BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH KIỂM SOÁT
NHIỄM KHUẨN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ, HỌC VIÊN TẠI
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƯƠNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN, NĂM 2018
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH KIỂM SOÁT
NHIỄM KHUẨN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ, HỌC VIÊN TẠI
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƯƠNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN, NĂM 2018
Chuyên ngành
VST
WHO
Bộ câu hỏi
Bác sĩ
Bệnh viện
Bệnh viện đa khoa
Cán bộ
Cán bộ y tế
Điều dưỡng
Điều tra viên
Kiểm soát nghiễm khuẩn
Kĩ thuật viên
Người bệnh
Nữ hộ sinh
Nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhân viên y tế
Vệ sinh tay
Tổ chức y tế thế giới
MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình
ĐẶT VẤN ĐỀ....................................................................................................................1
Chương 1........................................................................................................................4
TỔNG QUAN...................................................................................................................4
1.1. Nhiễm khuẩn bệnh viện và các biện pháp kiểm soát.........................................................4
1.1.1. Một số khái niệm...............................................................................................................4
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu.....................................................................43
3.2. Kiến thức, thái độ, thực hành về một số quy định kiểm soát nhiễm khuẩn.....................45
3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn.......52
Chương 4......................................................................................................................56
DỰ KIẾN BÀN LUẬN.......................................................................................................56
4.1 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn của nhân viên, học
viên tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, năm 2018....................................................56
4.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên, học viên tại
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, năm 2018.................................................................56
DỰ KIẾN KẾT LUẬN........................................................................................................57
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ.................................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tỷ lệ NKBV hiện mắc tại một số bệnh viện Việt Nam.........................................5
Bảng 2.1: Các biến số và chỉ số nghiên cứu....................................................................34
Bảng 3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu....................................................................43
Bảng 3.2 Đặc điểm phân bố khả năng tiếp cận thông tin và công tác kiểm tra giám sát
thực hiện......................................................................................................................44
Bảng 3.3 Kiến thức tổng quát của nhân viên y tế đối với một số quy định trong kiểm
soát nhiễm khuẩn.........................................................................................................45
Bảng 3.4 Kiến thức của nhân viên y tế đối với rửa tay trong kiểm soát nhiễm khuẩn....46
Bảng 3.5 Kiến thức của nhân viên y tế đối với Phòng hộ cá nhân trong kiểm soát nhiễm
khuẩn...........................................................................................................................46
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, trên thế giới khoa học kĩ thuật ngày càng tiến bộ, có những
bước nhảy vượt bậc trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong y tế. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện – nơi trực
tiếp diễn ra hoạt động chăm sóc y tế, có thể xảy ra những sai sót, sự cố y khoa
đối với người bệnh, vấn đề nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là một vấn đề
được quan tâm và thách thức đối với tất cả các nước trên thế giới. Theo Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2005 mỗi ngày có 247 người tử vong tại Hoa
Kỳ là kết quả của một bệnh nhiễm trùng y tế liên quan [1], [2]. Một báo cáo của
Ủy ban châu Âu về an toàn người bệnh ở các nước Liên minh Châu Âu năm
2014 cho biết các sự cố liên quan đến nhiễm trùng y tế liên quan trực tiếp làm
37 000 người chết / năm, tổng số người chết vì sự cố y khoa lên tới 110 000
người tử vong/ năm và chi phí cho bệnh viện hơn 5,4 tỷ Euro/ năm [3].
NKBV vẫn còn là vấn đề nan giải ngay cả ở các nước phát triển, rất
nghiêm trọng ở những nước chậm phát triển. Năm 2010 tỷ lệ NKBV chiếm
66% (97/147) của các nước đang phát triển [4]. Theo đánh giá hiện tại tỷ lệ
nhiễm trùng liên quan- chăm sóc y tế (HCAI) ở các nước thu nhập thấp và thu
nhập trung bình: 10,1%. Ở các nước có thu nhập cao; nhiễm trùng thiết bị liên
quan, mật độ lên đến 13 lần cao hơn so với ở Hoa Kỳ [4]. Tại các nước đang
phát triển, NKBV chiếm tỷ lệ cao do hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn
(KSNK) trong bệnh viện chưa tốt, kiến thức và thái độ của nhân viên y tế
(NVYT) chưa cao. Tại Việt Nam, năm 2014 theo nghiên cứu tại các bệnh
viện cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện là 2,5% nhiễm trùng vết mổ trên
những người bệnh có phẫu thuật chiếm từ 2,5% – 8,45% và viêm phổi bệnh
viện trên các người bệnh có thở máy từ 40% – 50% [5]. Điều này sẽ ảnh
hưởng nghiêm trọng tới chính người bệnh, gia đình và xã hội, có thể làm nặng
2
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Kiến thức, thái độ, thực
hành kiểm soát nhiễm khuẩn của nhân viên y tế, học viên tại Bệnh viện Y
học cổ truyền Trung ương năm 2018 và một số yếu tố liên quan.” nhằm 2
mục tiêu:
1.
Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn
của nhân viên, học viên tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, năm
2018.
2.
Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của
nhân viên, học viên tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, năm 2018
4
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Nhiễm khuẩn bệnh viện và các biện pháp kiểm soát
1.1.1. Một số khái niệm.
Phòng ngừa chuẩn: là tập hợp các biện pháp phòng ngừa cơ bản áp dụng
cho tất cả người bệnh (NB) trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KBCB)
không phụ thuộc vào chẩn đoán, tình trạng nhiễm trùng và thời điểm chăm
sóc của NB [9, 10].
Bệnh viện: Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh viện là một bộ phận
của một tổ chức mang tính y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân
dân được chăm sóc sức khỏe toàn diện cả về y tế, phòng bệnh và chữa bệnh.
chữa bệnh) đã thực hiện. Ngoài ra, các số liệu điều tra tỷ lệ NKBV hiện mắc
của các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đều ghi nhận tỷ lệ NKBV chung từ 4,28,1% [16], [17], [16], [18]. Xem bảng 1 dưới đây:
Bảng 1.1 Tỷ lệ NKBV hiện mắc tại một số bệnh viện Việt Nam.
Năm
2000
2001
2005
2005
2005
2011
2012
2012
2013
Tỷ lệ NKBV
(%)
Sở Y tế TPHCM giám sát NKBV tại 4 BV
8,1
Bộ Y tế. Nhiễm khuẩn bệnh viện tại 11 bệnh viện
6,8
trực thuộc Bộ Y tế.
Bộ Y tế. Nhiễm khuẩn bệnh viện tại 19 bệnh viện
5,8
trực thuộc Bộ Y tế. (n=11000 NB)
Nguyễn Thanh Hà. Nhiễm khuẩn bệnh viện tại 6
5,6
BV Phía Nam (n=2671)
Nguyễn việt Hùng. Tình hình NKBV tại 36 bệnh viện
7,8
Phía Bắc (2TW, 17 tỉnh, 17 huyện); n=7541 NB
sức khỏe và phương pháp điều trị được áp dụng. Nguy cơ có thể được phân
loại theo 3 mức độ khác nhau: nguy cơ mức độ thấp, trung bình và mức độ
cao. Các người bệnh có nguy cơ thấp khi không có dấu hiệu bệnh quan trọng,
hệ miễn dịch không bị ảnh hưởng và không phải điều trị can thiệp. Tình trạng
sức khỏe kém, đặc biệt là tuổi cao các đáp ứng miễn dịch tế bào và miễn dịch
dịch thể bị suy giảm; trẻ em có hệ thống đáp ứng miễn dịch chưa hoàn chỉnh,
sức chịu đựng stress kém vì thế sức đề kháng với vi khuẩn yếu nên xuất hiện
một nguy cơ toàn thân. Ngoài ra người bệnh cao tuổi dễ mắc bệnh còn liên
quan đến tình trạng dinh dưỡng kém.
Hơn nữa, người bệnh nặng dẫn đến tình trạng tăng trao đổi chất, khả
năng miễn dịch suy yếu, khả năng chống lại các VSV ngoại sinh giảm và VSV
nội sinh phát triển mạnh hơn. Một số yếu tố khác cũng góp phần NKBV như
tình trạng người bệnh khi nhập viện (cấp tính hay không cấp tính), thời gian
7
nằm viện, giới tính, khả năng khử nhiễm chọn lọc của ống tiêu hóa và các nguy
cơ này mang tính độc lập với mỗi loại nhiễm khuẩn. Nguy cơ cao NKBV cũng
xảy ra trên những người bệnh thay tạng, ung thư hoặc nhiễm khuẩn do suy
giảm miễn dịch ở người nhiễm HIV, người bệnh tổn thương hệ miễn dịch,
người bệnh đa chấn thương hoặc bỏng nặng và người bệnh thường xuyên phải
điều trị can thiệp.
