Đánh giá kết quả điều trị ung thư lưỡi giai đoạn ct2n0m0 - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư lưỡi (UTL) là ung thư thường gặp nhất trong các ung thư vùng
khoang miệng. Theo thống kê của Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ, trên toàn thế giới
hàng năm có khoảng 263.900 ca ung thư khoang miệng mới mắc và khoảng
128.000 trường hợp tử vong. Tại Hoa Kỳ, năm 2017 khoảng 49.670 ca mới
mắc và 9.700 trường hợp tử vong do ung thư lưỡi. Trường hợp mới mắc
ung thư lưỡi của nam giới hàng năm là 35.720 trường hợp và có 13.950
trường hợp mới mắc ở giới nữ, tỷ lệ nam/nữ là 2/1 [1],[2],[3]. Tại Việt Nam
năm 2010 ghi nhận ung thư khoang miệng là một trong 10 bệnh ung thư
phổ biến nhất và tỷ lệ mắc ung thư khoang miệng ở nam giới Việt Nam là
4,6/100.000 dân/năm, ở nữ là 1,7/100.000 dân/năm. UTL thường gặp ở lứa
tuổi trung niên và người lớn tuổi, nam gặp nhiều hơn nữ [4],[5].
Chẩn đoán ung thư lưỡi cần dựa vào thăm khám lâm sàng, xét
nghiệm chẩn đoán hình ảnh (cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hàm mặt) và
đặc biệt, chẩn đoán xác định bằng kết quả mô bệnh học. Các phương pháp
điều trị ung thư lưỡi bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa chất, tuy nhiên việc
lựa chọn phương pháp nào phù hợp phụ thuộc vào giai đoạn bệnh và thể
trạng bệnh nhân. Ung thư lưỡi giai đoạn sớm có chỉ định điều trị phẫu
thuật kết hợp với xạ trị hậu phẫu cho trường hợp nguy cơ tái phát cao. Xạ
trị kết hợp với hóa chất có vai trò cho các trường hợp không thể mổ được
và đối với ung thư lưỡi giai đoạn di căn xa thì điều trị hóa chất toàn thân
và chăm sóc triệu chứng đóng vai trò quan trọng [2],[5],[6].
Phẫu thuật cắt lưỡi bán phần và vét hạch cổ chọn lọc cùng bên được
chỉ định cho bệnh nhân UTL giai đoạn lâm sàng cT2N0M0. Nhiều nghiên
cứu cho thấy các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến kết quả điều trị như kích
thước u, độ biệt hóa của khối u, tình trạng di căn hạch tiềm ẩn, mức độ xâm


2

trước và một đáy ở phía sau tương đối cố định [12],[13].
1.1.1.

Hình thể ngoài
- Đỉnh lưỡi: tự do, đối diện với răng cửa.
- Bờ lưỡi: là một bờ vòng, dày, liên quan ở mỗi bên với răng và lợi.
- Rễ lưỡi: là phần dính vào nền miệng và được cột chặt bởi các cơ đi từ

xương hàm dưới và xương móng tới.
- Mặt trên lưỡi được chia làm 2 phần: 2/3 trước nằm trong ổ miệng chính,
1/3 sau trong phần họng miệng, ngăn cách nhau bởi một rãnh chữ V, đỉnh
quay ra sau, gọi là rãnh tận. Đỉnh rãnh có lỗ tịt, là di tích của ống giáp lưỡi
trong bào thai.
+ Phần trước rãnh: có một rãnh giữa, niêm mạc có nhiều nhú rất nhỏ gọi
là nhú lưỡi
+ Phần sau rãnh: tạo nên thành trước của phần hầu miệng, niêm mạc phủ
phần này không có các nhú nhưng có nhiều tuyến thanh dịch và có nhiều nang
bạch huyết nằm dưới niêm mạc. Những nang này tập trung tạo thành hạnh
nhân lưỡi.
- Mặt dưới lưỡi: nhẵn, không có nhú và dính với nền miệng bởi một nếp
niêm mạc ở đường giữa, gọi là hãm lưỡi.


4

1.1.2.

Cấu tạo của lưỡi
Lưỡi được cấu tạo bởi một khung xương sợi và các cơ vân, phủ bằng


5

+ Phần trước rãnh của lưỡi được chi phối bởi thần kinh lưỡi (nhánh của
thần kinh hàm dưới), cảm giác chung. Thần kinh này còn mang theo các sợi
của thừng nhĩ, nhánh của thần kinh trung gian để cảm giác vị giác cho 2/3
trước lưỡi.
+ Phần sau rãnh của lưỡi được cảm giác chung và cảm giác vị giác
bằng các nhánh lưỡi của thần kinh lưỡi hầu.
1.1.4.

