1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, Ngày nay cùng với sự phát triển chung của toàn xã
hội, mỗi gia đình đều có cuộc sống sung túc hơn. Chính vì vậy, trẻ em được
hưởng sự chăm sóc đặc biệt từ gia đình và toàn xã hội, tuy vậy vẫn có những
ông bố, bà mẹ phàn nàn: “ Tôi cho con ăn đủ mọi thứ của ngon vật lạ mà trẻ vẫn
gầy yếu và biếng ăn”. Vậy vấn đề đặt ra là gì? Phải chăng chế độ dinh dưỡng
của trẻ chưa hợp lý, chưa khoa học? Thực phẩm dùng cho trẻ hàng ngày như thế
nào là sạch và an toàn? Có lẽ đó chính là câu hỏi của nhiều phụ huynh và nhiều
bậc làm cha mẹ quan tâm. Trường mầm non là nơi khởi đầu cho sự nghiệp trồng
người, đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển nhân cách của
trẻ.
Hiện nay trong điều kiện cuộc sống hiện đại, môi trường ô nhiễm vì khói
bụi, hoá chất, con người phải đối mặt với nhiều bệnh tật, với vi khuẩn, vi rút
biến dị…đặc biệt là các đợt dịch: tay - chân - miệng, cúm AH5N1, H1N1, lở
mồm long móng ở gia súc, dịch tả lợn châu phi, sốt xuất huyết... Tình hình bệnh
dịch diễn biến rất phức tạp, lây lan trong cả cộng đồng. Trong các trường học
thường gặp: Sởi, quai bị, thuỷ đậu, sốt xuất huyết, sốt virut, cúm….Do đó vấn
đề phòng chống dịch bệnh trong cộng đồng nói chung và trong trường học nói
riêng là rất quan trọng. Và dinh dưỡng chính là nhu cầu sống hàng ngày của con
người. Sức khoẻ của trẻ em nói riêng và sức khoẻ của cộng đồng nói chung.
Sinh thời Bác Hồ đã nói:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”.
Bác đã ví trẻ em như búp non ở trên cành, cần sự chăm sóc của người
trồng cây. Trong khi đó trường Mầm non là: “Nơi ươm mầm cho tương lai”,
mầm có khỏe thì cây mới khỏe. Thế hệ tương lai được chăm sóc, giáo dục tốt sẽ
trở thành nguồn nhân lực có ích cho xã hội. Nguồn nhân lực phải đảm bảo đủ
về sức khỏe, năng lực và trí tuệ. Để đáp ứng được điều đó chúng ta phải làm tốt
cả hai khâu đó là chăm sóc - nuôi dưỡng và giáo dục. Giáo dục có tốt mấy đi
nữa nhưng trẻ không có thể lực, sức khỏe tốt thì hiệu quả hoạt động của trẻ khi
toàn thực phẩm luôn là mối quan tâm của toàn xã hội và trong bối cảnh hiện nay,
an toàn thực phẩm ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe con người, chất lượng cuộc
sống và giống nòi của dân tộc; Liên quan đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh
tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội; Thúc đẩy phát triển và góp phần xóa
đói giảm nghèo bền vững. Hiện nay, toàn xã hội đang lo lắng trước vấn đề thực
phẩm bẩn, thực phẩm không rõ nguồn gốc. Mỗi công dân khỏe mạnh mới tạo
nên một xã hội khỏe. Chính vì lẽ đó mà tại kỳ họp quốc hội năm 1991 luật bảo
vệ trẻ em cũng đã được phê chuẩn: “ Sức khoẻ của trẻ em hôm nay là sự phồn
vinh cho xã hội mai sau” và tại kỳ họp quốc hội năm 2004 luật chăm sóc và bảo
vệ trẻ em đã qui định tại Điều 5 “ Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là
trách nhiệm của gia đình, nhà trường; Nhà nước; xã hội và công dân. Trong mọi
hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi
ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu”.
Vì thế thể chất của trẻ là vấn đề quan trọng trong chiến lược con người
của Đảng và nhà nước ta. Đây là nhiệm vụ quan trọng cần được nhận thức đúng
cả ở trong nhà trường, gia đình và toàn xã hội. Chính vì thế mà trường học phải
là gia đình thứ hai của trẻ.
