ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HUỆ
ĐÁNH GIÁ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI KHÁCH SẠN
AVATAR ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2019
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HUỆ
ĐÁNH GIÁ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI KHÁCH SẠN
AVATAR ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN ĐÌNH KHÔI NGUYÊN
Đà Nẵng - Năm 2019
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
COSO
Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về
chống gian lận khi lập báo cáo tài chính
DN
Doanh nghiệp
GM
Giám đốc điều hành
HĐQT
Hội đồng quản trị
HTKSNB
Hệ thống kiểm soát nội bộ
2.2
Các nội dung kiểm soát quá trình mua hàng
53
2.3
Các chỉ mục khảo sát thông tin và truyền thông
59
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình
Tên hình
Trang
2.1
Booking khi tạo trên phần mềm Smile
47
2.2
Bảng kê tổng dịch vụ khách sử dụng
50
2.4
Mối quan hệ giữa tiền và các nghiệp vụ khác
56
2.5
Chu trình tiền lương
58
2.6
Sự biến động doanh thu năm 2017
65
2.7
Tỷ lệ doanh thu các hoạt động chính năm
2017
66
2.8
khách sạn tại Đà Nẵng cũng đang trên đà tăng trưởng mạnh chiếm một vị trí
quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển du lịch của thành phố. Trong
các đơn vị kinh doanh khách sạn hoạt động của họ không đơn thuần chỉ là
kinh doanh phòng lưu trú và ăn uống mà còn mở rộng ra nhiều các hoạt động
khác như dịch vụ spa, tổ chức hội thảo, sự kiện, dịch vụ đưa đón khách và các
dịch vụ vui chơi giải trí khác. Mỗi đơn vị đều không ngừng nâng cao chất
lượng dịch vụ của mình, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho
khách hàng nên các hoạt động này diễn ra thường xuyên và liên tục rất dễ xảy
ra các sai sót gian lận. Chính vì vậy việc xây dựng hệ thống KSNB hữu hiệu
đang trở thành nhu cầu cấp thiết, một công cụ tối ưu để đảm bảo sự an toàn
2
cho nguồn vốn đầu tư, xác định hiệu quả điều hành của ban quản lý khách sạn
cũng như kịp thời nắm bắt hiệu quả hoạt động của khách sạn.
Khách sạn Avatar Đà Nẵng là một trong những khách sạn đang hoạt
động trong ngành dịch vụ lưu trú cạnh tranh ngày càng khốc liệt tại Đà Nẵng.
Điều đó đòi hỏi khách sạn phải có một hệ thống KSNB hữu hiệu mới có thể
đứng vững trên thị trường hiện nay.
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn đề tài “Đánh giá
tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại khách sạn Avatar Đà Nẵng”
làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khung lý thuyết của COSO về tính hữu hiệu của hệ thống
KSNB, luận văn nhằm mục tiêu đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
tại khách sạn Avatar Đà Nẵng. Từ những đánh giá đó tác giả đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại Khách sạn
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động kiểm soát liên quan đến kinh doanh lưu
tại khách sạn Mac Dic Royal Plaza và các khách sạn Capital view ở
Koforidua. Nghiên cứu này được thực hiện trên 40 mẫu được chọn ở khách
sạn Mac Dic Royal và 60 mẫu chọn ở khách sạn Capital view. Các phát hiện
của phân tích dữ liệu cho thấy phần lớn số người được hỏi không chắc chắn
rằng liệu các tổ chức đã có cập nhật chính sách kế toán và hướng dẫn thủ tục
hay không. Nghiên cứu cho ta thấy đa số người được hỏi (47,8%) đã bảo đảm
rằng tổ chức có một sơ đồ tổ chức xác định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm.
Nghiên cứu cũng đã xác định một hệ thống KSNB hữu hiệu có phải là kết quả
nghiên cứu từ việc đánh giá năm thành phần - Môi trường kiểm soát, đánh giá
rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và giám sát – từ đó
hoàn thành được các mục tiêu của đơn vị.
