàn sau.
1.1.1. Động mạch cảnh trong
Ðộng mạch cảnh trong là động mạch cấp máu cho các cơ quan trong hộp
sọ, ổ mắt và da đầu vùng trán.



Nguyên uỷ: ở ngang mức bờ trên sụn giáp, tương ứng với đốt sống C4.
Ðường đi và tận cùng: tiếp tục hướng đi lên của động mạch cảnh
chung, chui qua ống cảnh của phần đá xương thái dương để vào trong
hộp sọ, sau đó xuyên qua xoang tĩnh mạch hang và tận cùng ở mỏm yên



bướm trước bằng cách chia thành 4 nhánh tận.
Nhánh bên: ở ngoài sọ động mạch không có nhánh bên nào, ở trong sọ
cho nhánh lớn là động mạch mắt đi qua lỗ ống thị giác vào ổ mắt để nuôi



dưỡng nhãn cầu, ổ mắt và da đầu vùng trán.
Nhánh tận: động mạch cảnh trong chia ra bốn nhánh tận là: động mạch
não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau và động mạch
mạch mạc trước để tham gia vào việc tạo nên vòng động mạch não cấp
máu cho não.

1.1.2. Động mạch đốt sống
Hệ đốt sống - thân nền gồm hai động mạch đốt sống, sau khi vào sọ chúng
chia ra hai nhánh động mạch tiểu não sau dưới (PICA) rồi nhập lại thành động
mạch thân nền. Động mạch thân nền chia tiếp các nhánh động mạch tiểu não

dưới thùy thái dương. Trong đó, động mạch não sau cấp máu cho thùy chẩm,
đồi thị, và phần dưới-trong của thùy thái dương.
Đầu nhân
đuôi
Não thất bên

ĐM não

ĐM não

Bao
trong

Nhân đuôi

Các nhánh sâu
ĐM não trước

Phân chia trên của
ĐM não giữa

Đồi thị
Nhân bèo
Bao trong

Phân chia trên của
ĐM não giữa

Các nhánh sâu
ĐM não giữa

ĐM não

Thùy chẩm

ĐM não

Các nhánh
sâu của ĐM
não sau

Hình 1.2: Các động mạch não và vùng cấp máu tương ứng
(Nguồn: www.neuroanatomy.ca)
1.1.3. Bàng hệ tuần hoàn não


5

Hai hệ thống động mạch này thông nối với nhau và thông nối hai bên
qua hai động mạch thông sau - nối động mạch cảnh trong và động mạch não
sau cùng bên, và động mạch thông trước - nối hai động mạch não trước - tạo
thành đa giác Willis ở đáy não (Hình 1.3). Đa giác Willis là vòng bàng hệ quan
trọng nhất trong hệ thống tưới máu não, cùng với các hệ thông nối vỏ não, thông
nối cảnh trong - cảnh ngoài qua động mạch mắt, và thông nối động mạch đốt sống
với các động mạch cổ tạo thành hệ thống tuần hoàn bàng hệ hoàn chỉnh cho não,
giúp giảm thiểu nguy cơ thiếu máu não. Hệ thống bàng hệ này càng hoàn chỉnh
thì khả năng bị tổn thương não do tắc một động mạch nào đó càng thấp, do đó hai
cá thể khác nhau có thể biểu hiện mức độ và kích thước tổn thương nhồi máu não
rất khác nhau dù cùng tắc một động mạch nào đó.