Năm 1995 - 2000 chúng ta thực hiện kế hoạch hành động quốc gia về
dinh dưỡng do Thủ Tướng Võ Văn Kiệt phê duyệt. Mục tiêu kế hoạch này là
đảm bảo an ninh thực phẩm và giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cho toàn dân.
Chính vì tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ ở trường
mầm non mà Đảng, Nhà nước nói riêng và cả thế giới nói chung rất quan tâm
đến vấn đề này. Ngày 22/2/2001 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược
2
Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001 đến 2010 mà trước hết là trẻ em và bà
mẹ được nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý, các chương trình trên cũng được mở
rộng, được tuyên truyền và thực hiện rộng rãi ra toàn quốc. Vụ Giáo dục mầm
non đã ban hành - điều lệ trường mầm non- Văn bản Hợp nhất số 05 mà mục
+ 100% cán bộ quản lý và giáo viên đã được tập huấn, nắm vững nội
dung đánh gí các tiêu chuẩn về trường học an toàn, phòng chống tai nạ thương
tích đã được quy định trong Thông tư.
3
Hàng năm Phòng GD&ĐT đưa nội dung đánh giá thực hiện xây dựng
trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích vào các đợt kiểm tra
chuyên môn của nhà trường một cách nghiêm túc và đây cũng là một trong
những tiêu chí để xếp loại các đơn vị hàng năm.
2.2.2 Khó khăn:
Phần đông các cháu được gửi đến trường là con em dân lao động, buôn
bán nhỏ có mức thu nhập thấp, và không ổn định không có nhiều thời gian quan
tâm chăm sóc tốt cho trẻ, nhiều trẻ thể lực chưa đạt yêu cầu so với độ tuổi, vệ
sinh cá nhân chưa thật sự gọn gàng, sạch sẽ.
Đời sống của 1 số cô nuôi chưa được hưởng biên chế, nên còn nhiều khó
khăn.
Vườn trường rộng, cây dại, cỏ mọc um tùm. Đất đồi là chủ yếu nên rất
nóng ảnh hưởng đến việc cải tạo vườn rau - củ - quả của nhà trường.
Nhà trường có cả điểm lẻ nên việc cải tạo cả hai khu để có cả hai vườn
rau - củ - quả gặp rất nhiều khó khăn.
Việc cung cấp nước để phục vụ cho việc chăm sóc vườn rau - củ - quả
cũng không được thuận lợi.
Đa số giáo viên trẻ, không biết cách làm vườn, trồng rau
Giá cả thực phẩm luôn biến động cũng ảnh hưởng đến việc xây dựng thực
đơn.
2.2.3. Thực trạng vấn đề:
Từ thực trạng trên và xác định được sự ảnh hưởng của dinh dưỡng và an
toàn của vệ sinh An toàn thực phẩm đến sức khỏe và trực tiếp là bữa ăn hàng
ngày của trẻ, theo kinh nghiệm là “ Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Ngay từ đầu
Số trẻ
Tỷ lệ %
356
100%
338
95%
18
5%
Chiều cao
4
T
T
1
Năm học
2019 - 2019
6%
Từ kết quả đó, bản thân tôi đã nhận thức rõ và thiết nghĩ rằng cần phải có
những biện pháp tốt nhất trong việc quan tâm chỉ đạo chăm sóc sức khoẻ, nâng
cao chất lượng bữa ăn hợp lí, bảo đảm an toàn cho trẻ giúp trẻ phát triển lành
mạnh tạo niềm tin cho gia đình, cộng đồng và toàn xã hội.
Chính vì lý do trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp chỉ
đạo xây dựng vườn rau - củ - quả sạch nhằm đảm bảo bữa ăn an toàn cho trẻ
trong trường mầm non Vĩnh Phúc - huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hóa”
2.3. Các biện pháp thực hiện chỉ đạo xây dựng vườn rau - củ - quả
sạch nhằm đảm bảo bữa ăn an toàn cho trẻ trong trường Mầm non Vĩnh
Phúc - huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh hóa:
2.3.1. Lập kế hoạch về xây dựng vườn rau - củ - quả trong trường.
Trường Mầm non Vĩnh Phúc có tổng diện tích 5986m2 được chia làm 2
khu. Khu trung tâm và khu lẻ đều có diện tích vườn rộng. Vườn khu trung tâm
có diện tích khoảng 700m2, đất khi chưa cải tạo không được bằng phẳng, gồ
ghề, cằn cỗi, ngổn ngang rác thải, phế liệu.Vườn khu lẻ ( khu Quán hạt) có diện
tích khoảng 1000m2 nhưng chủ yếu là đất đồi, nóng rát, chỉ phù hợp cho trồng
cây ăn quả.