Mesfin Yemer and Firew Chekol (2017), nghiên cứu được thiết kế để
điều tra ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đến doanh thu của các
khách sạn ở Bahir Dar và Gondar Cities, Ethiopia. Nghiên cứu gồm có 30
4
khách sạn từ hai thành phố này để điều tra mối quan hệ và hiệu quả của môi
trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, kiểm soát hoạt động, hệ thống thông tin và
truyền thông, và giám sát hoạt động về doanh thu của khách sạn thông qua mô
hình hồi quy logistic. Nghiên cứu cho thấy rằng không phải tất cả các thành
phần kiểm soát nội bộ đều có tác động tích cực đáng kể đối với việc tăng
doanh thu của khách sạn. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy hoạt động kiểm
soát, thông tin và truyền thông và giám sát kiểm soát nội bộ là những yếu tố
dự báo về doanh thu của khách sạn.
Các nghiên cứu ngoài nước đã cho chúng ta thấy được tầm quan trọng
của hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp như thế nào. Và các nhân tố
trong hệ thống tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB ra sao.
6.2. Các nghiên cứu công bố trong nước
khảo sát, đánh giá dựa trên mẫu 40 khách sạn từ quy mô nhỏ tới quy mô lớn
rút ra được thực trạng hệ thống kế toán quản trị và đưa ra một số giải pháp
nâng cao hiệu quả kế toán quản trị tại các khách sạn. Bài nghiên cứu có một
số hạn chế như do vấn đề bảo mật mà kế toán trưởng hay các phụ trách kế
toán chưa trả lời trung thực tình hình kế toán quản trị tại đơn vị mình và
nghiên cứu này được thực hiện trên các quy mô khách sạn khác nhau dẫn tới
sự đánh giá tổng quan chưa chuẩn xác vì mỗi quy mô hoạt động có mức độ
yêu cầu hoàn toàn khác nhau.
Tổng quan về những đề tài nghiên cứu trước đây đã cho chúng ta thấy
vấn đề KSNB trong các ngành dịch vụ cần được quan tâm nhiều hơn. Bởi lẽ
ngành du lịch là một loại hình kinh doanh dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ
chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong sự phát triển kinh tế tại Việt Nam. Các
nghiên cứu trước đây cũng chưa chỉ ra là hệ thống KSNB có hữu hiệu hay
không? Hay các vấn đề về mục tiêu kiểm soát cũng chưa đề cập đến rõ ràng.
Đây là một điểm mà cần phải tiếp tục làm rõ trong các tình huống cụ thể để
nâng cao năng lực quản trị tại các doanh nghiệp, cụ thể là tại các khách sạn.
Đó còn là công cụ để người quản lý biết cách vận hành tổ chức của mình một
cách tốt nhất.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH HỮU HIỆU CỦA
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. GIỚI THIỆU VỀ KHUNG LÝ THUYẾT CỦA HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ
1.1.1. Khái quát về hệ thống kiểm soát nội bộ
a. Định nghĩa
+ Kiểm soát nội bộ là một quá trình: KSNB ko chỉ là một vụ việc hay
tình huống cụ thể mà nó là một tiến trình linh hoạt lặp đi lặp lại, bao gồm các
hoạt động song hành cùng các hoạt động của doanh nghiệp và nằm trong cách
thức NQL điều hành doanh nghiệp.
+ Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người: Những
quy định thủ tục KSNB được thiết kế và thực hiện bởi hội đồng quản trị, nhà
quản lý và các cá nhân khác của tổ chức thông qua hành động và lời nói. Các
quy định, thủ tục và con người đều có tác động qua lại với nhau hướng tới các
mục tiêu đã định. Mỗi con người đều có khả năng và tư duy khác nhau tuy
nhiên KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát đối họ và hướng các hoạt động của họ
đến mục tiêu chung của tổ chức.
+ Kiểm soát nội bộ cung cấp sự đảm bảo ở mức độ hợp lý: một hệ thống
KSNB hữu hiệu cung cấp một sự đảm bảo ở mức độ hợp lý (không phải tuyệt
đối) đối với việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Do tính hữu hiệu của hệ
thống KSNB bị giới hạn bởi yếu tố con người và sự giới hạn của nguồn lực.
