SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD& ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP CHO HỌC SINH LỚP 5
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hoan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Hải I
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2018
i
MỤC LỤC
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Thống nhất với phụ huynh học sinh về yêu cầu và cách
giúp con giữ vở sạch viết chữ đẹp.
2.3.2. Việc rèn luyện chữ viết của giáo viên.
2.3.3. Rèn cho học sinh nói chuẩn, viết chuẩn tiếng phổ thông
15
15
15
17
ii
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Từ bao đời nay ông cha ta luôn tôn vinh những người “ Văn hay - chữ tốt”
đó sao? Nét chữ của mỗi người sau này ra sao phụ thuộc rất nhiều vào nét chữ
của mỗi ngày đi học được thầy cô uốn nắn. Vì vậy nề nếp vở sạch chữ đẹp là
yêu cầu không thể thiếu được đối với học sinh Tiểu học.
Chữ viết là một trong những kỹ năng hàng đầu của việc học tiếng Việt
trong nhà trường Tiểu học. Chữ viết của học sinh có ảnh hưởng lớn đến chất
lượng học tập ở tất cả các môn. Chúng ta biết rằng chữ viết có tầm quan
trọng đặc biệt ở bậc Tiểu học, học sinh phải dùng chữ viết để học tập và
giao tiếp. Chính vì vậy, trong những năm học gần đây, vấn đề “ Giữ vở sach –
Viết chữ đẹp” của trường Tiều học Đông Hải I nơi tôi đang công tác cũng là một
trong những phong trào được nhà trường đặc biệt quan tâm và trú trọng. Năm
học này, tôi được nhà trường phân công dạy lớp 5A. Ngay từ đầu năm học, tôi
nghĩ rằng muốn nâng cao được chất lượng toàn diện cho học sinh, không những
người giáo viên phải truyền thụ đầy đủ những tri thức cho các em mà chúng ta
còn phải quan tâm, trú trọng đến việc rèn chữ viết, giữ vở sạch cho học sinh.
Ngoài ra, tôi thấy việc rèn chữ viết còn góp phần rèn luyện cho học sinh những
phẩm chất đạo đức như tính cẩn thận, kiên trì, tinh thần kỉ luật và phát triển óc
thẩm mĩ. Nhận thức được tầm quan trọng đó, là giáo viên đang trực tiếp dạy lớp
Năm, tôi đã băn khoăn suy nghĩ phải làm gì, làm như thế nào để nâng cao chất
lượng chữ viết ở lớp mình phụ trách, đảm bảo chỉ tiêu VSCĐ mà nhà trường đã
và nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Chính tả cho học sinh theo Quyết định số
31/QĐ-BGD & ĐT ngày 14 tháng 6 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo; Công văn số 5150/TH ngày 17 tháng 6 năm 2002 v/v hướng dẫn dạy và
học viết chữ ở Tiểu học của BGD& . Chữ viết có quan hệ mật thiết với chất
lượng học tập ở các môn học khác. Nếu viết chữ đúng mẫu, rõ ràng, tốc độ
nhanh thì học sinh có điều kiện ghi chép bài học tốt, nhờ vậy mà kết quả học tập
sẽ cao hơn. Ngược lại viết chữ xấu, tốc độ chậm sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng học tập của học sinh.
Dạy cho học sinh biết được những kĩ năng và thao tác viết chữ từ đơn giản
đến phức tạp bao gồm những kĩ năng viết nét, liên kết nét tạo chữ cái, tạo chữ
ghi tiếng. Đồng thời giúp các em xác định khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên vở kẻ
ô li để hình thành kĩ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và cao hơn là viết nhanh, viết
đẹp. Ngoài ra, tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở, cách trình bày bài viết cũng
là một kĩ năng đặc thù của việc rèn chữ viết cho học sinh mà giáo viên cần
thường xuyên quan tâm. Việc rèn chữ viết cho học sinh tiểu học là một việc làm
cực kì khó khăn, đòi hỏi người giáo viên phải có lòng kiên trì và lòng yêu nghề,
mến trẻ, tâm huyết với công việc mình làm. Việc làm phải thường xuyên và liên
tục ở các khối, lớp tiểu học. Rèn cho học sinh viết đúng, viết đẹp góp phần quan
trọng vào việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Để học sinh viết đẹp thì trước hết phải viết đúng qua các tiết Chính tả
ở lớp. Bởi vì qua đó học sinh nắm được các khái niệm về đường kẻ, dòng
kẻ, toạ độ, tốc độ, tên gọi các nét, cấu tạo chữ cái, vị trí dấu thanh, và liên
kết các chữ cái khi viết. Từ đó, mới hình thành ở các em những biểu tượng
về hình dáng độ cao và sự cân đối, tính thẩm mĩ của chữ viết. Ngoài ra, học
sinh còn rèn thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, xác định được
khoảng cách để hình thành kĩ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và cao hơn là
viết nhanh và viết đẹp. Chữ viết mang tính thực hành cao, ngoài việc học
sinh nắm được các kiến thức cơ bản của việc viết chữ và kỹ thuật viết thì
rèn viết chữ đẹp là một yêu cầu cũng hết sức quan trọng và cần thiết, vì vậy
chúng ta cần chú ý rèn cho học sinh tính cẩn thận, sự sáng tạo khi viết.
