Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và đánh giá kết quả phẫu thuật thận ghép lấy từ người cho sống tại bệnh viện việt đức - Pdf 56

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ghép thận là một phương pháp phẫu thuật thay thế thận cơ bản, hiện
đại trong điều trị cho những bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối và được
coi là một thành tựu lớn của y học hiện đại. Ngày 23/12/1954 Josep Murray
và Jonh Merril đã ghi dấu mốc ca ghép thận thành công đầu tiên tại Boston
(Hoa Kỳ) [1], [2]. Đến nay, đã hơn 60 năm thành tựu, ghép thận nói riêng và
ghép tạng nói chung đã có nhiều tiến bộ vượt bậc. Cùng với những thành tựu
về miễn dịch học, gây mê hồi sức và việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong
điều trị và theo rõi bệnh nhân, phẫu thuật ghép tạng nói chung và đặc biệt là
ghép thận ngày càng đạt được những kết quả đáng khích lệ, giúp cải thiện
chất lượng cuộc sống rõ rệt cho người bệnh.
Trong ghép thận, các nhà khoa học luôn cố gắng tìm những phương
cách mới làm sao để ghép thận đạt được kết quả cao nhất, hạ đến mức thấp
nhất tỷ lệ xuất hiện các biến chứng về ngoại khoa lẫn nội khoa nhằm kéo dài
đời sống thận ghép lâu nhất và nâng cao chất lượng cuộc sống người bệnh đến
mức tối đa.
Tại Việt Nam hiện nay thận ghép chủ yếu vẫn được hiến tặng từ người
cho sống, việc lựa chọn thận lấy để ghép luôn tuân thủ nguyên tắc “bảo đảm
an toàn cho người hiến tạng”, chỉ lấy thận có chức năng kém hơn dựa vào độ
thanh lọc cầu thận qua xạ hình thận, để lại thận có chức năng tốt hơn cho
người hiến. Như vậy thận lấy để ghép có thể là bên phải hay bên trái và cũng
có thể bất thường về giải phẫu mạch máu và đường bài tiết nước tiểu. Khi đó
phẫu thuật viên ghép cần phải có kỹ thuật, phương án xử lý phù hợp sao cho
thuận tiện khi khâu nối mạch máu và đường bài tiết nước tiểu nhằm giảm bớt
thời gian thiếu máu thận nói riêng và thời gian cuộc mổ ghép nói chung.
Hơn nữa việc mổ ghép được thực hiện trên đối tượng có nhiều nguy cơ
là người suy thận giai đoạn cuối với các bệnh kèm theo hoặc biến chứng của


2

Bệnh viện Việt Đức.


3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lược lịch sử ghép thận
1.1.1. Trên thế giới
1.1.1.1. Lịch sử từ trước khi ghép thận thành công ở người
Ghép thận tự thân cho chó đã được Emerich Ullman (Vienna, Áo,1902)
thực hiện thành công [3]. Song song, ở Lyon, Mathieu Jaboulay (1860 - 1913)
cũng có những thành công trong những nghiên cứu ghép thận. Các cộng sự
của ông như Carrel, Briau và Villard đã cải biên các phương pháp khâu nối
mạch máu và đứng đầu là kỹ thuật khâu nối mạch máu của Carrel. Năm 1914,
Carrel và đồng nghiệp thực hiện lấy thận heo và dê ghép cho người bị bệnh
suy thận mạn giai đoạn cuối, kết quả thận ghép hoạt động được một giờ. Vào
năm 1912, Carrel đạt giải thưởng Nobel cho những nghiên cứu của mình về
ghép tạng dị loài trên người [2]. Năm 1933, Voronoy lần đầu tiên thực hiện
ghép thận đồng loại trên người và bệnh nhân chết vào ngày thứ 4 mà không
có huyết khối mạch ghép [2].
Năm 1952, Hamburger J. đã thực hiện thành công ca ghép thận đầu tiên
tại Pháp nhưng thải ghép sau 3 tuần và năm 1953, Michon và cs thực hiện
ghép thận từ người cho sống có quan hệ huyết thống [2]. Nguyên nhân thất
bại của giai đoạn này là chưa phát hiện ra nguyên lý của miễn dịch ghép, cơ
chế đáp ứng miễn dịch dịch thể hay miễn dịch tế bào cũng như việc lấy và bảo
quản tạng.
1.1.1.2. Lịch sử kể từ khi thành công ca ghép thận sinh đôi cùng trứng
Ngày 23/4/1954, Tại Boston, Joseph E. Murray và cộng sự đã ghép
thận thành công cho cặp ghép thận sinh đôi cùng trứng và sống được 8 năm
[3]. Sau nỗ lực đó, cho đến năm 1956, 19 ca ghép đôi khác đã thực hiện thành