Từ hoạt động chăm sóc và điều trị
Do sử dụng các dụng cụ, thiết bị xâm nhập:
Khi sử dụng các thiết bị xâm nhập như đặt nội khí quản, máy trợ hô
hấp, nội soi thăm dò, dẫn lưu sau mổ, đặt cathete tĩnh mạch trung tâm, dẫn
lưu tiết niệu..., tất cả các điều trị can thiệp đó đã phá vỡ cơ chế bảo vệ tự
nhiên của cơ thể là ngăn cản sự xâm nhập và tấn công của các VSV gây bệnh
và luôn được xem là có nguy cơ cao. Tỷ lệ các NKBV liên quan đến quy trình
- Do chưa tuân thủ các quy định phòng ngừa nhiễm khuẩn của NVYT
như tuân thủ vệ sinh tay còn thấp, sử dụng chung găng tay, xử lý các dụng cụ y
tế để dùng lại đặc biệt là các dụng cụ nội soi chưa đúng quy định [9].
1.1.2.4. Các yếu tố trung gian truyền bệnh
Môi trường bệnh viện bao gồm: không khí, nguồn nước, bề mặt, rác
thải… Môi trường bệnh viện vừa là nguồn chứa tác nhân vừa là yếu tố trung
gian lan truyền tác nhân gây NKBV.
Không khí bệnh viện là môi trường dễ bị ô nhiễm. Tính chất vi sinh vật
trong không khí thay đổi theo từng địa điểm, theo từng bệnh viện, theo mật độ
bệnh nhân điều trị, mật độ nhân viên trong buồng bệnh và thời tiết. Một số vi
sinh vật gây bệnh có thể có mặt trong không khí bệnh viện như tụ cầu vàng, liên
cầu, trực khuẩn mủ xanh, vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn lao, vi rút cúm [19].
Nguồn nước bệnh viện vừa là nguồn chứa, vừa là yếu tố trung gian làm
lan truyền tác nhân gây NKBV. Một số vi sinh vật thường gặp gây ô nhiễm
nguồn nước gồm: vi khuẩn đường ruột, trực khuẩn mủ xanh, nấm men và một
số tác nhân khác.
Dụng cụ y tế có thể nhiễm vi sinh vật gây bệnh do tiệt khuẩn không
9
đúng qui trình, để quá thời hạn sử dụng hoặc dụng cụ được sử dụng nhiều lần.
Vi sinh vật có trên dụng cụ y tế thường có nguồn gốc từ không khí, nước hoặc
từ bàn tay NVYT. Việc thực hiện thủ thuật xâm lấn tạo điều kiện cho tác nhân
gây bệnh trên dụng cụ y tế xâm nhập vào cơ thể người bệnh.
Chất thải bệnh viện là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn cư trú, phát triển và
gây ô nhiễm. Tuy nhiên ngoài chất thải sắc nhọn có khả năng làm lan truyền tác nhân
gây bệnh theo đường máu, chưa có bằng chứng chứng minh chất thải khác trong
bệnh viện có khả năng làm lan truyền tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện [20].
1.1.2.5. Phương thức lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện
và phổ biến nhất. Để phòng ngừa lan truyền tác nhân gây bệnh theo đường
tiếp xúc, nhân viên y tế cần áp dụng các biện pháp dự phòng cơ bản, tuân thủ
vệ sinh tay đúng quy định, thực hiện đúng quy trình chăm sóc, điều trị bệnh
nhân, thực hiện khử khuẩn,tiệt khuẩn dụng cụ y tế đúng quy cách, làm tốt
công tác vệ sinh bề mặt môi trường và quản lý chất thải sắc nhọn.
1.1.2.6. Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn bệnh viện
- Thủ thuật xâm lấn.
Những người bệnh phải trải qua các thủ thuật xâm nhập như: phẫu
thuật, thông khí phổi, đặt ống tiểu và những bệnh nhân có catheter tĩnh mạch
dài ngày để hồi sức, lọc máu có nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện cao hơn
những người bệnh khác. Người bệnh lọc máu chu kỳ có nguy cơ cao bị nhiễm
bởi quá trình can thiệp vào mạch máu trong thời gian dài. Trong môi trường
có nhiều người bệnh được lọc máu, cơ hội lặp đi lặp lại dễ lây truyền tác nhân
lây nhiễm từ người sang người, trực tiếp hay gián tiếp thông qua thiết bị, vật
tư, bề mặt môi trường ô nhiễm, đặc biệt qua bàn tay của nhân viên y tế không
được vệ sinh tay đúng quy định.
