1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giãn phế quản (GPQ_Bronchiectasis) là tình trạng giãn bất thường và
không hồi phục của cây phế quản do lớp cơ và tổ chức liên kết thành phế
quản bị phá hủy. Bệnh GPQ được Cayol nói tới vào năm 1808, sau đó được
Laennec mô tả vào năm 1819 với đặc điểm lâm sàng: ho, khạc nhiều đờm, và
khạc ra máu tươi [1], [2]. Bệnh diễn biến phức tạp, gây nhiều biến chứng
nguy hiểm và ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Giãn phế quản là bệnh khá thường gặp trong lâm sàng, ước tính tỷ lệ
bệnh vào khoảng 4/10.000 ở dân cư Mỹ, Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ,
tuy nhiên trong số 3606 bệnh nhân vào điều trị tại Khoa Hô hấp (nay là Trung
tâm Hô hấp) bệnh viện Bạch Mai từ năm 1996–2000 có 67 bệnh nhân giãn
phế quản, chiếm tỷ lệ 1,86% [3]. Còn theo thống kê của Bệnh viện Phổi Trung
ương từ năm 1981 – 1987, tần xuất GPQ chiếm 13,6% trong số người bệnh
nhập viện điều trị nội khoa hô hấp [4].
Hơn nữa, để đánh giá các mức độ GPQ ở mỗi người bệnh thực sự rất
khó khăn vì thiếu công cụ tổng quát, toàn diện để đánh giá. Thông thường,
trong các báo cáo trước đây để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh GPQ
các nhà lâm sàng thường dựa vào chỉ số FEV1 [5], [6]; hay dựa vào kết quả
chụp cắt lớp vi tính ngực có độ phân giải cao (HRCT) để đánh giá, như
nghiên cứu của Reiff và cộng sự [7], [8], hay thang điểm của Bhalla cũng đã
được đề xuất như là dấu hiệu quan trọng để đánh giá mức độ GPQ trong bệnh
xơ nang [9].Tuy nhiên, FEV1 không hỗ trợ hiệu quả trong việc ra quyết định
lâm sàng và điểm HRCT cũng không tương đồng với chức năng phổi [10], do
vậy việc cần thiết phải đưa ra các thang điểm mới, đầy đủ hơn để đánh giá
mức độ nghiêm trọng và giúp tiên lượng, điều trị bệnh GPQ.
2
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.
Thế nào là giãn phế quản ?
2.
Đại cương và định nghĩa:
Thuật ngữ “giãn phế quản” tạo thành từ tiếng Hy Lạp, bởi các từ:
Bronkos (hình ống) và ektasis (giãn dài hoặc giãn rộng).
GPQ là một bệnh phổ biến có thể gây ra tình trạng bệnh nghiêm trọng,
bao gồm nhiễm trùng lặp đi lặp lại ở đường hô hấp cần phải dùng kháng sinh
để ngăn ngừa tình trạng ho khạc đờm, khó thở, và có thể là ttình trạng ho ra
máu. GPQ được mô tả lần đầu trong lịch sử y văn với đặc điểm ho, khạc đờm
mủ, và đôi khi ho ra máu trong các tác phẩm của tác giả René Théophile
Hyacinthe Laennec vào những năm đầu của thế kỷ 19 [1],[2]; năm 1922 Jean
Athanase Sicard đề xuất chẩn đoán dựa trên Xquang phổi chuẩn với hình ảnh
những thay đổi tiêu cực, giãn rộng của phế quản [16]; các nghiên cứu xác
định bởi Lynne Reid trong năm 1950 dựa trên hình ảnh Xquang chụp phế
quản có thuốc cản quang và xét nghiệm giải phẫu phân tích trên các mẫu thùy
phổi bị tổn thương cho thấy sự giãn nở thường trực của phế quản dạng hình
trụ hoặc hình ống, giãn phế quản dạng túi (hay chùm nho), và giãn phế quản
hình tràng hạt (giống như tổn thương trong giãn tĩnh mạch) [17].