ĐM thông trước

ĐM cảnh trong
phải

ĐM thông
sau

ĐM
cảnh
trong

ĐM mạch
mạc trước
ĐM não
sau

Các ĐM
cầu não

ĐM
tiểu
não

ĐM
nền

ĐM thông sau trái

ĐM thông sau phải

ĐM tiểu


động mạch cảnh, gọi là các áp thụ cảm.
Tiểu thể cảnh: là một cấu trúc nhỏ bằng nửa móng tay út, màu xám, hoặc
nâu nhạt nằm ở thành mạch máu gần chỗ phân đôi của động mạch cảnh


6

chung, chứa các thụ cảm thần kinh nhạy cảm với nồng độ khí trong máu,
gọi là các hoá thụ cảm. Nhờ áp thụ cảm và hóa thụ cảm mà xoang cảnh và
tiểu thể cảnh đóng vai trò quan trong sự điều hòa huyết áp và mạch. Các
sợi thần kinh đến xoang cảnh và tiểu thể cảnh thường phát xuất từ dây
thần kinh thiệt hầu và dây thần kinh lang thang.
Hình 1.4: Xoang cảnh và tiểu thể cảnh
1 Hạch dưới dây thần kinh lang thang
2 Hạch giao cảm cổ
3 Xoang cảnh
4 Tiểu thể cảnh
5 Rể trên quai cổ
6 Động mạch cảnh trong
7 Dây thần kinh thiệt hầu
8 Động mạch cảnh ngoài
9 Động mạch cảnh chung.

1.1.5. Giải phẫu vi thể thành động mạch
Thành động mạch cấu tạo bởi 3 lớp đồng tâm từ trong ra ngoài như sau:


Lớp áo trong hay lớp nội mạc: Chỉ có một lớp duy nhất cấu tạo bởi các
tế bào nội mạc nằm trong khoảng dưới không có tế bào và ngăn với




rất ít khi xảy ra dưới 40 tuổi. [13].
Giới, chủng tộc: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ; ở Mỹ, người gốc Phi có tỉ lệ
mắc bệnh cao hơn các nhóm khác. [13].
Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được



Tăng huyết áp: Cao huyết áp là yếu tố nguy cơ lớn nhất đã được công nhận
từ lâu. Cả trị số huyết áp tâm thu lẫn huyết áp tâm trương đều có vai trò
trong nguy cơ đột quỵ do làm tăng nhanh tiến trình XVĐM và thúc đẩy
bệnh lý mạch máu nhỏ. Nhiều tác giả nhận định huyết áp tâm trương có vai
trò quan trọng hơn trong việc làm tăng nguy cơ đột quỵ và các nghiên cứu
lâm sàng dùng huyết áp tâm trương làm cơ sở để phân loại. Tuy nhiên nhiều
bằng chứng hiện nay cho thấy huyết áp tâm thu vẫn là trị số quan trọng nhất



cho nguy cơ tim mạch nói chung, bao gồm nguy cơ đột quỵ [14].
Đái tháo đường: Tiểu đường làm tăng nguy cơ đột quỵ với nguy cơ tương
đối là 1,5 - 3, tùy theo loại tiểu đường và mức độ nặng nhẹ. Nguy cơ này
giống nhau ở cả nam và nữ, không giảm theo tuổi và độc lập với huyết áp
[15]. Hầu hết các nghiên cứu đều thấy có một mối liên hệ quan trọng giữa



tăng đường huyết và tăng tỉ lệ mắc đột quỵ.
Rối loạn lipid máu: Rối loạn lipid máu có liên quan đến nguy cơ bệnh tim

Tắc mạch do các tinh thể cholesterol hoặc mảnh vụn xơ vữa khác.
Mảng xơ vữa gây tắc nghẽn cấp tính một ĐM cảnh ngoài sọ.
Phá hủy cấu trúc thành ĐM do tụ máu hoặc tách thành ĐM dưới

-

lớp áo trong.
Giảm tưới máu não do hẹp, tắc mạch trong quá trình phát triển.

Các triệu chứng thần kinh là hậu quả của của hẹp hoặc tắc mạch theo
một hoặc nhiều cơ chế phối hợp trên.
1.2.4. Biểu hiện lâm sàng của tắc động mạch cảnh trong
Bệnh cảnh lâm sàng của tắc động mạch cảnh trong trải rộng từ hoàn toàn
không có triệu chứng đến đột quỵ nặng nề và tử vong.
Hẹp ĐM cảnh được coi là có triệu chứng khi có sự xuất hiện của TIA
và/ hoặc TBMN trong vòng 6 tháng [16].


