TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ MÔN DƯỢC LÝ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH
BÁN TRƯỜNG DIỄN VÀ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ
BỎNG CỦA CHẾ PHẨM CH1701
TRÊN THỰC NGHIỆM
Thời gian nghiên cứu:
9-10/2017
Cán bộ tham gia nghiên cứu:
1.
2.
PGS.TS. Nguyễn Trần Thị Giáng Hương
TS. Phạm Thị Vân Anh
3. TS. Trần Thanh Tùng
4. Ths. Phùng Văn Long
5. BS. Trần Quỳnh Trang
6. KTV. Nguyễn Kiều Vân
7. KTV. Đinh Quang Trường
8. KTV. Đàm Đình Tranh
9. KTV. Nguyễn Thành Long
1
1
Boule Medical AB của Thụy Điển.
- Các hoá chất xét nghiệm và làm tiêu bản mô bệnh học.
- Máy scan HP G2410 do công ty Hewlett-Packard của Mỹ sản xuất.
1.1.2. Đối tượng nghiên cứu
2
2
- Thử tác dụng trên mô hình bỏng: Chuột cống chủng Wistar, cả hai giống, khoẻ
mạnh, cân nặng 180 ± 20g, do Trung tâm cung cấp động vật thí nghiệm Đan
Phượng – Hà Tây cung cấp.
Động vật được nuôi trong phòng thí nghiệm 7 ngày trước khi nghiên cứu bằng
thức ăn chuẩn dành riêng do Viện Vệ sinh dịch tễ cung cấp, uống nước tự do.
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Tác dụng của CH1701 trên mô hình gây bỏng nhiệt
Mô hình được tiến hành dựa trên các nghiên cứu trước đó gây bỏng trên da chuột
cống trắng. Chuột cống trắng cả hai giống được chia ngẫu nhiên thành 5 lô, mỗi lô
13 con như sau:
Lô 1(Chứng sinh học): Không gây bỏng, không bôi thuốc
Lô 2 (Mô hình): Gây bỏng trên da. Bôi tá dược 2 lần/ngày.
Lô 3 (Chứng dương): Gây bỏng trên da. Bôi sulfadiazin bạc 2 lần/ngày.
Lô 4 (TĐ1 liều thấp – Lô trị 1): Gây bỏng trên da. BôiCH1701 0,1 ml/1 vết
bỏng/1 lần, 2 lần/ngày.
Tác dụng điều trị bỏng của CH1701 trên mô hình bỏng:
Tỷ lệ chết của chuột sau khi gây bỏng
Chỉ số hình thái đại thể:
+ Tình trạng tổn thương tại vết bỏng: sưng, nóng, đỏ, phù nề quan sát bằng mắt
thường – ghi lại bằng máy ảnh kỹ thuật số.Vết bỏng khỏi lúc bề mặt khô, mép vết
bỏng tiến gần nhau, quan sát thấy không còn hiện tượng sưng tấy trên vết bỏng.
Chỉ số này được ghi lại theo ngày của từng chuột.
+ Đo diện tích vết bỏng tại các thời điểm 7, 14, 21 ngày sau khi gây bỏng. Tính
phần trăm phục hồi theo công thức Walker và Mason[3]: Phần trăm phục hồi = (1
– Ad/Ao) x 100 (trong đó: Ao là diện tích ở ngày 0, Ad là diện tích ở ngày đánh
giá). Đo diện tích vết bỏng và xử lý bằng phần mềm ImageJ Basics ver 1.38 đã
được Tổ chức y tế Thế giới công nhận là phần mềm để đo đạc diện tích cho các
nghiên cứu y sinh học.
Chỉ số hình thái vi thể:
Tại thời điểm 21 ngày, lúc các vết đã bong hết vẩy và đang hồi phục hoặc đã khỏi,
chuột được gây mê, lấy mô bệnh học ngẫu nhiên 2 chuột ở mỗi lô tại vị trí trung
tâm tổn thương. Đánh giá sự tăng sinh tế bào sợi, tăng sinh mạch máu, tăng sinh
sợi collagen, tỷ lệ biểu mô hóa vết thương...