Giãn phế quản được định nghĩa là giãn không hồi phục một phần của
Hình 1.1. Hình ảnh GPQ trên phim chụp cắt lớp vi tính ngực [23].
A = phế quản kết thúc bởi một nang;
B = phế quản hình“đường ray”;
C = phế quản lớn hơn mạch máu đi kèm;
D = đờm lấp đầy lòng phế quản.
3.
Phân loại giãn phế quản:
Dựa vào nguyên nhân Barker (1995) [24] chia ra:
- GPQ do viêm, hoại tử thành phế quản.
- GPQ thể xẹp phổi (thường xảy ra ở thùy dưới phổi trái).
- GPQ do tắc phế quản.
- GPQ do nhu mô phổi bị co kéo.
- GPQ bẩm sinh hay tiên phát: GPQ xảy ra từ khi còn là bào thai.
- GPQ vô căn.
4.
Cơ chế bệnh sinh của GPQ [3],[25]:
GPQ có thể bẩm sinh do nhân tố di truyền nhưng cũng có thể do mắc phải ,
hậu quả cuối cùng là giãn không hồi phục cây phế quản. có 3 cơ chế quan trọng
nhất gây GPQ là: nhiễm khuẩn, tắc phế quản và xơ hóa quanh phế quản.
6
Bình thường vi khuẩn rất khó bám dính vào biểu mô thành phế quản,
nhưng khi lớp biểu mô phế quản bị tổn thương thì vi khuẩn lại dễ kết dính vào
biểu mô gây viêm thành phế quản, dần dàn làm cho thành phế quản bị phá
quản nên phế quản phình ra khi hít vào, xẹp xuống khi thở ra.
- Hội chứng Mounier – Kuhn: khí phế quản phì đại do khuyết tật cấu
trúc tổ chức liên kết ở thành phế quản kèm theo GPQ.
5.1.1.2. Do viêm hoại tử ở thành phế quản:
GPQ sau nhiễm khuẩn phổi như lao, viêm phổi do vi khuẩn, virus, sởi,
ho gà, do dịch dạ dày hoặc máu bị hít xuống phổi, hít phải khói hơi độc (khí
amoniac), do nhiễm khuẩn phế quản tái diễn.
7
5.1.1.3. Do bệnh xơ hóa kén (xơ nang - Cystic Fibrosis):
GPQ gặp trong 50% các trường hợp xơ hóa kén, thường gặp nhất ở Châu
Âu và Bắc Mỹ. GPQ thường gặp trong giai đoạn muộn của bệnh xơ hóa kén.
Tuy nhiên ở Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh xơ nang ở trẻ sơ sinh ước tính khoảng
1/2.500 trẻ da trắng, 1/17.000 ở trẻ da đen. Tỷ lệ thay đổi theo các nghiên
cứu, dao động từ 1/569 đối với dân Ohio Amish cho tới 1/90.000 ở dân
Hawaii gốc châu Á. Nhìn chung bệnh gặp nhiều ở các nước Bắc Âu và Trung
Âu, tỷ lệ bệnh có xu hướng thấp hơn ở những người da trắng không có
nguồn gốc châu Âu. Bệnh tương đối hiếm gặp ở những người Mỹ bản xứ,
châu Á và châu Phi. Bệnh ít gặp ở những vùng khí hậu nhiệt đới và ôn đới.
Đối với chủng tộc da trắng, ước tính có khoảng 2-5% có mang gen gây bệnh
xơ hóa kén [29].
5.1.1.4. Do phế quản lớn bị tắc nghẽn:
Lao hạch phế quản, hoặc dị vật rơi vào phế quản ở trẻ em, u phế quản
hoặc sẹo xơ gây chít hẹp phế quản sau khi bị dập vỡ ở phế quản lớn do chấn
thương lồng ngực. Dưới chỗ phế quản chít hẹp, áp lực nội phế quản tăng lên
và dịch tiết phế quản ứ đọng gây nên nhiễm khuẩn mạn tính tại chỗ rồi phát
triển thành GPQ.