d. Đảm bảo tốc độ viết
B
Tỷ lệ %
55,4
SL
5
Đạt
38 = 100%
25 = 65,7%
23 = 60,5%
Đạt
20 = 52,6%
12 = 31,5%
21 = 55,4%
20 = 52,6%
C
Tỷ lệ %
13,1
Ghi chú
Chưa đạt
13 = 34.3%
15 = 39,5%
Chưa đạt
18 = 47,4%
giữ vở sạch - viết chữ đẹp.
Ngay Hội nghị phụ huynh đầu năm, tôi đã quán triệt việc nâng cao nhận
thức cho cha mẹ học sinh về tầm quan trọng của việc rèn vở sạch, luyện chữ
3
đẹp. Giới thiệu và cho phụ huynh xem mẫu chữ và những quyển vở, những bài
viết đẹp của học sinh năm trước. Từ đó tôi hướng dẫn cơ bản cách hướng dẫn,
giúp đỡ con em luyện viết ở nhà cho đúng mẫu chữ. Tôi còn vận động phụ
huynh mua bảng chữ mẫu dán trên góc học tập của con em mình để mỗi khi
luyện viết nhìn vào đó viết cho đúng.
Sau đó tôi nêu những tồn tại về chữ viết của học sinh lớp và đưa chỉ tiêu phấn
đấu vở sạch chữ đẹp của lớp để phụ huynh học sinh nắm bắt được và cùng giáo viên
chủ nhiệm đồng thời nêu rõ tiêu chuẩn vở sạch chữ đẹp cho phụ huynh biết.
Đó là các tiêu chuẩn sau:
+ Vở ghi đầy đủ bài theo thời khoá biểu.
+ Vở đóng chặt có nhãn, không quăn mép, trình bày đúng quy định, không
bỏ giấy, không dây mực…
+ Chữ viết thẳng hàng, đúng mẫu chữ, không sai lỗi chính tả, không tẩy
xoá, chữ viết đều đẹp.
Từ đó tôi đề nghị phụ huynh mua đầy đủ đồ dùng học tập: thước, bút chì,
bút mực… Đặc biệt tôi động viên phụ huynh mua bút mực như ( bút nét hoa, bút
mài) để luyện viết chữ đẹp, luyện viết chữ nét thanh, nét đậm. Hướng dẫn phụ
huynh chọn mua vở ô li loại vở rõ ô li, giấy trắng mịn, viết không bị nhoè như
vở Diên Hồng, Hồng Hà,… Đề nghị phụ huynh mua giấy bọc vở cho các em
giúp các em giữ được lâu bền. Tôi hướng dẫn phụ huynh chọn loại mực tốt để
tránh tắc mực khi viết.
Tôi đề nghị hàng tuần phụ huynh phải kiểm tra việc giữ vở sạch, viết chữ
đẹp của con, nếu phụ huynh nào có điều kiện thì kiểm tra hàng ngày, nhắc nhở
con em mình thực hiện.
viết sai. Những lỗi chủ yếu là:
- Phát âm sai về thanh điệu: Thanh hỏi – thanh ngã; thanh ngã – thanh hỏi.
- Phát âm lệch chuẩn về Phụ âm đầu: tr, ch, d,gi.
- Phát âm lệch chuẩn về phần vần ( chủ yếu là vần có âm đệm và có nguyên
âm đôi: iê, ươ, ia….)