Mỗi con người có năng lực, trình độ, kinh nghiệm, sức khoẻ, tuổi tác khác
nhau các yếu tố này khi bị thay đổi hay ảnh hưởng đều dễ phát sinh các sai
sót, hoặc sự lạm quyền dẫn tới các sai phạm. Nguồn lực giới hạn có thể làm
cho KSNB chưa được đầu tư một cách đầy đủ.
b. Tầm quan trọng
Qua định nghĩa ở phần trên ta thấy hệ thống kiểm soát nội bộ đối với
doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Như vậy một hệ thống KSNB vững
mạnh sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đơn vị.
KSNB Giúp DN bảo vệ được thông tin và tài sản của đơn vị mình;
Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động
của tổ chức cũng như các quy định của pháp luật. Giúp DN giảm bớt các rủi
ro khi nhân viên không tuân thủ chính sách, quy trình của đơn vị. Hay sự lạm
8
9
b. Báo cáo COSO 2013
Báo cáo COSO 1992 sau khi ban hành đã được sử dụng rộng rãi trên
toàn thế giới, tuy nhiên trong khoảng thời gian từ năm 1992 tới 2013, quá
trình toàn cầu hoá diễn ra trên diện rộng khiến các mô hình kinh doanh thay
đổi đáng kể, tính phức tạp và tốc độ luân chuyển vốn nhanh hơn, hơn thế nữa
công nghệ thông tin đã có những sự thay đổi vượt bậc dẫn đến môi trường
kinh doanh và môi trường hoạt động cũng có những thay đổi mạnh mẽ. Do đó
COSO 2013 ra đời bổ sung, hoàn thiện các yếu kém của COSO 1992 và cập
nhật những tình huống thay đổi cho phù hợp với thực tiễn. COSO năm 2013
đã tiến hành mở rộng các mục tiêu hoạt động và mục tiêu báo cáo, làm sáng
tỏ các yêu cầu, áp dụng các nguyên tắc nhằm xây dựng KSNB hữu hiệu.
Báo cáo COSO 2013 bao gồm bốn phần: tóm tắt cho nhà điều hành,
khuôn mẫu KSNB và Phụ Lục, Công cụ đánh giá sự hữu hiệu của KSNB và
KSNB cho việc lập báo cáo tài chính cho bên ngoài
Trong nội dung của Báo cáo COSO 2013 (11) nội dung vẫn được giữ
nguyên là định nghĩa KSNB và năm bộ phận cấu thành của KSNB. Tuy nhiên
nội dung chi tiết trong các thành phần có một số thay đổi cho phù hợp với môi
trường kinh doanh hiện tại, đặc biệt là sự phụ hợp với hệ thống thông tin đã
phát triển vượt bậc. Các nội dung căn bản của năm bộ phận cấu thành được
tổng hợp thành 17 nguyên tắc giúp các nhà quản lý dễ dàng hơn trong việc
thiết lập hệ thống KSNB(5). Năm bộ phận cấu thành bao gồm:
Môi trường kiểm soát soát là một tập hợp các chuẩn mực, các quy trình
và các cấu trúc tạo lập cơ sở cho sự vận hành kiểm soát nội bộ trong tổ chức.
Môi trường kiểm soát có tác động lên toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ của
tổ chức, là nền tảng cho bốn bộ phận còn lại của hệ thống KSNB để xây dựng
những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động cho phù hợp. Môi trường kiểm soát
tính sau:
- HĐQT phải thực hiện chức năng giám sát của mình đối với quá trình
11
quản lý và điều hành tổ chức hàng ngày do NQL thực hiện, bao gồm cả giám
sát NQL trong việc thiết lập và vận hành hệ thống KSNB;
- HĐQT xác định và đánh giá định kỳ những kiến thức và kỹ năng cần
thiết giữa các thành viên của mình và có những hành động tương xứng cần
thiết.
- HĐQT phải có đủ các thành viên hoạt động độc lập và thể hiện được
tính khách quan.