Ngày đầu mới về trường. Nhìn thấy thực tế đất đai của trường, tôi đã trăn
trở nhiều ngày và quyết định đưa ý định cải tạo đất vườn để trồng cây ăn quả và
rau sạch cho bé.
Ý định của tôi được đưa ra bàn trong chi bộ nhà trường. Sau khi được chi
bộ đồng ý, thống nhất. Tôi đưa ra bàn bạc trong hội nghị Cán bộ - giáo viên nhân viên đầu năm học. Vấn đề được đặt ra có nhiều tranh luận, đa số giáo viên
trẻ không quen với công việc làm vườn nên ngại không thành công. Tôi đã
thuyết phục chị em cán bộ - giáo viên - nhân viên bằng cách tự đứng ra làm và
chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhà trường về công tác phân công, tổ chức và
thực hiện.
quả; khu vườn trồng rau.
Ban chỉ đạo có trách nhiệm nghiên cứu địa hình, các loại cây, rau cần
trồng và trồng theo thời điểm nào cho thích hợp.
Tiến hành phổ biến, quán triệt trong hội đồng giáo viên và trong cuộc họp
cha mẹ học sinh đầu năm về mục đích, ý nghĩa và vai trò của việc xây dựng
vườn rau- quả.
Xây dựng kế hoạch phân công từng thành viên trong nhà trường chịu
trách nhiệm từng phần việc và từng tiêu chí cụ thể và chịu hoàn toàn trách nhiệm
về phần việc được phân công.
VD: Cô Trương Thị Quyến (Trưởng ban nữ công): Chịu trách nhiệm về
mua giống rau, giống cây ăn quả .
Cô Phạm Thị Phương (BCH Công đoàn): Chịu trách nhiệm về kỹ thuật
chăm sóc, kỹ thuật tạo dáng, kỹ thuật cắt tán.
Cô Trịnh Thị Dung; Ngô Hà Châu (CT Công đoàn; Phó Hiệu trưởng) chịu
trách nhiệm chỉ đạo khâu phân bón, thu hoạch.
Cô: Hoàng Thị Mến (Tổ phó tổ nuôi dưỡng): Chịu trách nhiệm khâu làm
đất.
Ngay từ đầu năm học Ban chỉ đạo nhà trường xây dựng kế hoạch lao
động. Phân công trách nhiệm cụ thể cho từn lớp phụ trách từng khu , giáo viên
chủ nhiệm chịu trách nhiệm trước nhà trường về nhiệm vụ được giao.
Giao cho đoàn viên chi đoàn xây dựng công trình thanh niên, phối hợp
vận động đoàn thanh niên trong xã trồng cây ăn quả, rau trong các luống trong
vườn trường.
2.3.3 Cải tạo đất và phân lô để xây dựng vườn rau - củ - quả:
Việc cải tạo đất vườn là công việc khó khăn và nặng nề nhất. Vườn trường
là những ụ đất cao, nền cứng, bạc màu, thiếu độ tơi xốp. Nhà trường đã phải
thuê máy múc ủi và cùng với tất cả CBGV-NV cùng tham gia san nền. Ngoài ra
còn xin sự trợ giúp công sức của các đức ông chồng cán bộ, giáo viên, nhân viên
và các bậc phụ huynh, đóng góp công sức lao động vào các buổi chiều và ngày
thứ bảy.
cấp, các ngành, nhân dân ở địa phương đó. Trong đó đặc biệt là sự hỗ trợ của
cán bộ Đảng, chính quyền đoàn thể và tập thể phụ huynh học sinh trong nhà
trường là vô cùng quan trọng. Chính vì thế mà tôi đã tập trung xây dựng chương
trình cho đơn vị để có kế hoạch tham mưu và nội dung tuyên truyền đến các cấp,
các ngành về xây dựng mô hình vườn rau - củ - quả sạch cho bé.