5.1.1.5. Do tổn thương xơ hoặc u hạt gây co kéo thành phế quản:
nang, hay còn gọi là GPQ, đây là một nguyên nhân gây bệnh đáng kể ở người
lớn và có thể được chẩn đoán bằng chụp cắt lớp vi tính có độ phân giải cao
(HRCT). Nguyên nhân gây bệnh được biết đến không chỉ là một di chứng sau
khi nhiễm trùng phổi với Mycobacterium tuberckulosis mà rất đa dạng, và cơ
chế đã được chứng minh là do: nhiễm khuẩn, tắc phế quản và xơ hóa quanh
phế quản với đặc điểm ho mạn tính, khạc đờm mủ, và sự giãn nở liên tục của
đường thở. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu thử nghiệm lâm sang đã
thực hiện trên nhóm bệnh nhân này. Theo hướng dẫn của Hội Lồng ngực Anh
(BTS) năm 2010 [30] chẩn đoán GPQ sẽ dựa vào:
9
7.
Lâm sàng:
Triệu chứng cơ năng:
+ Ho, khạc đờm kéo dài: là triệu chứng rất quan trọng. Đờm mủ màu
xanh hoặc vàng, đờm lẫn máu.
Lượng đờm/ngày có thể ít 150ml/ngày. Khi chưa điều trị kháng sinh để lắng đờm có 3 lớp: lớp
trên là bọt; lớp giữa là nhày mủ; lớp dưới là mủ đục. Khạc đờm thường tăng
lên khi có bội nhiễm. Có một số trường hợp ho khan hoặc không ho (GPQ thể
khô ở các thùy trên). Một số trường hợp viêm đa xoang làm hướng tới chẩn
đoán hội chứng xoang phế quản.
+ Ho ra máu: ho ra máu có thể là triệu chứng duy nhất của bệnh. Ho ra
khẳng định chẩn đoán GPQ trong một số trường hợp GPQ nhiều và nặng. Tuy
nhiên, chẩn đoán xác định GPQ thường phải dựa vào chụp cắt lớp vi tính lớp
mỏng 1mm độ phân giải cao (HRCT).
Hình ảnh chụp HRCT[31], [32]: là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán xác
định GPQ, các dấu hiệu có thể gặp:
+ Đường kính trong của phế quản lớn hơn động mạch đi kèm.
+ Các phế quản không nhỏ dần được quy định là khi 1 phế quản trên một
đoạn dài 2cm có đường kính tương tự phế quản đã phân chia ra phế quản đó.
+ Thấy phế quản ở cách màng phổi thành ngực dưới 1cm.
+ Thấy phế quản đi sát vào màng phổi trung thất.
+ Thành PQ dày: bình thường PQ là các vòng mỏng có đường kính 3 –
7 mm. Khi thành PQ dày, độ dày vòng nhẫn > 0,5 đường kính động mạch đi
cùng, đường kính vòng nhẫn rộng hơn.
+ Hình đường ray, hình dải mờ nhìn thấy trên mặt cắt dọc PQ.
+ Hình nhẫn, nhẫn có mặt, hình con dấu, trên mặt cắt ngang PQ.
+ Hình ảnh tổ ong do nhiều bóng tròn nhỏ tập trung thành đám.
+ Hình mức khí nước nằm ngang đường kính không quá 2 cm.
+ Hình ảnh khí cạm do mất hoặc giảm thông khí sau PQ viêm, GPQ.
9.