Trung, học viện Quân y chuẩn bị cơ sở vật chất và tiến hành ghép thận thực
nghiệm [5].


5
Ngày 4/6/1992, ca ghép thận đầu tiên từ người cho sống cùng huyết
thống được thực hiện tại Học viện Quân Y và sau đó nhiều trung tâm lớn khác
tại Việt Nam bắt đầu thực hiện ghép thận: Bệnh viện Chợ Rẫy (12/1992),
bệnh viện Việt Đức (8/2000), Huế (7/2001), Nhân dân Gia Định (1/2002),
bệnh viện 115 (2/2004) và viện Nhi Trung Ương (5/2004) [5], [6], [7].
“Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác” được
Quốc hội nước cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và thực hiện
từ ngày 1 tháng 7 năm 2007 (luật số 75/2006/QH11).
Ngày 23 tháng 4 năm 2008, ca ghép thận từ người cho chết não đầu
tiên tại Việt Nam được thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy và ngày 7 tháng 5
năm 2010 Bệnh viện Việt Đức lần đầu tiên thực hiện cùng lúc 2 trường hợp
ghép thận và 1 trường hợp ghép gan từ người cho chết não[8], [9].
Từ 11/2012 trở về trước có 900 ca ghép thận (847 ca từ người cho sống
và 53 ca từ người cho chết não) được thực hiện tại 14 cơ sở y tế trên cả nước.
Đến hết năm 2016 tạị Việt Nam đã có 18 cơ sở y tế được cấp phép và thực
hiện ghép thận thành công với tổng số thận ghép lên đến 2106 ca [10]. Hiện
nay nhiều cơ sở y tế đã thực hiện ghép thận thường quy với nhiều trường hợp
ghép khác nhóm máu, ghép không cùng huyết thống nhờ ứng dụng các loại
thuốc ức chế miễn dịch mới mang lại hiệu quả tốt hơn. Kết quả theo dõi sau
ghép thận cho thấy tỉ lệ sống thêm sau ghép của bệnh nhân và của thận ghép
ngày càng gia tăng (trên 90%) [9]. Do vậy con số thông báo mới nhất tính đến
30/6/2018 nước ta đã tiến hành ghép thận cho 3047 ca, trong đó 2908 ca từ
người cho sống, 137 ca từ người cho chết não và 2 ca từ người cho chết tim [11].
1.2. Những cơ sở giải phẫu học liên quan tới ghép thận
1.2.1. Giải phẫu thận liên quan tới ghép thận

giải phẫu, nhất là trong lĩnh vực ghép thận, vì dễ thương tổn ĐM cực thận khi
cắt lấy thận ghép, đặc biệt thương tổn ĐM cực dưới có thể gây hoại tử niệu
quản chỗ nối [16].
Trần Văn Hinh (2005) cũng đã nghiên cứu sự phân bố mạch máu vùng
cuống thận trên tử thi để áp dụng trong ghép thận, nhận thấy có 82,61% thận có
1 ĐM, 14,49% thận có 2 ĐM và 2,9% thận có 3 ĐM [16]. Theo Võ Văn Hải và
cộng sự (2011) cho thấy 75,64% thận được cấp máu bởi 1 ĐM, 21,79% thận
được cấp máu bởi 2 ĐM, 1,92% thận có 3 ĐM, và 0,64% thận có 4 ĐM [17]. Tỷ