Trên cơ sở đảm bảo được sự độc lập và năng lực, HĐQT thực hiện chức
năng giám sát đối với quá trình thiết lập và vận hành hệ thống KSNB được
thể thông qua:
+ Môi trường kiểm soát: HĐQT xem xét sự hợp lý của việc thiết lập, sắp
xếp cơ cấu tổ chức, phân cấp quản lý, việc giao quyền hạn và trách nhiệm cho
NQL các cấp, cũng như việc phân bổ các nguồn lực có phù hợp, tạp điều kiện
cho NQL thực thi tốt các trách nhiệm quản lý, điều hành và KSNB. HĐQT
thực hiện quá trình theo dõi và đánh giá phẩm chất, năng lực của NQL nhằm
đảm bảo các vị trí quản lý có đầy đủ phẩm chất là năng lực cần thiết;
+ Đánh giá rủi ro: HĐQT cần giám sát việc đánh giá rủi ro của NQL
trong việc đạt được các mục tiêu. Các rủi ro từ các yếu tố tiền tàng của các
thay đồi đáng kể bên trong và bên ngoài, rủi ro do gian lận và sai phạm, hoặc
các rủi ro do NQL không khống chế được trong hệ thống KSNB
+ Hoạt động kiểm soát: HĐQT cần giám sát NQL ở các cấp trong việc
thực hiện các chính sách và hoạt động kiểm soát đã được thiết lập.
+ Thông tin và truyền thông: HĐQT cần phân tích và thảo luận với NQL
về các thông tin và truyền đạt thông tin liên quan đến việc đạt được mục tiêu
các yêu cầu năng lực trong chính sách nhân sự.
Như vậy, NQL cần xây dựng và công bố các chính sách và thủ tục về
việc tuyển dụng, huấn luyện, phát triển nhân viên trong đơn vị. NQL cũng cần
13
đánh giá định kỳ về năng lực của nhân viên, thông qua các bộ phận bên trong
đơn vị hoặc thông qua tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn vị.
Nguyên tắc 5: Trách nhiệm thực hiện - Đơn vị cần yêu cầu các cá nhân
chịu trách nhiệm báo cáo về trách nhiệm của họ trong việc đáp ứng các mục
tiêu của tổ chức. Bao gồm các thuộc tính:
- Thực thi trách nhiệm thông qua cơ cấu tổ chức, quyền hạn và trách
nhiệm: HĐQT và NQL thiết lập các cơ chế rõ ràng để các cá nhân chịu trách
nhiệm về việc thực hiện các trách nhiệm KSNB trong quá trình thực hiện các
mục tiêu của tổ chức và thực hiện các hành động khắc phục khi cần thiết.
- HĐQT và NQL thiết lập các biện pháp đo lường hiệu quả công việc,
khuyến khích và khen thưởng khác công bằng, thích đáng và kịp thời với
trách nhiệm ở tất cả các cấp của tổ chức, phản ánh quy mô phù hợp về hiệu
suất và tiêu chuẩn dự kiến của các hành động và xem xét đạt được mục tiêu
trong cả ngắn hạn và dài hạn.
- HĐQT và NQL đánh giá và điều chỉnh áp lực liên quan đến việc đạt
được các mục tiêu như họ phân công trách nhiệm, phát triển các biện pháp đo
lường và đánh giá hiệu suất công việc.
- Đánh giá hiệu quả và khen thưởng hoặc kỷluật nhân viên: HĐQT và
NQL đánh giá thành tích dựa vào mức độ hoàn thành các chỉ tiêu hoạt động
được giao cùng với việc thực hiện các trách nhiệm KSNB và sự tuân thủ các
chuẩn mực hành vi.
Để thực hiện được điều này, HĐQT và NQL cần thiết lập cơ chế báo cáo,
trong đó cần có các quy định trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận trong
•
BCTC cần tuân thủ các quy định kế toán áp dụng với đơn vị và phù hợp
với yêu cầu sử dụng của đơn vị.
•
NQL xem xét tính trọng yếu trong trình bày BCTC để xác định mức độ
chính xác của thông tin phù hợp với nhu cầu người sử dụng và trình bày về
tình hình tài chính của đơn vị trong giới hạn về sự chính xác của thông tin mà
15
có thể chấp nhận được.