- Sử dụng tiếng địa phương
Để giúp học sinh nói chuẩn tôi đã thực hiện rèn lỗi phát âm cho học sinh
thông qua các phân môn: Tập đọc; Luyện từ và câu; Kể chuyện; Làm văn; Chính
tả; Tập viết, giáo viên cho học sinh tiếp tục luyện đọc, nói đúng chính âm và viết
đúng chính tả. Về cơ bản cần phân biệt rõ các nguyên âm d,gi/ r; s/x; ch/ tr;
p/ph/b; l/n; g/gh; ng/ngh; k/q/c; phân biệt dấu hỏi/ ngã, các vần chứa nguyên âm
đôi (iê, uô, ươ). Giáo viên có thể giảm bớt phần trả lời một số câu hỏi tìm hiểu
nội dung bài viết, dành thời gian cho học sinh đọc kĩ bài chính tả và luyện viết
những tiếng, từ khó hoặc dễ lẫn lộn theo đặc điểm phát âm của học sinh trong
lớp.( Thực hiện theo yêu cầu chỉ đạo công văn số 896/ GDTH – BGD và DDT).
Học sinh luyện lỗi phát âm
2.3.4. Rèn cho các em ý thức giữ vở sạch:
Bên cạnh việc rèn chữ, giữ vở sạch cũng rất cần thiết và tiến hành song
song vì khi nhìn vào quyển vở sạch các em thấy mình cần phải viết chữ đẹp hơn.
Tôi đã hướng dẫn các em cách giữ vở sạch như sau:
- Giáo viên luôn nhắc học sinh phải giữ tay sạch, khi mở vở phải lật từng
trang cẩn thận.
- Khi viết trải rộng vở, không được gấp, để vở ngay ngắn không được tì
ngực vào vở.
5
- Viết xong để khô mực mới được gấp vở, cần cố tờ giấy kê, giấy thấm để
không bị nhoè chữ.
phía dưới cùng với mép bàn tạo thành một góc khoảng 15 0. Khi viết độ nghiêng
của nét chữ cùng với mép bàn sẽ tạo thành một góc vuông 900. Như vậy, dù viết
theo kiểu chữ đứng hay kiểu chữ nghiêng, nét chữ luôn thẳng đứng trước mặt
(chỉ khác nhau về cách để vở).
* Cách cầm bút và sử dụng bút trong khi viết.
- Cầm bằng ba ngón tay phải:
* Ngón giữa: Giữ phía dưới có tác dụng đưa lên tạo nét thanh.
* Ngón trỏ: Ở trên chỗ tay cầm có tác dụng kéo xuống nhấn bút tạo nét
đậm.
* Ngón cái: Giữ bút phía ngoài.
* Má bàn tay tì xuống làm điểm tựa.
- Khi viết kết hợp nhịp nhàng ba ngón tay và cử động cổ tay.
6
- Cầm bút xuôi theo chiều ngồi bút đặt nghiêng so với giấy khoảng 45 độ.
Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 90 độ. Đưa bút từ trái qua phải, từ trên
xuống dưới, các nét đưa lên hoặc đưa sang ngang phải thật nhẹ tay.
- Ngòi bút úp xuống mặt giấy, cổ tay thẳng thoải mái với cánh tay. Khi viết
không được nhấc bút liên tục.
- Học sinh không được cầm bút quá thấp hay quá cao, cầm bút cách đầu
ngòi bút 3 - 4cm. Nếu các em cầm bút thấp quá thì viết các nét khuyết, nét lượn
rất khó, nét chữ không mềm dẻo, tốc độ viết chậm và phải di chuyển tay liên tục.
- Khi viết điều khiển bút bằng 3 đầu ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón
giữa. Động tác viết cần có sự phối hợp cử động cổ tay, khuỷu tay và cánh tay.
* Rèn luyện chữ viết:
Tôi tập trung hướng dẫn học sinh nắm chắc các thao tác chung của quá
trình tập viết, luyện tư thế ngồi, cách cầm bút, cách để vở, cách xác định dòng
kẻ, đường kẻ trên vở ô li .
- Kỹ thuật rê bút: Đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với nét
chữ vừa viết. Ở đây xảy ra trường hợp dụng cụ viết (đầu ngòi bút) chạy nhẹ từ
điểm kết thúc của nét đứng trước đến điểm bắt đầu của nét liền sau.
Ví dụ: Khi viết chữ ph phải viết nét thẳng của chữ ( 1 ) sau đó không nhấc bút
để viết mà rê ngược bút lên đường kẻ ngang thứ 2 để viết nét móc 2 đầu
(2) Đoạn (1), (2) là đoạn rê bút.