7
lệ ĐM cực trên khá cao (38,46%), ĐM cực dưới thấp (5,77%) [17]. Nghiên cứu
của Bùi Văn Mạnh (2015) cho thấy 83,85% thận có 1 ĐM, 14,91% thận có 2
ĐM, 0,93% thận có 3 ĐM và 0,31% thận có 4 ĐM [18].
Trịnh Xuân Đàn cũng ghi nhận chiều dài trung bình của ĐM thận trái là
từ 28,9 ± 11,6 mm, ĐM thận phải dài hơn ĐM thận trái khoảng 1 cm (39,5 ±
10,2mm) [15]. Đường kính của ĐM thận người Việt nam trưởng thành
khoảng 4 - 7 mm trong 84,51% các trường hợp và ít thay đổi [15].

Hình 1.1. Cấu trúc giải phẫu ĐM, TM thận nhìn theo mặt phẳng đứng dọc
* Nguồn: theo Netter F.H. (2008) [19]

Một yếu tố quan trọng liên quan tới ghép thận là vị trí sắp xếp bình
thường của mạch thận. Nếu theo bình diện trước sau ta thấy vị trí của TM cả 2
thận đều nằm ở mặt phẳng phía trước, ĐM thận trái và phải đều nằm ở mặt
phẳng phía sau và cả ĐM và TM bình thường 2 thận đều nằm ở trước hệ
thống bài xuất nước tiểu (hình 1.1) [19].
 Tĩnh mạch thận
TM thận bắt nguồn từ vùng vỏ và tuỷ thận. Các TM ở cả 2 vùng thận
đều đổ vào các TM cung, rồi tập trung về TM gian thùy, sau đó đổ ra các

chậu, đoạn trong thành BQ [13]


9
- ĐM nuôi NQ: Bể thận và phần trên NQ được nuôi dưỡng bởi nhánh
của ĐM thận, nhánh của ĐM tinh hoàn (ở nam) và nhánh của ĐM buồng trứng
(ở nữ). Phần dưới của đoạn NQ bụng được nuôi dưỡng bởi nhánh của ĐM chậu
chung (ĐMCC). Đoạn NQ chậu được cung cấp máu bởi nhánh của ĐM bàng
quang dưới hoặc đôi khi nhánh của ĐM trực tràng giữa (hình 1.2) [19].
- Tĩnh mạch của NQ: Máu trở về từ NQ đổ vào các TM tương ứng đi
kèm ĐM [13].

Hình 1.2. Các động mạch của niệu quản và bàng quang
* Nguồn: theo Netter F.H. (2008)[19]

Trong ghép thận, khi thận lấy ra cùng NQ thì ĐM duy nhất nuôi NQ là
ĐM thận nên phần NQ được cấp máu tối đa tới vị trí bắt chéo qua bó mạch
chậu. Nếu lấy NQ dài có nguy cơ cao gây hoại tử niệu quản đầu xa nên trước
khi cắm NQ - BQ có thể phải cắt ngắn NQ để NQ có chiều dài vừa đủ. Để an
toàn, khi lấy NQ phải lấy cả lớp mỡ quanh NQ để bảo vệ ĐM nuôi NQ không
bị tổn thương [22]. Do vậy trong quá trình phẫu tích NQ tránh sử dụng dao
đốt điện vì có thể làm tổn thương thành NQ dẫn đến nguy cơ rò. Trần Ngọc
Sinh và cộng sự (cs) ghi nhận 2 TH rò NQ do nguyên nhân này [23]. Theo