Đường vị giác
+ Đường của dây lưỡi.
+ Đường của dây IX ở các hạch Andersch và Ehrensitter đi lại.

Hình 1.1: Cơ của lưỡi [14].
1.1.5.

Giải phẫu hệ thống hạch vùng đầu mặt cổ
- Tuần hoàn bạch huyết của lưỡi rất phong phú, có nhiều vòng nối giữa

mạng lưới dưới niêm mạc với mạng lưới trong cơ và hai bên lưỡi:
+ Vùng đầu lưỡi dẫn về các hạch dưới cằm
+ 2/3 trước lưỡi dẫn về các hạch dưới cằm và dưới hàm, rồi từ đây về
các hạch nhóm sau dưới và hạch cảnh
+ 1/3 sau lưỡi dẫn về các hạch trên của chuỗi hạch nhóm sau dưới.


6

- Có sự tiếp nối phong phú ngang qua đường giữa các mạch bạch huyết

phát từ phía trên cơ vai móng đến phía dưới xương đòn. Giới hạn sau là bờ
sau của cơ ức đòn chũm, giới hạn trước là bờ bên của cơ ức móng.
V. Nhóm hạch thuộc tam giác cổ sau
Gồm chủ yếu các hạch nằm dọc theo 1/2 dưới của thần kinh phụ cột
sống và động mạch cổ ngang, bao gồm cả hạch thượng đòn. Giới hạn sau là
bờ trước của cơ thang, giới hạn trước bờ sau cơ ức đòn chũm và giới hạn dưới
là xương đòn.
VI. Nhóm hạch thuộc tam giác cổ trước
Gồm các hạch trước và sau khí quản, hạch trước nhẫn (Delphian) và các
hạch quanh giáp, gồm cả các hạch dọc theo dây thần kinh thanh quản quặt
ngược. Giới hạn trên là xương móng, giới hạn dưới là hõm trên xương ức, giới
hạn bên là các động mạch cảnh chung và giới hạn sau là các cân trước sống.
1.2. DỊCH TỄ HỌC, NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ
1.2.1.

Dịch tễ học
Theo thống kê của Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ, trên toàn thế giới hàng

năm có khoảng 263.900 ca mới mắc và khoảng 128.000 trường hợp tử vong.
Tại Mỹ, năm 2017 có 49.670 trường hợp ung thư lưỡi mới mắc, 9.700 trường
hợp tử vong. Trường hợp mới mắc ung thư lưỡi của nam hằng năm là 35.720
trường hợp và có 13.950 trường hợp mới mắc ở giới nữ, tỷ lệ nam/nữ là 2/1
[1],[2],[3].


8

Tình hình mắc 10 ung thư phổ biến tại Việt Nam năm 2010 ghi nhận tỷ
lệ mắc ung thư khoang miệng ở nam giới Việt Nam là 4,6/100.000 dân/năm
(1.716 ca mỗi năm), ở nữ là 1,7/100.000 dân/năm (669 ca mỗi năm). Ung thư


10

15

20

25

30

35

40

Tỷ lệ mắc chuẩn tuổi trên 100.000 dân
Biều đồ 1.1: Biểu đồ tỷ lệ mắc chuẩn của mười ung thư phổ biến nhất
ở nam giới Việt Nam 2010 [16]
Ung thư lưỡi thường gặp ở lứa tuổi từ 50-60 tuổi, nam gặp nhiều hơn
nữ, tỷ lệ nam/nữ =3/1 [2],[5],[17]. Theo nghiên cứu của Shabbir Akhtar gồm
94 bệnh nhân ung thư lưỡi giai đoạn I và II tuổi trung bình là 55 và tuổi mắc
bệnh trải dài từ 25 đến 78 tuổi, nam giới gấp hơn 1,5 lần nữ giới [7].