- Cấu tạo của chữ cái Tiếng Việt:
Những yếu tố cấu tạo chữ viết tiếng Việt chính là hệ thống các nét chữ. Hệ
thống nét cơ bản cấu tạo chữ cái Tiếng Việt gồm hai loại:
* Nét thẳng: thẳng đứng ê, nét ngang ¾, nét xiên /, \
* Nét cong: cong hở (cong phải , cong trái ), cong khép kín O.
Tuy nhiên, khi ghi âm vị Tiếng Việt ngoài các nét cơ bản trong cấu tạo chữ
viết còn có các nét dư. Những nét dư này nhằm mục đích tạo sự liên kết (nét
nối) giữa.
Với cách xác định chữ như trên, việc phân tích các chữ trở nên gọn và dễ
hiểu.
Sau đây là danh sách các nét phối hợp để dạy viết nét và viết chữ cái tiếng Việt:
1. Nét móc: Nét móc xuôi , nét móc ngược.
2. Nét móc hai đầu.
3. Nét thắt giữa.
4. Nét khuyết: - nét khuyết trên
- nét khuyết dưới.
5. Nét thắt trên.
Dựa trên nhóm nét trên ta có thể chia chữ cái tiếng Việt thành các nhóm
sau:
Nhóm 1: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x.
Nhóm 2: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc (hoặc
nét thẳng): a, ă, â, d, đ, g.
Nhóm 3: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, t, u, ư, p, m, n.
Nhóm 4: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét cong phối
liên tục mà còn chú ý hướng dẫn đánh dấu thanh đúng vị trí quy định.
- Bên cạnh đó, tôi còn chú ý hướng dẫn đánh dấu thanh đúng quy tắc chính
tả :
+ Đối với các chữ có vần, có âm chính là nguyên âm đơn.
+ Đối với các chữ có vần, có âm chính là nguyên âm đôi.
- Trong lớp xếp xen kẽ những em viết đẹp, cẩn thận bên cạnh những em
viết xấu, viết cẩu thả để các em có điều kiện học tập giúp đỡ lẫn nhau.
Khi viết trên bảng, giáo viên phải viết rõ ràng, đúng mẫu, mạch lạc trình
bày bảng khoa học để học sinh noi theo (chữ viết của giáo viên có ảnh hướng
rất lớn đến chữ viết của học sinh).
Đối với những em hay viết sai lỗi chính tả, tôi thường hướng dẫn cho các
em thực hiện một số bài tập để giúp các em khắc phục các lỗi chính tả tiêu biểu
như :
a) Khắc phục lỗi s- x
Bài 1: Điền vào chỗ trống x hoặc s
...ắp xếp , ...ếp hàng , sáng ...ủa, xôn ...ao
Bài 2:Tìm một số từ chỉ thức ăn hoặc đồ dùng liên quan đến thức ăn có âm
s hoặc x.
Bài 3 : Nối chữ cây với chữ có thể ghép với nó
si
sung
cây
xoài
xung
Qua 3 dạng bài tập trên, ta có thể cung cấp cho học sinh một số mẹo để phân
biệt s-x như sau:
- Tên thức ăn thường đi với x: (VD: xôi , xúc , xích, xà lách,cải xoong,…)
- Danh từ viết với s.VD:
+ Chỉ người : sứ giả, bà sãi, ông sư,…
+ Chỉ cây : cây si, cây sắn , cây sung,…
Qua một số bài tập trên, HS có thể rút ra một số nhận xét:
- Những từ viết là r thường :
+ Mô phỏng tiếng động ( VD: rào rào, rả rích, rầm rầm, …).
+ Mô phỏng sự rung động ( VD: rưng rức, run rẩy,…)
+ Mô phỏng sắc thái ánh sáng ( VD: rực rỡ , rừng rực,…)
- Ghi nhớ một số từ láy âm đầu:
VD : Láy gi : giặc giã, giữ gìn,…
Láy d : dạt dào, dai dẳng….