Sơ lược về chỉ số FACED và chỉ số BSI:
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lệ tử vong ở bệnh nhân GPQ phần lớn
là do “hô hấp thất bại” và nhiễm trùng đường hô hấp. Như nghiên cứu của
Loebinger. MR và các cộng sự (thực hiện từ 1994) [33] tại Bệnh viện Royal
Brompton_Anh , khi phân tích số liệu của 91 bệnh nhân giãn phế quản trong
11
12
tiến hành một nghiên cứu quan sát trong 5 năm,đây là một nghiên cứu đa
trung tâm (tại Tây Ban Nha) chuyên về GPQ với 839 bệnh nhân, có độ tuổi
≥18 năm và được chẩn đoán GPQ trước 31 Tháng 12 năm 2005, với nhiều
nguyên nhân khác nhau,có tổn thương GPQ trên HRCT và có biểu hiện lâm
sàng của GPQ. Để phát triển một thang điểm đa chiều nhằm phân loại mức độ
nghiêm trọng của GPQ theo tiên lượng của nó. Nghiên cứu này tiến hành
phân tích 12 biến ban đầu gồm: độ tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ, mức độ khó
thở, xuất hiện, tăng khối lượng đờm, số thùy phổi bị tổn thương GPQ, nhiễm
trùng mạn tính bởi Pseudomonasaeruginosa, phân lập Mycobacteria không
điển hình trong đờm, phân lập nấm, số ca nhập viện trong năm trước, FEV1%
dự đoán và suy hô hấp họ đã lựa chọn được 5 chỉ số có khă năng dự đoán mức
độ GPQ thành lập nên thang điểm FACED bao gồm:
F - FEV1:
FEV1 ≥ 50%: 0 điểm; FEV1 < 50%: 2 điểm
A - Tuổi (Age):
Tuổi < 70 năm: 0 điểm; Tuổi ≥ 70 năm: 2 điểm,
C - Nhiễm Pseudomonas aeruginosa mạn tính (Presence of chronic
colonization by Pseudomonas aeruginosa): Không: 0 điểm ; Có: 1 điểm.
E - Số thùy phổi bị tổn thương trên HRCT:
1-2 thùy: 0 điểm; > 2 thùy : 1 điểm.
D - Khó thở (Dyspnea ):đánh giá mức độ khó thở dựa vào thang điểm
mMRC:
Từ 0-2: 0 điểm; Khó thở > 2 : 1 điểm.
Điểm mMRC đánh giá mức độ khó thở [40]:
0 – Khó thở khi gắng sức mạnh.
1 – Khó thở khi đi vội trên đường bằng, hay đi lên dốc nhẹ.
mức độ của bệnh COPD phân theo GOLD (Global Initiative for Chronic
Obstructive Lung Disease ) và các rối loạn hô hấp khác, trong đó điều trị
được nhắm mục tiêu đến những bệnh nhân tiên lượng xấu hơn [41],[42].
Bởi vậy Chalmers và các cộng sự [43] đã phân tích dữ liệu từ một
nghiên cứu thuần tập đa trung tâm quốc tế lớn từ năm 2008-2012 ,(gồm:
Edinburgh, Vương quốc Anh; Dundee_Vương quốc Anh; Newcastle_Vương
quốc Anh; Leuven_Bỉ và Monza_Ý) với 1310 bệnh nhân được chẩn đoán
NCFB đã xác nhận chỉ số BSI (Bronchiectasis Severity Index) để dự đoán
nguy cơ tử vong, nhập viện, xuất hiện đợt bệnh cấp, và chất lượng cuộc sống
ở bệnh nhân giãn phế quản một cách chính xác. Điểm số này có thể đóng góp
14
cho việc ra quyết định lâm sàng đối với bệnh nhân GPQ. Bệnh nhân sau đó sẽ
được phân loại vào các nhóm nhẹ, trung bình, và nặng tương tự như mô hình
tiên lượng COPD trước đó [41],[42]. Tuy nhiên việc tính toán số điểm của
BSI là tương đối phức tạp, cho giá trị điểm khác nhau đối với từng tiêu chí
(biến) và bao gồm nhiều biến.