9

Theo nhóm nghiên cứu của Kiyoto Shiga và cộng sự (2001-2005) ở
bệnh viện Tohoku University hospital, tuổi trung bình là 59,3 và tuổi mắc
bệnh trải dài từ 24 đến 86 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,52 [18]. Tại Việt Nam, theo
tác giả Lê Văn Quảng, tuổi trung bình là 49,65±8,59; hay gặp trong nhóm từ

khoảng 5%.
+ Hồng sản được đặc trưng bởi các mảng màu đỏ trên bề mặt ranh giới
với niêm mạc bình thường. Thường kết hợp với loạn sản biểu mô và có liên
quan với ung thư biểu mô tại chỗ hoặc ung thư xâm lấn lên đến 40% các
trường hợp.
+ Loạn sản có đặc điểm mô bệnh học là sự hiện diện của phân bào
nguyên nhiễm và hạt nhân nổi. Loạn sản gắn liền với tiến triển đến ung thư
xâm lấn từ 15-30% các trường hợp.
Những tiến bộ y học gần đây cho phép con người có những hiểu biết
sâu hơn về cơ chế sinh học phân tử của ung thư. Người ta đã xác định được
một số gen liên quan đến ung thư lưỡi. Ví dụ: tăng biểu hiện quá mức gen sinh
ung thư Bcl-2 nằm trên vị trí chuyển đoạn đảo ngược của nhiễm sắc thể 18,
tăng biểu hiện quá mức của gen chống lại sự chết theo chương trình của tế bào
Bax, hoặc đột biến gen kháng ung thư P53 [6],[25],[26],[27].
1.3. ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC
1.3.1.

Triệu chứng lâm sàng

1.3.1.1. Giai đoạn đầu
Triệu chứng nghèo nàn hay bị bỏ qua
- Cơ năng: thường người bệnh có cảm giác như có dị vật hoặc xương cá
cắm vào lưỡi, rất khó chịu nhưng qua đi nhanh.
- Thực thể
Khám lưỡi: tìm thấy ở lưỡi có một điểm nổi phồng với sự thay đổi màu
sắc, niêm mạc trắng, xơ hoá hoặc tổn thương là vết loét nhỏ. Sờ thấy tổn
thương chắc, rắn, không mềm mại như bình thường.


11

12

Thương tổn thường sùi loét, được tạo thành từ một vết loét không đều ở
đáy có mủ, máu, bờ nham nhở, chảy máu khi va chạm. Đôi khi không có dấu
hiệu loét, đó là một nhân lớn gắn chặt xuống lớp dưới, nhô lên dưới lớp niêm
mạc căng nhẵn, có màu tím nhạt, lớp niêm mạc lỗ rỗ những lổ nhỏ, khi ấn vào
sẽ làm rỉ ra một chất trắng, sản phẩm của hoại tử ở phía dưới.
+ Ở giai đoạn tiến triển hơn, thể loét chiếm ưu thế, loét sâu lan rộng
xuống bề mặt hoặc vào mặt dưới, gây đau đớn, gây bội nhiễm, có mùi hôi, rất
dễ chảy máu, thậm chí có thể gây chảy máu trầm trọng. Thường phải khám
BN ở trạng thái đã gây mê để hạn chế phản ứng của BN do đau đớn.
+ Việc thăm khám bằng ngón tay rất quan trọng để đánh giá độ thâm
nhiễm xuống phía dưới, độ xâm lấn vào các mô tiếp cận: sàn miệng, trụ
amiđan, amiđan, rãnh lưỡi,…và đo kích thước khối u.
Khám hạch: Khoảng 35-40% các trường hợp có hạch ngay từ lần khám
đầu tiên, trong đó 3/4 là hạch di căn. Hạch dưới cằm, dưới hàm hay gặp, hiếm
gặp các hạch cảnh giữa và dưới.
- Vị trí và hình thái tổn thương hay gặp: [28]
+ Vị trí: 80% gặp ở bờ tự do của lưỡi, 10% gặp ở mặt dưới lưỡi, 8%
gặp ở mặt trên lưỡi, 2% gặp ở đầu lưỡi.
+ Hình thái tổn thương: sùi, loét, thâm nhiễm hoặc kết hợp.
- Một loạt các thay đổi bệnh lý từ tổn thương tiền ung đến ung thư có
thể xảy ra. Trong số các tổn thương tiền ung bao gồm: bạch sản, hồng sản và
loạn sản [5],[6],[24],[29],[30].


13

1.3.2.