Nghiên cứu tại Hoa kỳ cho thấy 97% nhiễm khuẩn tiết niệu xuất hiện ở
người bệnh đặt ống thông tiểu, 87% nhiễm khuẩn huyết xuất hiện ở những
11
người bệnh đặt nội khí quản tĩnh mạch trung tâm, 83% nhiễm khuẩn phổi liên
quan đến thông khí nhân tạo.
Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Vụ điều trị - Bộ Y tế, những
người bệnh phẫu thuật có nguy cơ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện cao hơn 2,4
lần so với người bệnh không phẫu thuật. Người bệnh có đặt ống thông tiểu
nguy cơ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện cao hơn 12 lần, thông khí hỗ trợ nguy cơ
nhiễm khuẩn bệnh viện cao hơn 15 lần so với những người không làm thủ
thuật đó.
Vệ sinh tay (VST) là biện pháp chính để giảm nhiễm trùng. Mặc dù
hành động này là đơn giản, theo các nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe là vấn
đề toàn thế giới. Theo cập nhật dịch tễ học về tuân thủ VST gần đây, nó là
phương pháp tiếp cận mới đã được chứng minh có hiệu quả và an toàn bệnh
nhân toàn cầu. VST có ý nghĩa rất lớn công tác chăm sóc NB [1], [23].
Vệ sinh tay:
VST là làm sạch tay bằng nước với xà phòng có hay không có chất sát
khuẩn và sát khuẩn tay với dung dịch có chứa cồn [9, 10].
Theo WHO (2009)[24]VST là nền tảng trong việc phòng chống nhiễm
trùng và kiểm soát nhiễm khuẩn.
VST là nội dung cơ bản của KSNK và là biện pháp hiệu quả nhất trong
kiểm soát lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở khám bệnh chữa bệnh[10].
• Các chỉ định vệ sinh tay
VST của NVYT đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc
NB. VST theo năm thời điểm khi chăm sóc NB [9, 10, 21, 25] theo khuyến
cáo Tổ chức Y tế Thế giới (sơ đồ 1) và các quy trình VST của Bộ Y tế.
- Tuân thủ các thời điểm vệ sinh tay :
13
1. Trước khi tiếp xúc với NB
2. Trước khi làm thủ thuật vô trùng
3. Sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ
thể
4. Sau khi tiếp xúc NB
5. Sau khi đụng chạm vào những
vùng xung quanh NB
Hình 1.1: Các thời điểm vệ sinh tay khi chăm sóc NB (WHO 2005)
dụng. Trước khi rời buồng bệnh, cần tháo bỏ phương tiện phòng hộ cá nhân
và vệ sinh tay. Khi tháo bỏ cần chú ý tháo phương tiện bẩn nhất ra trước[10].
Sử dụng găng
Nhiễm khuẩn do chăm sóc y tế có thể dễ dàng lây truyền trực tiếp qua
bàn tay của NVYT hoặc qua vật dụng khác như thiết bị y tế…
Sử dụng găng trong các trường hợp sau:
+ Mang khi chạm vào máu, dịch cơ thể, tiết, chất thải, màng nhầy.
+ Thay đổi những hoạt động chăm sóc trên cùng một NB, sau khi tiếp
xúc với vật dụng xung quanh NB có khả năng lây nhiễm.
+ Hủy bỏ găng sau khi sử dụng, trước khi chạm các vật không bị ô
nhiễm, các bề mặt và trước khi chuyển sang NB khác.
+ Thực hiện VST ngay lập tức sau khi loại bỏ găng.
+ Mang găng vô khuẩn trong quá trình làm thủ thuật vô khuẩn, phẫu thuật.
+ Mang găng sạch trong các thao tác chăm sóc, điều trị không đòi hỏi
vô khuẩn và dự kiến tay nhân viên y tế có thể tiếp xúc với máu, chất tiết, chất
bài tiết, các màng niêm mạc và da không nguyên vẹn của NB hoặc khi da tay
NVYT bị bệnh hoặc trầy xước.
Mang găng khi NVYT làm vệ sinh, thu gom chất thải, đồ vải, xử lý
dụng cụ y tế và các dụng cụ chăm sóc NB.
Tuân thủ đúng quy trình mang găng và tháo găng [9, 10, 21].