Các xét nghiệm vi thể được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu và phát hiện sớm
Ung thư (do PGS.TS. Lê Đình Roanh đọc kết quả vi thể).
4
4
1.2.2. Ảnh hưởng toàn thân (độc tính bán trường diễn) của CH1701trên chuột
cống theo đường bôi qua vết bỏng.
Các chỉ tiêu theo dõi trong quá trình nghiên cứu:
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Tác dụng của CH1701 trên mô hình gây bỏng nhiệt
2.2.1. Tỷ lệ chết của các lô chuột
Thời gian sau khi gây bỏng tỷ lệ chuột chết được ghi lại theo bảng sau:
Bảng 1. Tỷ lệ chuột chết ở các lô chuột sau gây bỏng
Lô
Mô hình
Chứng dương
CH1701
CH1701
thấp
cao
Tỷ lệ chết
3/13
1/13
2/13
2/13
Theo dõi nghiên cứu cho thấy: chuột chết trong thời gian từ ngày 4 đến ngày 7
sau khi gây bỏng, tỷ lệ chết của lô bôi tá dược là cao nhất (3/13), lôdùng CH1701
liều thấpvà liều cao có tỷ lệ chết 2/13, lô dùng sulfadiazin bạc có tỷ lệ chết thấp
nhất là 1/13.Tuy nhiên chưa có sự khác biệt rõ rệt.
2.2.2. Diễn biến đại thể tại vết bỏng
quanh vết bỏng vẫn xung huyết.
Thời điểm 14 ngày: tất cả các vết bỏng đều đã hình thành vảy tiết , vết bỏng
bắt đầu bong vảy để lộ vùng tổn thương phía dưới đang phục hồi, các vết bỏng
-
khô. Vùng da xung quanh tổn thương không còn xung huyết.
Thời điểm 21 ngày: tất cả các vết bỏng đã bong vảy, vết bỏng khô, vùng da
tổn thương thu hẹp. Riêng ở lô mô hình có một vài vết bỏng vẫn còn ướt.
Tỷ lệ liền khỏi vết bỏng
Vết bỏng khỏi là khi vết bỏng khô, hai mép tiến sát lại gần nhau. Chỉ số này được
theo dõi và ghi chép hàng ngày và so sánh giữa các lô. Đánh giá được tiến hành ở
ngày thứ 21trước khi làm giải phẫu bệnh, kết quả như sau:
Bảng 2. Tỷ lệ liền khỏi vết bỏngở thời điểm 21 ngày sau gây bỏng
Lô nghiên cứu
Lô 2:
Mô hình
Lô 2:
Chứng dương
Lô 4:
CH1701 liều thấp
Lô 5:
Tỷ lệ liền khỏi vết bỏng
p
5/10
9/12
Lô 4:
Thời
Diện tích vết bỏng
điểm
N07
N14
N21
N07
N14
N21
(cm2)
5,41 ± 0,26
3,67 ± 0,39
1.34 ± 0,16
5,25 ± 0,38
3,10 ± 0,42
0,97 ± 0,26
p3-2>0,05
p3-2
p5-20,05
p43>0,05
p53>0,05
p53>0,05
Từ kết quả bảng 3 cho thấy:
Sau 7 ngày dùng thuốc, diện tích bỏng không có sự khác biệt ở tất cả các lô nghiên
cứu (p>0,05). CH1701cả 2 liều có tác dụng làm giảm diện tích bỏng nhanh hơn lô
chứng bôi tá dược vào các ngày 14 và 21, sự khác biệt mới có ý nghĩa thống kê
(p
14 ngày
21 ngày
Ảnh 06: Vết bỏng chuột lô 4: bôi CH1701 liều cao (chuột số 55)
2.4. Giải phẫu bệnh vi thể da tại vết bỏng
Cấu trúc vi thể da chuột tại vị trí tổn thương bỏng được tiến hành tại thời điểm
21 ngày sau gây bỏng, kết quả được tóm tắt như sau:
Lô
Lô 2: bôi tá
dược
Kết quả
Thượng bì còn tổn thương nhiều, có hiện tượng tăng sinh xơ và
các tổ chức xung quanh. Viêm và sung huyết mức độ vừa lớp
Lô 3: bôi
dưới thượng bì.