14

1.3.2.2. Chụp X quang
- Chụp xương hàm dưới: đánh giá tổn thương xâm lấn xương.
- Chụp tim phổi: đánh giá di căn.
1.3.2.3. Chụp CT - Scanner và MRI hàm mặt
Chẩn đoán hình ảnh vùng hàm mặt có giá trị đánh giá xâm lấn tổ chức
xương, phần mềm xung quanh và hạch cổ. Chụp CT- Scanner và MRI có thể
phát hiện ra hạch di căn mà lâm sàng không thấy được. Việc đánh giá được di
căn hạch vùng rất có giá trị để từ đó đề ra biện pháp vét hạch trong điều trị
bệnh.
* CT scan hàm mặt
• Vị trí u nguyên phát: đối với ung thư khoang miệng, CT scan tiêm
thuốc cản quang có thể giúp xác định mức độ xâm lấn của khối u vào hệ thống
cơ lưỡi sâu và có hoặc không có liên quan tới xương hàm dưới. CT scan đặc
biệt hữu ích trong đánh giá giai đoạn ung thư đã xâm lấn hơn tại chỗ hoặc lan
tràn vào các cấu trúc bên cạnh, đó là những trường hợp khó đánh giá trên
khám lâm sàng.
• Hạch vùng: so sánh với khám lâm sàng đơn thuần, việc bổ sung CT
scan cải thiện khả năng phát hiện di căn hạch cổ. Các bệnh lý về hạch bạch
huyết thường được xác định bằng cắt lớp vi tính khi hạch lớn hơn 10mm
đường kính hoặc có hoại tử trung tâm trong hạch. Hạn chế của CT scan là
khó phát hiện các hạch có kích thước giáp ranh, các hạch không hoại tử,
hoặc lan tràn vỏ hạch, nhiều trường hợp khó phân biệt hạch di căn hoặc
hạch viêm phản ứng. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, đặc biệt với các
trường hợp di căn hạch cổ kích thước dưới 10 mm hoặc các hạch di căn
tiềm ẩn [34],[35].
* Chụp cộng hưởng từ hàm mặt




1.3.3.

Chẩn đoán

1.3.3.1. Chẩn đoán xác định
Để chẩn đoán UTL cần phải kết hợp nhiều phương pháp như hỏi kỹ
bệnh sử, thăm khám lâm sàng một cách tỉ mỉ, phối hợp với cận lâm sàng, đặc
biệt chẩn đoán xác định bằng kết quả mô bệnh học.
1.3.3.2. Chẩn đoán phân biệt
Viêm loét lưỡi do chấn thương, chứng viêm miệng - lưỡi nhiều ổ, loét lưỡi
do lao, giang mai, tổn thương thâm nhiễm trong bệnh nấm actinomyces.
1.3.3.3. Chẩn đoán giai đoạn
* Phân loại TNM
Theo Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (AJCC) phiên bản lần thứ 7 năm 2010
và Hiệp hội Quốc Tế chống ung thư (UICC) năm 2009, ung thư lưỡi được
phân loại như sau [42].
T: u nguyên phát
 Tx: không đánh giá được u nguyên phát
 T0: không có u nguyên phát.
 Tis: ung thư biểu mô tại chỗ.
 T1: đường kính u  2 cm.
 T2: 2cm < đường kính u  4 cm.
 T3: đường kính u > 4 cm.
 T4a: khối u xâm lấn vỏ xương hàm dưới, các cơ sâu của lưỡi (cơ móng lưỡi,
cơ dưới lưỡi, cơ khẩu cái lưỡi và cơ trâm lưỡi), xoang hàm hoặc da mặt.
 T4b: khối u xâm lấn khoang cơ nhai, chân bướm, nền sọ, động mạch cảnh trong.
N: hạch vùng
 Nx:



Tis N0 M0
T1 N0 M0
T2 N0 M0
T3 N0 M0
T1,2,3 N1 M0
T4 N0,1 M0
Bất kỳ T, N2,3 M0
Bất kỳ T, bất kỳ N, M1

1.4. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ LƯỠI GIAI ĐOẠN CT2N0M0
1.4.1.