10
Daniel và cs (2014) và nhiều tác giả khác, khi lấy và phẫu tích thận ghép phải
tôn trọng tam giác vàng giữa bờ dưới góc tĩnh mạch chủ và tĩnh mạch thận,
xoang thận và cực dưới thận vì vị trí này là nơi xuất phát của ĐM nuôi NQ từ
nhánh ĐM sau bể thận (hình 1.3) [24], [25]. Tác giả Dinckan A. và cộng sự

1.2.2.3. Động mạch chậu ngoài
ĐMCN có kích thước lớn hơn ĐMCT, do ĐMCC phân đôi ở chỗ đối diện
với cơ thắt lưng cùng, đi chéo xuống dưới và ra ngoài, dọc theo bờ trong cơ thắt
lưng lớn. Tại điểm giữa của đường nối từ gai chậu trước trên đến củ mu, ĐMCN
đi vào đùi và trở thành ĐM đùi [19]. Đường đi của ĐMCN đi từ sâu ra nông và
thường không có nhánh bên lớn nên việc bộc lộ dễ dàng. Do vậy các phẫu thuật
viên ghép thường lựa chọn nối ĐM thận ghép với ĐMCN.
1.2.2.4. Tĩnh mạch chậu
TM chậu ngoài (TMCN) và TM chậu trong (TMCT) phải và trái nhận
máu từ các cơ quan vùng chậu, cơ quan sinh dục ngoài, chi dưới rồi đổ về
TMCC và TMCD [13]. TMCT và TMCN có sự thông nối với hệ thống cửa - chủ
ở giữa những TM trực tràng trên và dưới. Như vậy khi thắt buộc các nhánh
TMCT để di chuyển TMCN thì máu của hệ thống TM các cơ quan vùng chậu
vẫn có thể về TMCD theo hệ thống đám rối trĩ [19].
Về giải phẫu bình thường ĐMCC và ĐMCN 2 bên đều nằm ở mặt phẳng
phía trước so với mặt phẳng của TMCD, TMCC, TMCN 2 bên (hình 1.2). Yếu
tố quan trọng này liên quan tới kỹ thuật ghép đặc biệt là những TH ghép thận


12
phải vào hố chậu phải. Khi đó nếu đặt thận ghép bên phải xuôi chiều vào hố
chậu phải thì bình diện TM thận sẽ ở phía trước và khoảng cách từ TM thận tới
TMCN sẽ xa hơn trong khi TM thận phải lấy từ người cho sống thường là ngắn.
Một nhận xét quan trọng khác khi quan sát liên quan đường đi của TMCC
phải là: sau khi tách từ TMCD, 1 đoạn 1-2cm TMCC phải đi xuống dưới ra sau
và vào bên trong ĐMCC phải. Nó chia 1 hay nhiều nhánh TMCT rồi tiếp tục
chạy song song phía trong ĐMCN nhưng vẫn nằm ở bình diện sau so với bình
diện của ĐMCN (hình 1.2). Dựa vào nhận xét này và đặc điểm giải phẫu của
ĐM và TM chậu mà các phẫu thuật viên ghép thường ưu tiên chọn ghép thận
trái vào hố chậu phải và ngược lại. Nhờ nhận xét này mà Dư Thị Ngọc Thu đã

Hình 1.4. Đường mổ Gibson (nét liền) và đường mổ pararectal (nét rời)
* Nguồn: theo Barry D.K và Cloudio Ponticelli (2000)[32]

1.3.1.2. Vị trí đặt thận ghép
Theo Jennifer Singer và cs viết trong bài “Ghép thận và những biến
chứng phẫu thuật” nhận định có nhiều cách lựa chọn vị trí ghép thận [33].
+ Luôn lựa chọn hố chậu phải dù thận ghép lấy từ bên nào.
+ Lựa chọn hố thận đối bên (thận phải ghép vào hố chậu trái và ngược lại)
+ Lựa chọn ghép vào hố chậu cùng bên