Xác định được sự nguy hại của ATTP, theo kinh nghiệm là “phòng bệnh
hơn chữa bệnh” nên khi học các chuyên đề tôi thường xuyên đi sâu vào công tác
tuyên truyền để mọi người hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của công tác chăm sóc
trẻ. Ngoài ra còn chỉ đạo giáo viên luôn có kế hoạch thực hiện tốt công tác chăm
sóc sức khoẻ, dinh dưỡng cho trẻ và phòng chống suy dinh dưỡng theo lịch hàng
9
tuần, hàng tháng. Tuyên truyền rộng rãi đến nhân dân, phụ huynh học sinh để
giúp mọi người hiểu rõ hơn về công việc nhà trường đang thực hiện trong năm
học.
2.3.5. Nâng cao nhận thức và tay nghề cho đội ngũ cán bộ GV và nhân viên
phục vụ
2.3.5.1. Đối với nhân viên phục vụ
Xuất phát từ tình hình thực tế không những chỉ có người phục vụ chăm lo
học hỏi mà những người quản lý cũng phải có trách nhiệm hàng đầu về những
vấn đề này. Là người quản lý phụ trách chính tôi phải xây dựng kế hoạch thường
xuyên nhắc nhở và chỉ đạo sát sao để họ thực hiện tốt vấn đề này, động viên thực
hiện tốt khâu vệ sinh an toàn thực phẩm, đưa ra một số tài liệu tham khảo tài liệu
về huớng dẫn chế biến các món ăn, tài liệu nói về vệ sinh an toàn thực phẩm để
giúp chị em nắm được cách lựa chọn thực phẩm, kỹ thuật chế biến.
Yêu cầu nhân viên phục vụ phải đảm bảo về khâu chế biến thực phẩm an
toàn về vệ sinh, đảm bảo chất lượng thực phẩm, nơi chế biến thực phẩm sống,
chín phải tách riêng, không được dùng lẫn lộn như: dao, thớt, rổ rá, xoong, nồi
….. Thức ăn nấu, chia xong trẻ phải được ăn ngay. Nếu trẻ chưa ăn phải cho vào
hàng tuần, hàng tháng trong các buổi sinh hoạt chuyên môn.
2.3.6 Nâng cao nhận thức giáo dục dinh dưỡng và sức khoẻ cho trẻ.
Như chúng ta đã biết sức khoẻ là vốn quý của con người. Ăn uống là cơ
sở tạo cho con người có một thể lực tốt. Ăn uống theo nhu cầu dinh dưỡng của
cơ thể, đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng thì cơ thể mới phát triển một cách
toàn diện được.
Dinh dưỡng là nhu cầu sức khoẻ của mỗi người, trẻ em cần dinh dưỡng để
phát triển thể lực, trí tuệ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì và phát huy sự
sống để làm việc cống hiến cho xã hội. Nếu trẻ không được nuôi dưỡng tốt sẽ
chậm lớn, còi cọc chậm phát triển về mọi mặt. Ngược lại nếu trẻ được nuôi
dưỡng tốt sẽ chóng lớn khoẻ mạnh phát triển tốt về mọi mặt, xứng đáng là chủ
nhân tương lai của đất nước.
Chính vì vậy, tôi đặc biệt đã chú trọng xây dựng môi trường học tập cho
trẻ, tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non theo các chủ đề lồng ghép
giáo dục dinh dưỡng, giữ gìn và bảo vệ môi trường cho trẻ vào các tiết học và
hoạt động ngoài trời.
Thời gian đầu tham gia chăm sóc vườn rau, hầu hết các bé không tránh
được bỡ ngỡ, tò mò vì trực tiếp làm đất, gieo hạt, chăm sóc cây... Tuy nhiên,
chứng kiến những luống rau xanh tươi do tự tay mình chăm sóc cho đến thời
điểm thu hoạch rau sạch, các bé đều tỏ ra phấn khích
11
Hình ảnh các bé chăm sóc rau
Trong chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ chúng tôi xây dựng mỗi tuần 1
buổi trẻ được lao động cùng cô. Trẻ rất thích thú được tưới nước cho cây, được
nhổ cỏ, được nhặt lá vàng được chăm sóc cây cùng cô và các bạn. Từ đó trẻ làm
quen với một số loại rau, đặc biệt là tổ chức hoạt động qua các giờ học ngoài
trời trực tiếp tham gia trồng, chăm sóc rau, chứng kiến quá trình sinh trưởng
để chăm sóc sức khoẻ cho trẻ.