Phẫu thuật

1.4.1.1. Khối u lưỡi nguyên phát
Đối với UTL giai đoạn sớm, phẫu thuật cắt rộng tổn thương và vét hạch
cổ là phương pháp điều trị ban đầu và đóng vai trò cơ bản. Trường hợp UTL
giai đoạn lâm sàng T2 (kích thước 2-4cm, chưa xâm lấn cấu trúc xung quanh),
chỉ định phẫu thuật cắt lưỡi bán phần cho u nguyên phát nhằm đảm bảo diện
cắt âm tính, giảm thiểu tái phát tại chỗ.
Trong phẫu thuật triệt căn, cần cố gắng đảm bảo diện cắt âm tính vì
diện cắt dương tính ảnh hưởng xấu tới kết quả điều trị. Diện cắt tiệm cận,


18

được xác định là cách rìa u
* Biến chứng và di chứng do vét hạch :
- Chảy máu
- Phù nề thanh quản dẫn đến khó thở
- Tràn khí dưới da
- Đau vùng cổ tồn tại dai dẳng [5].
1.4.2.

Xạ trị bổ trợ

1.4.2.1. Chỉ định xạ trị bổ trợ
Ung thư lưỡi giai đoạn sớm đã được phẫu thuật triệt căn, xạ tri đơn
thuần hoặc hóa xạ đóng vai trò bổ trợ cho một số trường hợp nguy cơ tái phát
cao. Đối với UTL giai đoạn sớm, chỉ định bổ trợ xạ trị hoặc hóa xạ trị phụ
thuộc vào đánh giá các yếu tố nguy cơ tái phát tại chỗ, tại vùng (diện cắt
dương tính, di căn hạch, hạch phá vỡ vỏ, xâm lấn sâu, xâm lấn mạch bạch
huyết, thần kinh). Thời gian xạ trị bổ trợ thường sau phẫu thuật trong vòng 6
tuần [44].
1.4.2.2. Trường chiếu và liều tia
Thể tích bia lâm sàng CTV 60 được xác định trên CT scan sau khi hội
chẩn với phẫu thuật viên và bác sỹ giải phẫu bệnh để xác định rõ vùng nguy
cơ cao. Nếu phẫu thuật tạo hình thì bao gồm với biên độ 10mm từ vị trí u
nguyên phát. CTV 66 được mô tả trong trường hợp có diện cắt dương tính và
bao gồm các vị trí mà phẫu thuật không lấy được toàn bộ tổn thương [50].
Tia xạ hạch cổ: CTV 60 được mô tả bao gồm tất cả các nhóm hạch di
căn được xác định trong phẫu thuật hoặc vùng kế cận có nguy cơ di căn cao
(ví dụ cho nhóm IV nếu hệ thống hạch sau phẫu thuật lấy hạch cổ nhóm I-III


20


Hóa xạ trị bổ trợ

1.4.3.1. Chỉ định
Bệnh nhân UTL giai đoạn sớm sau khi phẫu thuật cắt u nguyên phát và
vét hạch cổ cần đánh giá các đặc điểm sau phẫu thuật nhằm có kế hoạch điều
trị đúng đắn. Tổn thương hạch phá vỡ vỏ, diện cắt dương tính kèm theo các
yếu tố di căn hạch, xâm lấn mạch máu và thần kinh là những trường hợp cần
xem xét điều trị hóa xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật [44].
1.4.3.2. Phác đồ điều trị
Đối với các bệnh nhân UTL có yếu tố nguy cơ cao sau phẫu thuật, hóa
xạ trị đồng thời với phác đồ hóa chất cisplatin, liều lượng 100mg/m 2 da và
bệnh nhân được truyền hóa chất tĩnh mạch vào các ngày 1, 22, 43 của xạ trị
[44],[54],[55].
1.4.3.3. Tác dụng không mong muốn
Ngoài các biến chứng của xạ trị, một số tác dụng không mong muốn có
thể xảy ra khác trong quá trình điều trị. Thuốc gây độc cho thận đặc biệt khi
truyền dịch và lợi niệu không đủ, phải đánh giá chức năng thận, mức lọc cầu
thận trước khi truyền hóa chất. Ức chế tủy xương liên quan tới liều dùng và
liều tích lũy của thuốc, gây giảm tiểu cầu, bạch cầu. Buồn nôn, nôn mức độ
nặng thường xảy ra, xuất hiện trong vòng 1 giờ điều trị và kéo dài 8-12 tiếng,
do đó cần sử dụng thuốc chống nôn dự phòng. Độc tính lên cơ quan thính
giác, chủ yếu do dùng liều cao gây ra ù tai, giảm thính lực [54],[55].
1.4.3.4. Một số nghiên cứu hóa xạ trị bổ trợ ung thư lưỡi
+ Nghiên cứu Bernier J và cộng sự gồm 334 bệnh nhân ung thư biểu mô tế
bào vảy có nguy cơ cao vùng đầu cổ, trong đó nhóm UTL giai đoạn T1-2N0-1 có
các yếu tố nguy cơ (hạch phá vỡ vỏ, diện cắt dương tính, xâm lấn thần kinh hoặc
huyết khối mạch nuôi u). Các bệnh nhân sau PT được chia 2 nhóm: xạ trị đơn
thuần hoặc hóa xạ trị (cisplatin 100mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1, 22 và 43