Các tiêu chí trong BSI bao gồm:
Tuổi (năm): < 50
: 0 điểm;
70 - 79 : 4 điểm;
50 - 69 : 2 điểm;
≥ 80
: 6 điểm.
đến 26 điểm. Theo các giá trị tổng điểm số, các bệnh nhân giãn phế quản
được phân thành 3 nhóm BSI: bệnh nhân có điểm số BSI thấp (tổng điểm 0-4
điểm), bệnh nhân có điểm số BSI trung bình (tổng điểm số 5-8 điểm) và bệnh
nhân có điểm số cao BSI (tổng điểm 9 hoặc nhiều điểm) [11],[44].
• 0-4 điểm:
15
+ 1 năm kết quả 0-2,8% tỷ lệ tử vong, 0-3,4% tỷ lệ nhập viện.
+ 4 năm kết quả 0-5,3% tỷ lệ tử vong, 0-9,2% tỷ lệ nhập viện.
• 5-8 điểm:
+ 1 năm kết quả về tỷ lệ tử vong, 1-7,2% tỷ lệ nhập viện 0,9-4,8%.
+ 4 năm kết quả về tỷ lệ tử vong 4-11,3%, 9,9-19,4% tỷ lệ nhập viện.
• ≥ 9 điểm:
+ 1 năm kết quả 7,6-10,5% tỷ lệ tử vong, 16,7-52,6% tỷ lệ nhập viện.
+ 4 năm kết quả về tỷ lệ tử vong 9,9-29,2%, 41,2-80,4% tỷ lệ nhập viện.
12.
Mối tương quan giữa thang điểm FACED và BSI:
Gần như cùng lúc có 2 thang điểm đánh giá mức độ nặng của GPQ ra
đời nên đã có một số nghiên cứu được tiến hành nhằm so sánh độ nhậy và độ
đặc hiệu của hai thang điểm này được tiến hành.
Cả hai điểm đã được xác nhận trong nhiều nhóm lớn và đã được chứng
minh ước đoán chính xác tỷ lệ tử vong trên 4 năm theo dõi với thang điểm
BSI và 5 năm với thang điểm FACED.
Một nghiên cứu quan sát của Minov.J (2014) và các cộng sự [14] so
sánh điểm số giữa mức độ nghiêm trọng của GPQ trên bệnh nhân GPQ cùng
bằng thang điểm FACED và BSI, được thực hiện tại Viện Sức khỏe Nghề
đoán tỷ lệ tử vong trong 15 năm với thang điểm FACED cho thấy sức mạnh
tiên đoán vượt trội hơn (AUC 0,82 so với 0,69, p = 0,0495). Nghiên cứu này
cung cấp xác nhận thêm các thang điểm FACED và BSI có giá trị cho việc dự
đoán tỷ lệ tử vong trong GPQ và chứng minh tiện ích của các thang điểm này
trong một thời gian dài hơn so với mô tả ban đầu. Mặc dù cả hai thang điểm
đều có sức mạnh tiên đoán tuyệt vời, thì điểm FACED có giá trị cao hơn khi
dự đoán tỷ lệ tử vong trong vòng 15 năm.