Thượng bì tổn thương ít, đã có hiện tượng tăng sinh xơ và có
sulfadiazin
hiện tượng liền sẹo, vẫn còn hiện tượng sung huyết ở vùng lớp
bạc 1%
Lô 4:bôi
dưới thượng bì
Thượng bì tổn thương ít, đã có hiện tượng tăng sinh xơ mạnh
Tuyến dưới da
Vùng tổn thương
Chân bì
Ảnh 08: chuột số 19 (bôi tá dược) (HE x 400)
Tổn thương bỏng rõ rệt, các tổ chức đang bắt đầu được tái tạo mới
11
11
Tăn sinh xơ Chân bì
Biểu bì
Ảnh 09: chuột số 22 (bôi sulfadiazin bạc 1%) (HE x 400)
Còn tổn thương nhẹ, các tổ chức đã được tái tạo mới
Biểu bì
Chân bì
Sung huyết
Ảnh 10: chuột số26 (bôi sulfadiazin bạc 1%) (HE x 400)
12
12
Còn tổn thương nhẹ, các tổ chức đã được tái tạo mới
Tăng sinh xơChân bìBiểu bì
Ảnh 11: chuột số 39 (bôi CH1701 liều thấp) (HE x 100)
Tổn thương bỏng còn ít, các tổ chức đã được tái tạo mới
Nhận xét:
Có sự khác biệt rõ về cấu trúc hình thái vi thể của da vùng bỏng giữa lô bôi tá
dược và các lô bôi thuốc.
Tại vết bỏng bôi tá dược:
Vùng vết bỏng biểu bì che phủ ít. Chưa thấy có hiện tượng tăng sinh tế bào lớp
đáy cũng như chưa thấy có hiện tượng tăng sinh xơ ở lớp dưới thượng bì nhưng đã
có hiện tượng xâm nhập của các thực bào và các lympho bào.
Tại vết bỏng bôi thuốc CH1701cả 2 liều:
Vùng vết bỏng biểu bì che phủ rộng, còn ít tổn thương. Có hiện tượng tăng sinh tế
bào lớp đáy và các tổ chức xơ ở lớp dưới thượng bì. Một số chuột đã có hiện tượng
hình thành sẹo rõ rệt (vùng da không có tổ chức tuyến dưới da). Tuy nhiên thì vẫn
còn hiện tượng sung huyết ở một số vết bỏng.
15
15
2.2. Ảnh hưởng toàn thân của CH1701 trên chuột cống trắng theo đường bôi
trên vết bỏng
2.2.1. Tình trạng chung và sự thay đổi thể trọng của chuột:
2.2.1.1. Tình trạng chung:
Trong thời gian thí nghiệm, chuột ở lô mô hình, lô chứng dươngvà 2 lô
bôiCH1701 hoạt động ít, ăn uống kém trong 7 ngày đầu nhưng sau đó hoạt động
bình thường, ăn uống tốt hơn, phân khô.