nghiên cứu của Decroix, tỷ lệ sống thêm 5 năm theo mức độ di căn hạch với
N0 là 59%, N1 là 35%, N2 là 27%, N3 là 8% [56].
Theo nghiên cứu của Chiu, thì tỷ lệ sống thêm 5 năm cho những trường
hợp chưa di căn hạch cổ là 62% và đã di căn hạch chỉ còn 20%. Mặt khác, tỷ


23

lệ di căn tiềm ẩn trong UTL giai đoạn sớm cũng rất cao, chiếm 42% [46],[57],
[58]. Nghiên cứu của Ngô Xuân Quý, tỷ lệ OS 5 năm có sự khác biệt rõ giữa
nhóm hạch chưa di căn và có di căn hạch (76,3% so với 21,7%, p=0,01) [11].
Tương tự nghiên cứu của Thomas Mucke, thời gian sống thêm khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p=0,034 giữa di căn hạch và không di căn hạch [59].
1.5.3.

Mức độ xâm lấn sâu
Mức độ xâm lấn sâu (depth of invasion – DOI) >5mm có DFS và OS

thấp hơn nhóm xâm lấn sâu ≤5mm [60]. Yếu tố này cũng ảnh hưởng tới tình
trạng di căn hạch tiềm ẩn và tái phát sau điều trị của bệnh nhân UTL giai đoạn
sớm [8],[61],[62]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy: DOI là yếu tố tiên
lượng, tăng nguy cơ di căn hạch cổ và ảnh hưởng xấu tới thời gian sống thêm.
Tác giả Su Jung Shim, DFS và OS 5 năm khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so
sánh với 2 nhóm bệnh nhân DOI≤5mm và >5mm, cụ thể OS 2 nhóm là 92%
vs 96% (p=0,023) và DFS 2 nhóm là 92% vs 66% (p=0,018) [8]. Tác giả
Ahmed S.Q cũng cho kết quả tương tự [63]. Mặt khác, Hiệp hội ung thư Hoa
Kỳ năm 2017 đã thêm yếu tố DOI vào phân loại giai đoạn bệnh T (tumor) với
ngưỡng cut-off 5mm cho thấy ý nghĩa vô cùng quan trọng của DOI trong
đánh giá giai đoạn và tiên lượng UTL [33].

độ mô học cao và độ mô học thấp – vừa, với p5mm) được xạ trị bổ trợ với p=0,01
[53].
* Ngoài ra còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến kết quả điều trị:
- Tuổi:
Nghiên cứu của Richard J và cộng sự về UTL giai đoạn pN0, so sánh giữa
nhóm ≤40 tuổi và >40 tuổi cho thấy có sự khác biệt về OS, p=0,01. Nghiên
cứu của tác giả Ngô Xuân Quý, OS khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2
nhóm ≤60 tuổi và >60 tuổi, p=0,04. Tuy nghiên nghiên cứu của Su Jung Shim
nhận ra OS và DFS 5 năm không khác biệt có ý nghĩa thống kê ở nhóm ≤55
tuổi và >55 tuổi, p>0,05 [8],[11],[64].
- Giới tính:
Nghiên cứu của Vũ Việt Anh với ở nam tỷ lệ sống thêm 4 năm là
80,1% và ở nữ là 82,4% [65]. Nghiên cứu của Ngô Xuân Quý, tỷ lệ sống
thêm 5 năm ở nam là 75,2% và ở nữ là 50,9%, khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p=0,041 [5]. Nghiên cứu của tác giả Kiyoto Shiga tỷ lệ sống thêm ở
nam là 41% và ở nữ là 64% [25]. Theo tác giả Jefferey C về ung thư lưỡi
giai đoạn sớm được tiến hành phẫu thuật đơn thuần, có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa OS giữa giới nam và nữ (p=0,05), tuy nhiên không có
ý nghĩa thống kê đối với DFS [66].
- Yếu tố xâm lấn thần kinh, mạch bạch huyết:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status