2.3.7.1. Với gia đình
Để giúp cho phụ huynh nhận thức đúng về việc chăm sóc nuôi dưỡng các
cháu, thấy rõ nguy cơ bệnh tật và tác hại của việc suy dinh dưỡng ở trẻ nên việc
đầu tiên giáo viên phải là người trực tiếp gặp gỡ phụ huynh trò chuyện, trao đổi
và tuyên tuyền cách chăm sóc sức khoẻ cho trẻ ở nhà như: Ăn uống đủ chất, ăn
đổi bữa thường xuyên, cách phòng và chữa một số bệnh thông thường, cách chế
biến thức ăn rẻ tiền mà đủ chất, cách sắp xếp đồ trong gia đình gọn gàng ngăn
nắp để đảm bảo an toàn cho trẻ. Tuyên truyền qua đợt tổ chức các hội thi "Bé
khoẻ - Bé ngoan", "Bé tập làm nội trợ", “Bé khỏe - Bé tài năng”...
2.3.7.2. Với lực lượng y tế
Kết hợp với trạm y tế khám sức khoẻ cho trẻ theo định kì và tuyên tuyền
qua các cuộc họp của các đoàn thể hoặc qua thông tin phát thanh của địa
phương. Đặc biệt, chú trọng đến đợt khám và phân loại sức khoẻ đầu năm để
nắm được tình hình bệnh tật và suy dinh dưỡng ở trường, nhóm lớp. Từ đó cũng
13
đã kịp thời phát hiện những trường hợp tim bẩm sinh, nấm ngoài da... Tổ chức
tiêm phòng theo lịch, tẩy giun theo định kỳ và cân đo theo dõi sự phát triển trên
biểu đồ tăng trưởng theo quy định cho từng độ tuổi.
2.3.7.3. Với chính quyền địa phương
Cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng quyết định đến sức khoẻ trẻ. Trẻ được
học tập phù hợp, vui chơi, ăn nghỉ trên những trang thiết bị khoa học phù hợp
giúp trẻ phát triển toàn diện. Vì vậy, nhà trường cần làm công tác tham mưu với
các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương, đầu tư cơ sở vật chất để đảm bảo các
hoạt động trong nhà trường.
Tham mưu xin các loại giống rau theo mùa để trồng trong vườn rau. Xin
đất để bồi vườn, cải tại thêm vườn cây ăn quả. Tham mưu để khoan cho trường
một cái giếng phục vụ cho việc tưới tiêu.
2.4. Hiệu quả của việc xây dựng vườn rau - củ - quả trong trường
Mầm non Vĩnh Phúc năm học 2018 - 2019 .
* Đối với cảnh quan nhà trường
Khuôn viên của nhà trường luôn xanh, sạch, đẹp, an toàn, thoáng mát.
Sân trường không cỏ rác, vườn rau - củ - quả xanh đã phát triển tốt tạo được môi
trường học tập, vui chơi cho trẻ thoải mái. Trường luôn sạch sẽ, có vườn rau - củ
- quả xanh đẹp, an toàn. Sân trường có vườn cổ tích đẹp, được cắt tỉa gọn gang,
phù hợp với các hoạt động của trẻ.
* Đối với đội ngũ giáo viên:
Phấn khởi yên tâm công tác khi được phục vụ trong một ngôi trường thân
thiện, có khả năng truyền thụ, rèn luyện kỹ năng sống về giáo dục, yêu lao động.
Vận dụng các phương pháp thích hợp để hình thành cho trẻ thái độ và hành động
Bảo vệ môi trường một cách hiệu quả thông qua chăm sóc vườn rau sạch.