2.2.1.2. Sự thay đổi thể trọng chuột:
Bảng 4:Ảnh hưởng của CH1701đến thể trọng chuột
lượng
(g)
lượng
(g)
201,50
lượng
Trước bôi
200,50
199,00
thuốc
± 22,17
± 20,25
Sau 2 tuần bôi
202,00
203,00
> 0,05
23,10
205,00
±
> 0,05
22,24
205,00
±
> 0,05
14,34
> 0,05
Kết quả ở bảng 4 cho thấy: Sau 3 tuần bôi thuốc thử, trọng lượng chuột ở cả 3
lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều không thay đổi so với trước khi nghiên cứu.
(p>0,05).
16
16
2.2.2. Đánh giá chức năng tạo máu:
Bảng 5.Ảnh hưởng của CH1701đến số lượng hồng cầu trong máu chuột
Chỉ số
Trước nghiên
7,76 ± 0,69
7,66 ± 0,95
7,62 ± 0,83
> 0,05
Kết quả ở bảng 5 cho thấy: Sau 2 tuần và 3 tuần bôi thuốc thử số lượng hồng cầu
của chuột ở cả 3 lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (với p>0,05).
Bảng 6. Ảnh hưởng của CH1701đến hàm lượng huyết sắc tố trong máu chuột
Chỉ số
Trước nghiên
cứu
Sau 2 tuần bôi
thuốc
Sau 3 tuần bôi
thuốc
Hàm lượng huyết sắc tố (g/dl)
Lô mô hình
Lô trị 1
Lô trị 2
p
(t- test Student)
11,96 ± 0,98
Bảng 7. Ảnh hưởng của CH1701đến lượng hematocrit trong máu chuột
Chỉ số
Trước nghiên
cứu
Sau 2 tuần bôi
thuốc
Sau 3 tuần bôi
thuốc
Lượng hematocrit (%)
Lô mô hình
Lô trị 1
Lô trị 2
p
(t- test Student)
39,22 ± 3,09
39,04 ± 2,37
38,74 ± 4,25
> 0,05
39,35 ± 3,86
39,29 ± 3,87
p
(t- test Student)
48,30 ± 2,91
49,20 ± 4,76
48,90 ± 1,91
> 0,05
48,80 ± 4,13
49,50 ± 6,00
49,30 ± 4,06
> 0,05
48,50 ± 3,50
49,10 ± 4,58
48,70 ± 4,19
> 0,05
Kết quả ở bảng 8 cho thấy: Sau 2 tuần và 3 tuần bôi thuốc thử thể tích trung bình
hồng cầu của chuột ở cả 3 lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều không có sự khác biệt có
> 0,05
7,10 ± 1,09
6,77 ± 1,16
7,05 ± 1,03
> 0,05
6,84 ± 1,10
6,54 ± 1,25
6,91 ± 0,98
> 0,05
Kết quả ở bảng 9 cho thấy: Sau 2 tuần và 3 tuần bôi thuốc thử số lượng bạch cầu
của chuột ở cả 3 lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (với p>0,05).
Bảng 10. Ảnh hưởng của CH1701đến công thức bạch cầu trong máu chuột
p
Công thức bạch cầu (%)
Chỉ số
Lô mô hình
Lympho
tính (%)
Trước
83,47
17,50
82,07
17,93
82,30 17,70 ±
nghiên cứu
± 6,66
± 6,66
± 6,05
± 6,05 ± 7,23
Sau 2 tuần
82,50
17,50
81,20 18,80 ±
8,00
> 0,05
> 0,05
> 0,05
Kết quả ở bảng 10 cho thấy: Sau 2 tuần và 3 tuần bôi thuốc thử thành phần bạch
cầu của chuột ở cả 3 lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (với p>0,05).
19
19
Bảng 11. Ảnh hưởng của CH1701đến số lượng tiểu cầu trong máu chuột
Chỉ số
Số lượng bạch cầu (G/l)
Lô mô hình
Lô trị 1
Lô trị 2
Trước nghiên
562,50 ±
591,00 ±
thuốc
118,54
128,27
112,68
p
(t- test Student)
> 0,05
> 0,05
> 0,05
Kết quả ở bảng 11 cho thấy: Sau 2 tuần và 3 tuần bôi thuốc thử số lượng tiểu cầu
của chuột ở cả 3 lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (với p>0,05).