9



TIA
Xảy ra đột ngột, các thiếu sót thần kinh khu trú, tồn tại dưới 24 giờ, phù hợp

với vùng của não do ĐM tương ứng chi phối. Tiêu chuẩn thời gian không hằng
định, đa số kéo dài từ vài giây đến 10 phút, kéo dài >1 giờ chỉ chiếm 25%.
Các biếu hiện của TIA đa dạng, bao gồm: yếu, liệt nửa người (50%), rối
loạn cảm giác một bên (35%), nói líu lưỡi (23%), mù một mắt thoáng qua
(18%), thất ngôn (18%), mất điều hòa (12%), chóng mặt (5%), bán manh cùng

10

-

khó đọc hoặc viết, nói khó.
Triệu chứng cảm giác: rối loạn cảm giác nửa người, một phần hay

-

toàn bộ, mất thị trường một bên, chóng mặt.
Triệu chứng hành vi và nhận thức: mất phương hướng, quên…

Trên lý thuyết, các triệu chứng thần kinh khu trú tương ứng với các khu
vực tưới máu của ĐM bị tổn thương. Tuy nhiên, do có sự cấp máu bù trừ bởi các
tuần hoàn bàng hệ nên các triệu chứng có thể biểu hiện thay đổi khác nhau.
Trong trường hợp tổn thương do hẹp, tắc động mạch cảnh trong, ngoài các
đặc điểm giống như các nhồi máu não do các nguyên nhân khác, có thể có các
đặc điểm gợi ý ví dụ như có cơn mù một mắt thoáng qua, hoặc bệnh sử có yếu tố
huyết động, biểu hiện bằng khởi phát triệu chứng khi bệnh nhân đứng dậy, khi có
tụt huyết áp sau bữa ăn, khi mất máu hoặc mất nước, hoặc suy tim.
Một số bệnh nhân có đau đầu bất thường do phát triển tuần hoàn bàng
hệ, thường gặp trong trường hợp tắc động mạch cảnh trong mạn tính, khi đó
tuần hoàn bàng hệ từ các nhánh động mạch cảnh ngoài có thể làm mạch đập
mạnh cùng bên ở góc hàm, cung mày và gò má, gọi là mạch nảy ABC của
Fisher [23]. Tuy nhiên bàng hệ có thể ưu thế ở đa giác Willis nên nhiều trường
hợp không có mạch ABC nảy mạnh. Ngất cũng là triệu chứng có thể gặp trong
tắc động mạch cảnh trong [24]. Thiếu máu não mạn tính do tắc động mạch
cảnh trong cũng có thể gây sa sút trí tuệ [25].



Siêu âm Doppler mạch máu (Duplex mạch cảnh);
Cắt lớp vi tính mạch máu (CTA);
Cộng hường từ mạch máu (MRA);
Chụp mạch số hóa xóa nền (DSA).

Trong đó, siêu âm Doppler là công cụ dùng để sàng lọc dựa trên hiệu
quả, chi phí và tính chính xác, dễ thực hiện
1.2.5.1. Siêu âm: thường là phương thức khảo sát hình ảnh khởi đầu trong đánh
giá bệnh lý động mạch cảnh trong có triệu chứng. Siêu âm B-mode rất chính
xác trong đánh giá hẹp lòng mạch và phân biệt động mạch bình thường hoặc