14
+ Ghép thận lần 2 sẽ ghép vào hố chậu chưa ghép.
Chọn vị trí để khâu nối thận ghép có khác nhau tuỳ thuộc chủ yếu vào
tình trạng mạch máu thận lấy ghép. Do đặc điểm thận ghép lấy từ người cho
sống thường có TM thận phải và ĐM thận trái ngắn, đặc biệt khi lấy thận
ghép bằng nội soi. Khi nghiên cứu về ghép thận từ người cho sống nhận thấy
các chuyên gia ghép thận trên thế giới thường lựa chọn cắt thận trái ghép vào
hố chậu phải của người nhận [34], [35]. Đó là do khi cắt thận trái TM thận trái
dài thuận lợi cho kỹ thuật ghép hơn. Hơn nữa theo vị trí giải phẫu học bình
thường của mạch máu thận trái và vùng chậu nhìn từ sau ra trước, chúng ta có
thể nhận thấy được sự tương thích giữa ĐM và TM thận trái với ĐM và TM
chậu bên phải. Khi đặt thận trái vào hố chậu phải, chỉ cần đảo mặt trước sau
của quả thận sẽ dễ dàng rất nhiều khi khâu nối TM thận với TMCN phải, ĐM
thận với ĐMCN hoặc ĐMCC phải đồng thời đường bài tiết nước tiểu cũng
xuôi chiều xuống BQ. Peter J.M và Stuart J.K (2014) cũng công nhận mặc dù
theo truyền thống, hố chậu phải thường được sử dụng để cấy ghép thận nhưng
trong thực tế có rất ít sự lựa chọn giữa 2 bên. Người ta khuyên rằng thận trái
tốt nhất được đặt vào hố chậu phải và thận phải đặt vào hố chậu trái. Khi đó
bể thận niệu quản sẽ quay ra trước nên dễ dàng cho việc tiếp cân khi cần thiết

thận ghép. Xử lý ĐM, TM trong trường hợp thận có bất thường về số lượng
hay vị trí giải phẫu ĐM, TM. Trường hợp nhiều TM thì có thể thắt TM nhỏ
nhưng nếu nhiều TM có kích thước tương đương và có nguy cơ ứ máu thận
nếu thắt 1 TM thì bảo tồn tất cả các TM. Có thể tạo hình lại thành 1 miệng nối
TM hoặc để nguyên để làm 2 miệng nối riêng. Thận có nhiều ĐM thì tất cả
các ĐM đều cần được bảo tồn tối đa (đặc biệt mạch cực dưới vì nó tách nhánh
nuôi niệu quản) [38]. Cụ thể xử lý tạo hình các ĐM, TM sẽ trình bày sau.
Kiểm tra đánh giá niệu quản thận ghép để có phương án thiết lập lại
đường bài tiết nước tiểu phù hợp. Đánh giá tổ chức quanh NQ, chiều dài NQ
và toàn vẹn của NQ thận ghép.
 Bước 2: Quy trình ghép thận thường quy


16
Goldfarbvà cs (2003), Barry (2000), quy trình ghép thận của Hội đồng
tư vấn chuyên môn ghép tạng Bộ Y tế (2002) và mới nhất của Peter J.M và
Stuart J.K (2014) mô tả quy trình ghép thận gần như thống nhất và ít có sự
thay đổi [30], [31], [38], [39]. Cụ thể quy trình như sau:
- Bệnh nhân được gây mê toàn thân.
Chuẩn bị BQ: BN được đặt thông tiểu vào BQ, thông này nối trạc 3:
một đầu nối với 1 túi nước muối sinh lý pha một loại kháng sinh và có thể
thêm xanh methylen, còn đầu kia nối với túi nước tiểu. Việc dùng kháng sinh
để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu sau mổ còn chỉ thị màu để người mổ
xác định đúng là mở BQ trong những trường hợp khó xác định (sẹo mổ vùng
chậu, béo phì) [38]. Barry D.K và Claudio P. (2000) khuyên nên đặt thông
tiểu cỡ to (số 22 F) để tránh máu cục trong BQ sau này gây tắc sonde [31].
- Rạch da và chuẩn bị vị trí ghép thận [38]
Sau khi rạch da, bộc lộ qua các lớp cân cơ chéo lớn, cơ chéo bé, cân cơ
ngang bụng. Bộc lộ bó mạch thượng vị nông có thể cặp và cắt để mở rộng vết
mổ. Nếu thận ghép có nhiều ĐM thì lúc đầu ĐM thượng vị cần phải bảo tồn để