2.2.3. Đánh giá mức độ hủy hoại tế bào gan:
Bảng 12. Ảnh hưởng của CH1701đến hoạt độ AST trong máu chuột
Chỉ số
Trước nghiên
cứu
Sau 2 tuần bôi
thuốc
Sau 3 tuần bôi
84,30 ± 15,32
90,50 ± 3,17
> 0,05
Kết quả ở bảng 12 cho thấy: Sau 2 tuần và 3 tuần bôi thuốc thửhoạt độ AST (GOT)
trong máu của chuột ở cả 3 lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê (với p>0,05).
20
20
Bảng 13. Ảnh hưởng của CH1701đến hoạt độ ALT trong máu chuột
Chỉ số
Trước nghiên
cứu
Sau 2 tuần bôi
thuốc
Sau 3 tuần bôi
thuốc
p
Lô mô hình
ALT (UI/l)
Kết quả ở bảng 13 cho thấy: Sau 2 tuần và 3 tuần bôi thuốc thử hoạt độ ALT
(GPT) trong máu của chuột ở cả 3 lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (với p>0,05).
2.2.4. Đánh giá chức năng gan:
Bảng 14. Ảnh hưởng của CH1701đến nồng độ bilirubin toàn phần trong máu
chuột
Chỉ số
Trước nghiên
cứu
Sau 2 tuần bôi
thuốc
Sau 3 tuần bôi
thuốc
Nồng độ bilirubin toàn phần(mmol/l)
Lô mô hình
Lô trị 1
Lô trị 2
p
(t- test Student)
13,04 ± 0,58
13,07 ± 0,90
13,05 ± 0,66
> 0,05
thuốc
Sau 3 tuần bôi
thuốc
Nồng độ albumin (g/dl)
Lô mô hình
Lô trị 1
Lô trị 2
p
(t- test Student)
3,61 ± 0,43
3,63 ± 0,37
3,60 ± 0,32
> 0,05
3,56 ± 0,44
3,65 ± 0,35
3,71 ± 0,29
> 0,05
3,66 ± 0,42
1,26 ± 0,21
> 0,05
1,20 ± 0,24
1,22 ± 0,25
1,24 ± 0,25
> 0,05
1,23 ± 0,20
1,24 ± 0,22
1,23 ± 0,21
> 0,05
Kết quả ở bảng 16 cho thấy: Sau 2 tuần và 3 tuần bôi thuốc thử nồng độ
cholesterol toàn phần trong máu của chuột ở cả 3 lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p>0,05).
22
22
1,06 ± 0,08
> 0,05
1,05 ± 0,10
1,05 ± 0,05
1,06 ± 0,05
> 0,05
Kết quả ở bảng 17 cho thấy: Sau 2 tuần và 3 tuần bôi thuốc thửnồng độ
creatinintrong máu của chuột ở cả 3 lô (lô mô hình và 2 lô trị) đều không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p>0,05).
2.5. Thay đổi về mô bệnh học:
Sau 3 tuần bôi thuốc
2.5.1. Đại thể:
Trên tất cả các chuột thực nghiệm (cả lô chứng và 2 lô trị), không quan sát thấy
có thay đổi bệnh lý nào về mặt đại thể của các cơ quan tim, phổi, gan, lách, tuỵ,
thận và hệ thống tiêu hoá của chuột.
2.5.2. Vi thể:
- Hình thái vi thể gan:
+ Lô mô hình: Bôi tá dược
+ Lô trị 1 (bôi CH1701liều 0,1 ml /1 vết bỏng/lần, 2 lần/ngày):
+ Lô trị 2 (bôi CH1701liều 0,1 ml /1 vết bỏng/lần, 4 lần/ngày):
23
23