* Đối với trẻ:
Qua quá trình nghiên cứu và đưa vào thực hiện, bằng những kinh nghiệm,
những biện pháp và những giải pháp chỉ đạo phù hợp với điều kiện, tình hình
thực tế. Chúng ta thấy chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, được nâng lên rõ rệt,
15
khẩu phần ăn đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng và hợp lý, số trẻ mắc các
bệnh giảm nhiều, tỷ lệ trẻ ở kênh bình thường nhiều hơn giảm tỉ lệ trẻ suy dinh
dưỡng ở thể nhẹ cân và thấp còi.... Tỷ lệ sức khỏe của trẻ được tăng lên rõ rệt.
- Trẻ đến trường được học hành, ăn ngủ đúng thời gian giờ giấc.
- Chất lượng trong khẩu phần ăn và chế độ dinh dưỡng của trẻ được nâng
lên rõ rệt và tương đối hợp lý.
- Mức tiền ăn của nhà trường được tăng lên phù hợp với tình hình thực tế
của địa phương.
- Năng lượng cung cấp cho trẻ trong ngày tại trường phù hợp với mức tiền
ăn trong ngày của trẻ.
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
đầu năm
100%
95%
5%
356
346
10
Khảo sát
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
cuối năm
Bình thường
suy DD
356
336
20
Khảo sát
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
đầu năm
100%
94%
6%
Khảo sát
Ghi chú
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Xây dựng vườn rau - củ - quả sạch, an toàn cho bé không những có tác
động đến cảnh quan môi trường của nhà trường mà còn tạo ra một môi trường
làm việc an toàn, hợp vệ sinh cho các cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường và
trẻ mầm non. Từ đó mang hết khả năng nhiệt tình giảng dạy tạo nên các giờ lao
động hấp dẫn, có chất lượng cao góp phần vào sự nghiệp trồng người, nâng cao
chất lượng của nhà trường.
Mô hình xây dựng vườn rau - củ - quả sạch, an toàn có ý nghĩa rất thiết
thực trong việc giáo dục ý thức, góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp và kỹ
năng sống cho trẻ. Hiệu quả thiết thực của cuộc thi “ Xây dựng môi trường giáo
dục lấy trẻ làm trung tâm trong trường MN” đã tạo niềm tin với phụ huynh học
sinh, góp phần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, thu hút phụ huynh nhiệt
tình tham gia. Trong quá trình thực hiện “ Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ
làm trung tâm trong trường MN” trong đó có nội dung xây dựng mô hình xây
dựng vườn rau-quả sạch, an toàn cho bé đã tạo ra một môi trường kết hợp chặt
chẽ, đồng bộ việc cung cấp kiến thức, kỹ năng cơ bản cho trẻ, giáo dục nhận
thức mối quan hệ giữa con người với yêu lao động, tác động tích cực và tiêu cực
của môi trường đến đời sống con người, giáo viên và trẻ có ý thức xây dựng
trường học xanh, sạch, đẹp hơn.
3.2. Kiến nghị.
3.2.1 Đới với nhà trường:
Tuy nhà trường có cơ sở vật chất đảm bảo đủ điều kiện chăm sóc nuôi dạy
trẻ an toàn, môi trường xanh - sạch - đẹp nhưng vẫn chưa đáp ứng với nhu cầu
hiện nay, kính đề nghị các cấp quan tâm, đầu tư thêm cơ sở vật chất đáp ứng yêu
cầu trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ II , tham mưu xây dựng thêm
một số hạng mục còn thiếu ở khu Quán Hạt( Khu B) để nhà trường ngày càng
khang trang hơn, cảnh quan ngày càng đẹp hơn.
3.2.2 Đới với UBND xã:
Tu sửa, xây dựng thêm CSVC cho nhà trường để trường hoàn thành
năm 2030
5. Tài liệu bồi dưỡng chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho giáo viên
6. Sổ tay hướng dẫn VSATTP trong trường học
7. Thông tư số 04/1998/TT/BYT của Bộ Y Tế ban hành ngày 23 tháng 3
năm 1998 hướng dẫn thực hiện quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm.
8. Bệnh học trẻ em (2007) Tài liệu lưu hành nội bộ.
9. Bồi dưỡng thường xuyên
10. Chăm sóc sức khoẻ cho trẻ (2002) uỷ ban dân số gia đình và trẻ em.
11. Điều lệ trường mầm non- Văn bản Hợp nhất số 05
18
12.Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 3 độ tuổi.
Nhà xuất bản Hà Nội.
13. Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non.
19