12

động mạch có mảng xơ không lớn với động mạch xơ vữa hẹp nặng (>70%).
Tuy nhiên siêu âm B-mode sẽ khó phân biệt được tắc hoàn toàn và hẹp gần tắc.
Khi kết hợp kỹ thuật Doppler màu, Doppler xung vào siêu âm B-mode tạo
thành hệ thống Duplex, mang lại thêm thông tin định tính và định lượng về các
biến thiên dòng chảy (thay đổi tốc độ, xoáy sau chỗ hẹp). Tắc động mạch cảnh
trong đặc trưng bởi mất toàn bộ tín hiệu dọc theo đường đi ngoài sọ của động
mạch cảnh trong. Hiện nay, siêu âm B-mode kết hợp với Doppler phổ và Doppler
màu, Doppler năng lượng là phương pháp chính xác, nhạy, và tiện dụng trong
việc chẩn đoán sàng lọc tắc hoặc hẹp động mạch cảnh [28].
Dùng chất cản âm trong siêu âm dupplex cũng đã cải thiện độ tin cậy
trong việc phân biệt tắc hoàn toàn và hẹp gần tắc động mạch cảnh, với 10 ca
nghi tắc hoàn toàn trên siêu âm Doppler, sau tiêm thuốc cản âm xác nhận 7 ca
tắc thực sự, 3 ca còn dòng máu ở phần xa, theo nghiên cứu của Ohm C. và
cộng sự đăng năm 2005 [29].
Bất lợi của siêu âm là kỹ thuật này không thể thấy tốt tắc động mạch
cảnh nếu nó xảy ra ở đoạn cao, ngoài vùng cửa sổ siêu âm. Trong trường hợp

Tiêu chuẩn
chính

Tiêu chuẩn phụ

PSV (cm/s)

EDV (cm/s)

< 125
230
Cao, thấp hoặc
không xác định
Không xác định




15

được chẩn đoán là hẹp trong stent. Các tiêu chuẩn vận tốc cho ĐMCT mới đặt
stent có đường kính bình thường cần được điều chỉnh như sau: PSV
99% [35].
Giá trị: độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 85% và 93% đối với hẹp từ
70-99%, với các tổn thương tắc hoàn toàn là 97% và 99% [29]. Đồng thời, có
thể khảo sát được tính chất xơ vữa, trong đó có:
1.
2.
3.



Xơ vữa mềm: là xơ vữa giàu lipid, không ổn định.
Xơ vữa vôi hóa: có phần tỷ trọng vôi trên CLVT, đặc tính ổn định
Xơ vữa có ổ loét: có ổ loét trong mảng xơ vữa gây tụ máu.
Ưu điểm:
Tốc độ nhanh. Không phụ thuộc dòng chảy liên quan đến độ dài chỗ






hẹp, đường kính và thiết diện lòng mạch còn lại, các vùng vôi hóa.
Nhược điểm:
Không cug cấp dữ liệu về vận tốc và hướng dòng chảy như siêu âm.
Đánh giá độ hẹp bị hạn chế ở những mạch có mảng xơ vữa calci hóa nặng.
Nguy cơ liên quan đến sử dụng thuốc cản quang.


17


âm, CLVT hoặc cộng hưởng từ không phân biệt được chắc chắn giữa hẹp gần tắc
và tắc hoàn toàn. Đây là phương tiện hình ảnh tốt nhất để ra quyết định điều trị
thích hợp ở các bệnh nhân hẹp kéo dài, hoặc liên tiếp trên MRA và những người
có dòng máu tốc độ thấp tăng kháng lực trên siêu âm Doppler [12].