được Dư Thị Ngọc Thu ứng dụng có hiệu quả tốt trong ghép thận phải có TM
ngắn vào hố chậu phải tại bệnh viện Chợ Rẫy [28].
- Tiến hành ghép.
- Đặt thận ghép vào vị trí cần ghép: thường ở hố chậu phải, trước cơ
thắt lưng chậu. Theo Barry D.K (2000), thận ghép đặt một cách tự nhiên nhất
vào hố chậu với bể thận và NQ xuôi theo hướng từ trên xuống BQ [31].
- Thực hiện các miệng nối mạch máu:
Theo Christopher J.E và Peter J.F (2014) thực hiện miệng nối ĐM hay
TM trước tuỳ thuộc vào vị trí cuối cùng đặt thận và thực hiện miệng nối thứ 2
dễ dàng [29]. Theo tác giả nếu ĐM thận nối tận bên với ĐMCN thì làm miệng
nối TM trước sau đó làm miệng nối ĐM tận bên sẽ có vị trí đúng. Nếu ĐM
thận nối tận tận với ĐMCT thì miệng nối ĐM được làm trước vì khi đó TM
thận sẽ được đặt vị trí thích hợp khi nối sau. Nhưng theo Barry (2000) miệng
nối TM ở sâu hơn nên thường được thực hiện trước trừ khi ĐM thận quá ngắn


18
hoặc thực hiện miệng nối ĐM khó khăn hơn [31].
Suốt quá trình thực hiện các miệng nối mạch máu, thận phải được giữ
lạnh bằng cách dùng bơm tiêm tưới liên tục nước muối sinh lý lạnh lên bề mặt
thận [31]. Ngoài ra có thể gói thận trong 1 miếng gạc phẫu thuật đầy nước
muối sinh lý đông lạnh nghiền nát hay dùng găng phẫu thuật chứa thận và đá
nghiền với mạch máu được đưa ra qua lỗ nhỏ cắt ở phía bên găng [38].
+ Kỹ thuật khâu nối TM
Bao gồm 2 kỹ thuật cơ bản: khâu nối tận tận và khâu nối tận bên [28].
Đặc điểm TM thường rất mỏng và dễ rách, các lớp nội mạc thường không rõ
ràng như ĐM đồng thời các TM có đường kính không đều nhau nên thường
khâu nối kiểu tận - bên.
Tất cả các tác giả đều mô tả thống nhất khâu nối TM thận tận bên với
TMCN với các mũi khâu vắt sử dụng chỉ mạch máu 5.0 hoặc 6.0 bắt đầu từ

TM sinh dục theo chiều dọc rồi khâu cuộn tròn lại để tạo thành đoạn TM mới
rồi khâu nối tận tận với TM thận để kéo dài TM thận ghép (hình 1.6) [41],
[42]. Feng và cs (2012) sau khi xẻ dọc TM sinh dục lại cuộn xoắn ốc quanh 1
trục rồi khâu vắt nối theo đoạn xoắn tạo thành đoạn TM mong muốn để nối
tận tận kéo dài TM thận (hình 1.7)[43]. Gần đây Lu T. và cộng sự (2018) báo
cáo 6 TH thành công khi sử dụng TM cảnh trong để kéo dài TM thận trước
ghép [44].