Và một nghiên cứu khác của W.Guan và các cộng sự (2016) [45] (tại
Quảng Châu-Trung Quốc) với mục đích xác định các kiểu hình của bệnh nhân
giãn phế quản sẽ cung cấp lợi ích bổ sung ngoài các giá trị điểm BSI hoặc
17
điểm FACED. Các tác giả đã tiến hành phân tích nhóm phân cấp để xác định
rằng đặc điểm lâm sàng phân biệt tốt nhất của GPQ. Nghiên cứu gồm tuổi,
FEV1, vi khuẩn đờm, nguyên nhân, tổn thương trên X-quang, mức độ nghiêm
trọng của bệnh, chất lượng của cuộc sống, mức độ ho và nhạy capsaicin, tần
xuất sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và mức độ xuất hiện các đợt cấp
được so sánh. Các tác giả đã phân tích dữ liệu thu được từ 148 người lớn bị
giãn phế quản ổn định, phân thành 4 nhóm. Nhóm 1 (n=69) bao gồm các bệnh
nhân nhỏ tuổi với giãn phế quản chủ yếu là nhẹ và vô căn với việc sử dụng
nguồn lực chăm sóc sức khỏe không thường xuyên. Bệnh nhân trong nhóm 2
(n=22), trong đó giãn phế quản thứ phát chiếm ưu thế (77,3%), đã biểu hiện
triệu chứng trong thời gian dài, mức độ bệnh nghiêm trọng, chức năng phổi
kém, nhiễm mạn tính với Pseudomonas aeruginosa và sử dụng dịch vụ chăm
sóc sức khỏe thường xuyên. Nhóm 3 (n=16) bao gồm các bệnh nhân lớn tuổi
với thời gian biểu hiện triệu chứng ngắn hơn, giãn phế quản chủ yếu là tự phát
(87,5%), và giãn phế quản mức độ nghiêm trọng. Nhóm 4 (n=41) gồm các
bệnh nhân cao tuổi nhất với mức độ nặng vừa trung bình. Nhóm 2 và 3 xu
2.1.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là 79/164 người bệnh được chẩn đoán là GPQ
vào điều trị nội trú tại trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 01
tháng 10 năm 2016 đến 30 tháng 06 năm 2017 đáp ứng các tiêu chuẩn chọn
lựa và tiêu chuẩn loại trừ, trong đó có 33 bệnh nhân đến tái khám, hoặc nhập
viện điều trị sau khi ra viện ít nhất 3 tháng.
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn lựa:
Bao gồm những bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn sau:
- Người bệnh được chẩn đoán xác định GPQ:
+ Lâm sàng (gợi ý): ho, khạc đờm nhiều, đờm mủ, đờm có 3 lớp, ho khạc
ra máu tươi ở các mức độ và/hoặc có khó thở.
+ Chụp HRCT là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định, trên HRCT có
thể có các dấu hiệu sau:
Đường kính trong của phế quản lớn hơn động mạch đi kèm.
Các phế quản không nhỏ dầnđược quy định là khi một phế quản trên
đoạn dài 2cm có đường kính tương tự như đường kính của phế quản
đã phân chia ra nó.
Thấy phế quản ở cách màng phổi thành ngực dưới 1cm.
Thấy phế quản đi sát vào màng phổi trung thất.
Hoặc người bệnh trong tiền sử đã được chẩn đoán GPQ tại Trung tâm Hô
hấp Bệnh viện Bạch Mai, phòng khám chuyên khoa Hô hấp
- Người bệnh được chẩn đoán GPQ đã ổn định về mặt lâm sàng mới
được thăm dò chức năng hô hấp.
20
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh được chẩn đoán GPQ có kèm theo các bệnh gây suy giảm
miễn dịch: HIV, ung thư; suy thận mạn; các bệnh: lao phổi tiến triển, nấm
- Xét nghiệm máu: số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu (tỷ lệ bạch
cầu đa nhân trung tính); urê, creatinin; glucose; điện giải đồ (Na +, K+,Cl-); T4,
TSH (nếu có nghi nghờ), HIV,….
- Nuôi cấy định danh vi khuẩn với 1 mẫu đờm chuẩn, nếu bệnh nhân
không khạc được đờm thì cho khí dung nước muối ưu trương (Natriclorua 10%)
hoặc nuôi cấy dịch rửa phế quản (qua phương pháp nội soi phế quản). Các mẫu
bệnh phẩm sẽ được lấy tại thời điểm khi bệnh nhân vào viện/ đến khám.
- Điện tâm đồ.
- Siêu âm tim, siêu âm ổ bụng (nếu cần).
- Khám tai mũi họng.