+ Mục tiêu báo cáo phi tài chính:
• NQL phản ánh yêu cầu về độ chính xác và phải phù hợp với nhu cầu
của người sử dụng và dựa trên các tiêu chí thiết lập bởi bên thứ ba trong báo
cáo phi tài chính.
• Phù hợp với tiêu chuẩn và khuôn khổ thiết lập bên ngoài – NQL thiết
lập các mục tiêu phù hợp với các tiêu chuẩn và khuôn khổ của các cơ quan
quản lý có liên quan
+ Các mục tiêu BCTC và phi tài chính nội bộ:
• Báo cáo nội bộ phản ánh yêu cầu của HĐQT và NQL. Báo cáo nội
bộcung cấp cho NQL những thông tin chính xác và đầy đủvềsựlựa chọn của
NQL và các thông tin cần thiết trong việc quản lý tổchức;
tích để đưa ra các biện pháp đối phó rủi ro thích hợp.
Nguyên tắc 8: Đánh giá rủi ro có gian lận - Đơn vị cần xem xét các loại
gian lận tiềm tàng khi đánh giá rủi ro không đạt mục tiêu của đơn vị. Bao gồm
một số thuộc tính:
+ Việc đánh giá rủi ro gian lận NQL phải xem xét các loại gian lận khác
nhau như tham nhũng, biển thủ tài sản, gian lận BCTC,.. dưới nhiều hình thức
khác nhau.
+ Đánh giá của đơn vị tiến hành xem xét các yếu tố thúc đẩy gian lận
như động lực và áp lực, các cơ hội gian lận, thái độ và những lý do biện hộ
cho hành vi gian lận. Áp lực thường xuất phát từ việc đơn vị thiết lập mục
tiêu khá cao, khó có thể đạt được hay từ các áp lực cá nhân (khó khăn về kinh
tế,...). Cơ hội để thực hiện thường do hệ thống KSNB yếu kém hoặc NQL
khống chế hệ thống KSNB.
Nguyên tắc 9: Đơn vị cần xác định và đánh giá những thay đổi của môi
trường ảnh hưởng đến hệ thống KSNB. Các yếu tố cần đánh giá bao gồm:
17
+ Những thay đổi của môi trường bên ngoài: Quá trình nhận diện rủi ro
xem xét những thay đổi từ các yếu tố bên ngoài có thể ảnh hưởng đáng kể tới
khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị.
+ Những thay đổi bên trong đơn vị: Đơn vị xem xét các tác động tiềm
tàng của lĩnh vực kinh doanh mới, thay đổi đáng kể của ngành nghề kinh
doanh hiện có,... tác động tới hệ thống KSNB. Những thay đổi đó phụ thuộc
vào vị trí địa lý, sự thay đổi của công nghệ và những thay đổi trong môi
trường tự nhiên mà trong đó có hoạt động kinh doanh. Hay những thay đổi
trong bộ máy lãnh đạo của đơn vị đều ảnh hưởng tới hệ thống KSNB.
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục được thực hiện đảm
bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện hay các hành động cần
nghệ, được thiết kế và thực hiện để giúp đảm bảo tính đầy đủ, tính chính xác
và tính đúng kỳ trong việc xử lý dữ liệu của các nghiệp vụ.
- NQL lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát được thiết kế và
thực hiện để hạn chế quyền truy cập công nghệ cho người dùng có thẩm
quyền tương xứng với trách nhiệm công việc của họ để bảo đảm chất lượng
thông tin và tránh được các mối đe dọa bên ngoài.
- NQL lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát trong việc chuyển
giao, phát triển và duy trì công nghệ và cơ sở hạ tầng để đạt được mục tiêu
quản lý.
Như vậy, NQL cần nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm chu trình kinh
doanh của đơn vị với đặc điểm xử lý thông tin để thiết lập các hoạt động kiểm
soát phù hợp (kiểm soát chung trong môi trường tin học, kiểm soát ứng dụng).
Bên cạnh đó, để đảm bảo tính chính xác, đáng tin cậy của việc xử lý thông tin,
cần lựa chọn và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin thích hợp.
Nguyên tắc 12: Đơn vị phải triển khai các hoạt động kiểm soát dựa trên
các chính sách đã được thiết lập và triển khai thành các thủ tục