Giá trị:
DSA là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán và chỉ định điều trị bệnh nhân
hẹp ĐM cảnh. Nó cũng là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của các phương




pháp khảo sát không xâm lấn.
Ưu điểm:
Là kĩ thuật tốt nhất để phân biệt hẹp nặng hoặc gần tắc (có chỉ định tái






tưới máu) và tắc hoàn toàn (không có chỉ định tái tưới máu).
Đánh giá tốt các tổn thương trên đoạn dài.
Đánh giá tuần hoàn bàng hệ.
Thực hiện quy trình can thiệp trong một thì.
Độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 95% và 90% với hẹp từ 70-99%
đường kính, với các tổn thương tắc hoàn toàn là 98% và 100% [29].


không nhất thiết phải qua chụp mạch.
Đối với siêu âm Duplex, đánh giá mức độ hẹp động mạch cảnh trong đã
được đề cập như trên (Bảng 1.1).
Đối với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh CTA, MRA, DSA, có 3
phương pháp được sử dụng để đánh giá mức độ hẹp:
1. Phương pháp NASCET: mức độ hẹp được đánh giá bằng tỷ lệ của
đường kính lòng đoạn hẹp nhất của đoạn tổn thương trên đường kính


20

động mạch cảnh trong đoạn bất kỳ sau hẹp (Hình 1.9);
2. Phương pháp ECST: mức độ hẹp được tính bằng việc so sánh đường
kính đoạn hẹp nhất với đường kính đoạn mạch không hẹp được ước
lượng ngay cùng vị trí (Hình 1.9);
3. Phương pháp CC (Common Carotid): mức độ hẹp được tính dựa vào
tỷ lệ của đường kính đoạn hẹp nhất với đoạn bình thường của động
mạch cảnh chung, trước xoang cảnh (Hình 1.9).
Hình 1.9: Đánh giá mức độ hẹp
động mạch cảnh trong
Minh họa vị trí chia đôi của động
mạch cảnh với mức độ hẹp động
mạch cảnh trong được đo theo ba
phương pháp khác nhau.

Trong ba phương pháp được sử dụng phổ thông, NASCET là phương pháp
được lựa chọn làm tiêu chuẩn trong thực hành. Phần trăm hẹp trong nghiên cứu
này được mặc định tính toán theo NASCET nếu không được chú thích.
Có một sự chênh lệch đáng kể về độ hẹp giữa phương pháp NASCET và
ECST, ví dụ hẹp 50% theo NASCET tương đương với khoảng 70% theo




nhằm mục tiêu phòng ngừa NMCT và các biến cố tắc mạch khác.
BN có XVĐM cảnh đã bị đột quỵ hoặc TIA được khuyến cáo điều trị
theo một trong các phác đồ: aspirin đơn trị, clopidogrel đơn trị, hoặc
aspirin kết hợp dipyridamole hơn là aspirin kết hợp clopidogrel. Lựa



chọn điều trị cân nhắc tùy theo từng bệnh nhân cụ thể.
BN có XVĐM cảnh có chống chỉ định với aspirin nên được thay thế



bằng clopidogrel (75mg/ngày) hoặc ticlopidine (250 mg, 2 lần/ngày).
Với BN có XVĐM cảnh có chỉ định dùng thuốc chống đông (BN rung nhĩ,
van cơ học), khuyến cáo ưu tiên dùng nhóm chống đông kháng vitamin K
với mức INR mục tiêu 2.5 (2 – 3) để dự phòng tai biến tắc mạch.



Điều trị THA
Mục tiêu điều trị là duy trì HA < 140/90 mmHg. Lựa chọn các thuốc
điều trị HA theo hướng dẫn của ESC/ESH 2013. Các nhóm thuốc hạ HA
thường dùng và đã được chứng minh hiệu qủa ở bệnh nhân có bệnh lí ĐM
cảnh là: nhóm ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể AT1, nhóm thuốc chẹn




cảnh ngoài sọ ở một bệnh nhân bị nhiều đợt TIA bằng cách bóc lớp nội mạc xơ
vữa tại chỗ chia đôi của ĐM cảnh và khâu lại [41]. Kể từ đó, CEA trở thành kỹ
thuật thường quy, phổ biến nhất trong phẫu thuật mạch máu.
Tùy vị trí, giải phẫu tổn thương, mức độ hẹp và kinh nghiệm của phẫu
thuật viên, có những thuật sau áp dụng các kỹ thuật sau:



Kỹ thuật bóc tách nội mạc mở
Kỹ thuật lộn nội mạc
Phẫu thuật bắc cầu động mạch
Phương pháp bóc tách nội mạc mở [42], [43]
Trong kỹ thuật này, sau khi việc mở mạch được tiến hành, từ vị trí cuối
của đường mở mạch, dùng dụng cụ bóc tách mảng xơ vữa.
Khi việc bóc nội mạc kết thúc, kiểm tra lại thành mạch, đóng vị trí mở
mạch. Có thể đóng trực tiếp hoặc sử dụng miếng vá (đặc biệt trên bệnh nhân có
đường kính mạch nhỏ, phụ nữ hoặc bệnh hẹp động mạch cảnh tái phát.


Kỹ thuật lộn nội mạc [44]


23

Trong kỹ thuật này, các mảng bám trên thành ĐM được tách dần xung
quanh ĐM cảnh trong (vừa bóc vừa lộn ngược ĐM cảnh trong).
Ưu điểm của kỹ thuật lộn nội mạc là vá ĐMCT và ĐM cảnh chung với
nhau nên việc đóng ĐM dễ dàng hơn. Đồng thời, xác định “điểm cuối” trước
khi đóng ĐM một cách rõ ràng.
1.3.3. Phẫu thuật bắc cầu ĐM cảnh

- Phẫu thuật, xạ trị vùng cổ
1.3.4. Can thiệp nội mạch ĐM cảnh [45].
Ca can thiệp ĐM cảnh qua da lần đầu tiên được thực hiện bởi Dotter và
Gruntzig. Trường hợp đầu tiên được tiến hành đặt stent ĐM cảnh vào năm


24

1989. Từ năm 1994, phương pháp này được bắt đầu tiến hành rộng rãi và số
lượng bệnh nhân được can thiệp ngày càng tăng, đi cùng là sự phát triển của
các dụng cụ can thiệp, và sự hoàn thiện của quy trình can thiệp.
1.3.4.1. Sự phát triển của các dụng cụ can thiệp


Dụng cụ bảo vệ não (EPDs)
Nong bóng, đặt stent, dây dẫn và ống thông ra vào có thể làm bong

mảng xơ vữa và là nguyên nhân gây tắc mạch não. Chính vì vậy, người ta đã
nghiên cứu EPDs, bao gồm EPDs cho đoạn xa và cho đoạn gần. EPDs có thể
được phân chia thành 3 nhóm như sau:
-

Bóng gây tắc đoạn xa (Distal balloon occlusion);
Bóng gây tắc đoạn gần (Proximal balloon occlusion;
Lưới lọc huyết khối (Embolic protection filters - EPFs).
Hệ thống bóng gây tắc giúp chặn dòng chảy trong động mạch cảnh trong

và huyết khối được hút ra trước khi làm xẹp bóng và rút catheter, trong khi lưới
lọc huyết khối (EPFs) vẫn duy trì dòng chảy đọng mạch đồng thời bắt giữ được
huyết khối. Những thiết bị lưới lọc thông thường bao gồm một cấu trúc dạng rổ

cảnh trong phía trước tổn thương
 Giá đỡ (Stent)

Hình 1.11: Luới lọc bảo vệ
đoạn xa SpiderFX
(https://www.ev3.net)

Trong những năm gần đây số lượng các stent ĐM cảnh tăng đáng kể như
là một bước phát triển quan trọng cho sự đòi hỏi dặc biệt của thủ thuật can
thiệp ĐM cảnh. Trong những năm đầu can thiệp ĐM cảnh thì stent nở bằng
bóng được sử dụng. Sau này các bác sĩ can thiệp có thể chọn stent tự nở
Nitinol hay stent nở bằng bóng tùy thuộc vào cấu trúc giải phẫu và độ phức tạp
của tổn thương.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status