15
Sử dụng khẩu trang
Mang khẩu trang y tế khi:
+ Dự kiến sẽ bắn máu dịch tiết vào mặt mũi trong khi chăm sóc NB.
+ Khi làm việc trong khu phẫu thuật hoặc trong các khu vực đòi hỏi vô
khuẩn khác.
+ Khi chăm sóc NB có nghi nghờ hoặc mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp
+ Vệ sinh tay ngay sau khi tiếp xúc với chất tiết.
+ Đứng hay ngồi cách xa người khác khoảng 1 mét.
Sắp xếp người bệnh thích hợp
Nên sắp xếp NB không có khả năng kiểm soát chất tiết, chất bài tiết,
dịch dẫn lưu vào phòng riêng (đặc biệt là trẻ em có bệnh đường tiêu hóa).
Dựa trên nguyên tắc là đường lây truyền của tác nhân gây bệnh, yếu tố nguy
cơ lây truyền bệnh và khả năng mắc NKBV.
Xử lý dụng cụ y tế
Thiết bị chăm sóc bệnh nhân có thể góp phần rất lớn vào NKBV. Đặc
biệt những thiết bị liên quan chăm sóc trực tiếp NB như tại khoa Hồi sức tích
cực hay những thiết bị được sử dụng hằng ngày thăm khám NB như nhiệt kế,
ống nghe. Chúng ta tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Dụng cụ tái sử dụng đều được xử lý trước khi sử dụng cho NB khác.
- Làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ theo điều 3 Thông tư 18 về
hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Phương pháp xử lý:
+ Dụng cụ tiếp xúc với da lành lặn và môi trường (nguy cơ thấp) cần
khử khuẩn mức độ thấp và trung bình.
+ Dụng cụ tiếp xúc với niêm mạc (nguy cơ trung bình) cần phải khử
khuẩn mức độ cao.
+ Dụng cụ tiếp xúc với mô vô trùng, mạch máu (nguy cơ cao) cần phải
tiệt khuẩn, không ngâm khử khuẩn.
- Nhân viên khi xử lý dụng cụ cần mang phương tiện phòng hộ cá nhân phù hợp.
Tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn
Tiêm là một trong những thủ tục chăm sóc sức khỏe phổ biến nhất trong
các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hiện nay [9, 10].
Tiêm an toàn có ý nghĩa rất lớn hạn chế rủi ro lây truyền mầm bệnh cho
17
18
- Môi trường sạch là điều kiện bắt buộc cho các tiêu chuẩn tốt về vệ sinh và
vô khuẩn. Hàng ngày làm sạch và khử khuẩn các bề mặt dễ bị nhiễm vi sinh vật
như các vật dụng xung quanh NB như thành giường, tủ đầu giường, và các vật
dụng thường xuyên sờ vào như tay nắm cửa, vật dụng trong nhà vệ sinh.
- Làm vệ sinh môi trường khoa phòng sớm trước giờ khám bệnh chữa bệnh.
- Cần kiểm tra hóa chất và nồng độ hóa chất sử dụng trong vệ sinh làm sạch.
- Cần chú ý làm sạch và khử khuẩn đồ chơi của trẻ em.
- Tuân thủ đúng nguyên tắc làm vệ sinh từ vùng có nguy cơ thấp đến
vùng có nguy cơ cao, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài.
Quản lý chất thải
Quản lý chất thải tại các cơ sở y tế theo quy định của Bộ Y tế [27]:
- Xây dựng quy trình thu gom và quản lý chất thải theo Quy chế Quản lý
chất thải rắn [26], phù hợp với tình hình thực tế của bệnh viện.
- Chất thải y tế phải được thu gom, xử lý và tiêu hủy an toàn, cần đặc
biệt quan tâm xử lý an toàn chất thải sắc nhọn.
- Phải phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh chất thải: chất thải rắn
Y tế phải phân loại riêng theo từng nhóm và từng loại đúng quy định.
- Đặt thùng, hộp đựng chất thải phải gần nơi chất thải phát sinh.
- Vận chuyển rác thải từ các khoa phòng ít nhất một lần/ngày và khi cần.
Thời gian lưu giữ không quá 48 giờ. Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản
lạnh hoặc thùng lạnh có thể đến 72 giờ.
- Phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải. Tránh
vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc NB và các khu vực sạch khác.
Vận chuyển rác bằng xe chuyên dụng, không được làm rơi vãi chất thải nước
thải và phát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển.
- Có nơi lưu giữ riêng chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.