- Xquang phổi chuẩn,
- Nội soi phế quản (nếu cần và không có chống chỉ định),
- Đo chức nămg hô hấp (khi lâm sàng đã ổn định, hoặc trước khi ra viện).
* Sau đó mỗi một người bệnh đồng thời sẽ được đánh giá bằng hai
thang điểm FACED và BSI khi tình trạng lâm sàng của người bệnh đã ổn
định, trước khi ra viện và có đủ kết quả xét nghiệm.
* Người bệnh sau khi ra viện sẽ được hẹn tái khám sau ít nhất 3 tháng,
những bệnh nhân có kết quả nuôi cấy đờm dương tính sẽ phải được nuôi cấy
lại với 1 mẫu đờm chuẩn sau ít nhất 3 tháng.
* Thông tin về người bệnh được cập nhật trong khoảng thời gian ít nhất
3 tháng sau lần khám, ra viện đầu tiên.
* Tất cả những trường hợp tử vong do nguyên nhân hô hấp trong thời
gian nghiên cứu đều được ghi nhận và phân tích.
* Các kết quả khám lâm sàng, cận lâm sàng, khai thác tiền sử của người
bệnh đều được thu thập, xử lý và đánh giá theo các chỉ tiêu đánh giá của thang
điểm FACED và thang điểm BSI.
* Kết quả thu được sau khi đánh giá bởi hai thang điểm sẽ được phân
tích, so sánh giữa hai thang điểm với nhau.
2.3. Nội dung nghiên cứu:
2.3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu:
• Tuổi: tính theo năm. Được phân thành các nhóm tuổi: 10 G/l
• Tỷ lệ % bệnh nhân có nhiễm P.aeruginosa mạn tính, nhiễm vi khuẩn
không phải P.aeruginosa và bệnh nhân không phân lập được vi khuẩn
trong đờm trong nhóm nghiên cứu.
• Tỷ lệ % bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu có tổn thương GPQ ≤2 thùy
phổi và >2 thùy phổi trên phim HRCT.
• Tỷ lệ bệnh nhân có FEV1: > 80% ; 50-80%; 30-49% ;
2.4.2. Máy chụp HRCT lồng ngực:
Máy chụp cắt lớp vi tính từ 32 dẫy đặt tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh
Bệnh viện Bạch Mai.
25
2.4.3. Máy khí dung
- Sử dụng máy khí dung có tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai.
- Mast khí dung sạch, mỗi bệnh nhân dùng một mast khí dung riêng,
một dây dẫn khí riêng. Sau khi dùng được ngâm vào dung dịch sát khuẩn theo
qui trình khử khuẩn của Bộ Y tế.
2.4.4. Máy nội soi phế quảnống mềm:
- Ống soi phế quản Olympus ký hiệu OVT- F3, đặt tại Trung tâm Hô
hấp Bệnh viện Bạch Mai. Ống soi có đường kính là 2,2mm, ống dài 70cm,
cỡống soi là 5,6mm.
- Nguồn sáng Xenon và nguồn sáng Halogen.
- Màn hình SONY 16 INCH.
2.4.5. Máy đo chức năng hô hấp:
Máy đo chức năng hô hấp KoKo® PFT Spirometer đặt tại Trung tâm
Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai.
2.4.6. Các phương tiện khác:
Cốc đựng đờm vô khuẩn; ống nghiệm vô khuẩn; lam kính, kính hiển vi
điện tử, các đĩa thạch nuôi cấy tại khoa vi sinh,…
Cân, đo chiều cao đặt tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai.
2.5. Phương pháp lấy mẫu, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh:
2.5.1. Phương pháp lấy mẫu máu xét nghiệm:
- Lấy mẫu máu tĩnh mạch lúc bệnh nhân nhập viện và lần 2 khi bệnh
nhân ổn định về lâm sàng trước lúc bệnh nhân ra viện, mẫu lần 2 sẽ được lấy