20

Hình 1.6. Kỹ thuật làm dài TM thận bằng TM sinh dục
a, b: xẻ dọc TM sinh dục. c, d: Cuộn lại thành đoạn TM mới. E: Nối đoạn TM
tạo hình tận tận với TM thận
* Nguồn: theo Veeramani và cs (2010) [41]

Hình 1.7. Kỹ thuật làm dài TM thận bằng TM sinh dục
A: xẻ dọc TM sinh dục. B, D, E: Cuộn lại và khâu thành đoạn TM mới
* Nguồn: theo Feng J.Y và cs (2012) [43]

Đối với thận ghép lấy từ người cho chết não: Nếu TM thận ngắn thì TM
thận sẽ được kéo dài bằng cách sử dụng đoạn TM chủ bụng (TMCB) bằng nhiều
cách khác nhau. Theo Chopin và cộng sự (1989) báo cáo thành công khi sử dụng


21
TMCB làm đơn giản quá trình khâu nối TM thận phải ở 100/304 TH ghép thận.
Ông nhận định kỹ thuật kéo dài TM thận bằng TMCB đơn giản, sinh lý và hiệu
quả [45].
+ Kỹ thuật khâu nối động mạch

Có 1 ĐM thận chính
- Nối ĐM thận – ĐMCN kiểu tận – bên
- Nối ĐM thận – ĐMCC kiểu tận -bên.
- Nối ĐM thận - ĐM CT kiểu tận - tận.
- Nối ĐM thận - ĐM chủ kiểu tận - bên
Có từ 2 ĐM thận trở lên
-

Nối ĐM thận – ĐMCN hay ĐMCC kiểu tận bên nhờ miếng tai ĐM

(Carrel patch). Đây là kỹ thuật thường được sử dụng trong khâu nối các
trường hợp thận ghép có nhiều ĐM lấy từ người cho chết. Trường hợp thận
ghép có nhiều ĐM lấy từ người cho sống thường không có miếng tai ĐM
chủ để thực hiện kỹ thuật này (hình 1.9) [31], [32].


23

Hình: 1.9. Nối ĐM thận – ĐMCN tận - bên qua miếng tai ĐM
* Nguồn: theo Walter G Land (2010)[32]

- Tạo hình 2 ĐM thận thành 1 thân chính kiểu nòng súng nối với
ĐMCN kiểu tận bên. Đây là kỹ thuật sử dụng để tạo hình 2 ĐM thận có kích
thước tương đương nhau. Hai ĐM được nối bên - bên để thành một thân
chung trươcs khi nối ĐMCN hoặc ĐMCC (hình 1.10) [31], [32].

Hình 1.10. Tạo hình 2 ĐM thành 1 thân chung kiểu nòng súng
* Nguồn: theo Walter G Land (2010)[32]

- Nối ĐM cực - ĐM thận chính kiểu tận bên. Kỹ thuật này sử dụng khi

Hoàng Anh Dũng (2005) khoa ngoại bệnh viện Erasme (Bỉ) tại hội nghị
niệu - thận học toàn quốc lần thứ II 8/2005 có mô tả 1 TH thận có 4 ĐM lấy từ
người cho sống. Tác giả khâu nối 1 ĐM cực dưới vào ĐM rốn thận tận - bên, nối
3 ĐM thận còn lại theo kiểu bên - bên tạo thành 1 thân ĐM, sau đó nối với
ĐMCN [35]. Antonopoulos và cs (2014) sử dụng ĐM thượng vị nông nối với 1
ĐM thận trong 21/98 TH thận ghép có nhiều ĐM chiếm tỷ lệ 21,4% [48].
- Mở kẹp TM trước sau đó mở kẹp ĐM rồi quan sát động tĩnh mạch
thận, màu sắc thận ghép và nhu động NQ. Nếu mạch máu căng, đập tốt, thận
hồng tươi căng là dấu hiệu tốt. Sau đó niệu quản bắt đầu có nhu động và
những giọt nước tiểu đầu tiên xuất hiện.
- Ghép niệu quản (NQ) thận ghép vào bàng quang (BQ)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status