d) Khắc phục lỗi k – c – q
Bài tập : Điền k, c hoặc q vào chỗ trống cho thích hợp:
con …uốc
cái …a
ngoài …ia
bó …ủi
tổ …uốc
thước …ẻ
Qua dạng bài tập trên, rút ra kết luận:
-Viết là k khi đứng trước i, e, ê (VD : con kiến, thước kẻ, học kém,…)
-Viết là q trong trường hợp đứng trước âm đệm u: (VD: quân, quần, quốc,…)
-Viết là c trong trường hợp còn lại (VD: cái ca, con cá, bó củi,…)
e) Khắc phục lỗi gh – g
Bài tập : Điền gh hoặc g vào chỗ trống:
….ế ….ỗ
…é thăm
…..i chép
nhà …a
*Kết luận:
+ Viết gh khi đứng trước i, ê, e (VD : ghi chép, ghế,…)
+ Viết g trong các trường hợp còn lại ( VD: ngô, ngoan ngoãn…)
Ngoài việc luyện theo hệ thống các bài tập trên , tôi thường linh hoạt hướng
- Nhận biết cách viết đúng một số từ chứa tiếng bắt đầu bằng d hoặc gi.
- Luyện viết đúng các từ bắt đầu bằng d hoặc gi.
b. Cách chơi
- GV đọc tiếng hoặc từ có phụ âm đầu là d hoặc gi. HS giơ quân bài ghi phụ âm
tương ứng.
Ví dụ :
- GV đọc: hoang dã
- HS giơ quân bài ghi : d
5. Tìm tiếng có từ gần giống nhau:
a. Mục đích:
- Nhận biết cách viết đúng một số từ có vần gần giống nhau nhằm củng cố mở
rộng nội dung các bài chính tả có vần gần giống nhau.
- Luyện viết đúng, nhanh các từ có vần gần giống nhau.
b. Cách chơi:
- HS sử dụng bảng phụ ghi các từ có vần gần giống nhau, sau đó dán lên bảng.
( uc/ut; ưc/ưt ; iêc/iêt; ươc/ươt…)
6. Câu cá – viết chữ:
a. Mục đích:
- Luyện phản xạ nhanh trong suy nghĩ và học tập để ghi nhớ kiến thức chính tả.
b. Cách chơi:
Mỗi con cá mang nội dung yêu cầu chính. HS câu được con cá nào thì giải
đáp yêu cầu đó.
11
Ví dụ:
- Tìm và viết lại 1 từ có vần ai
- Tìm và viết lại 1 từ có vần ay ...
- Những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình thì viết là ch: cha, chú, cháu,
chồng, chắt,..
- Những từ chỉ đồ vật trong gia đình thì viết là ch chứ không viết là tr: chai,
chum, chén, chổi, chão, … (ngoại trừ cái tráp , đồ vật này giờ ít dùng)
* Mẹo nhóm nghĩa s –x:
- Tên thức ăn và đồ dùng nấu ăn viết là x: xôi, xa lát, xúc xích, xì dầu,…
- Các động từ, tính từ thường viết là: xách, xẻ, xào, xúc,….
- Hầu hết các danh từ còn lại đều viết là s:
+ Chỉ người: sứ giả, đại sứ, sư sãi, giáo sư, gia sư,…
+ Chỉ cây cối: sen, sung, sắn, si, sim,…
+ Chỉ đồ vật: sọt, sợi dây,…
+ Chỉ sự vật, hiện tượng: sao, sương, sông, sấm, sét, …
Có một số trường hợp ngoại lệ là dnh từ nhưng lại viết là x: xe, xuồng, xoài, túi
xách, xương, xô, xẻng, xưởng, mùa xuân,… Học sinh có thể ghi nhớ các trường
hợp ngoại lệ trên bằng cách học thuộc câu văn sau: Mùa xuân, bà xơ đi xuồng
gỗ xoan, mang một xe xoài đến xã đổi xẻng ở xưởng, đem về trạm xá cho bệnh
nhân đau xương.
* Mẹo viết d, r, gi
- Trong những từ láu đôi, nếu tiếng có phụ âm đầu l thì tiếng thứ hai có phụ âm
đầu là d, chứ không thể là gi hay r: lò dò, lắc dắc…
- Đối với các trường hợp khác, muốn xác định cách viết đúng thì phải dựa vào
sự đối lập về nghĩa:
+ gia ( tăng them): gia hạn, gia vị, gia tăng, tham gia,…
+ gia ( nhà): gia đình, gia tài, gia sản, gia sư, gia trưởng, quản gia,…
+ da ( lớp vỏ bên ngoài): da thịt, da dẻ, da trời,…
+ ra( sự di chuyển): ra vào, ra ngoài, ra chơi,…
Nhờ có bảng tổng hợp các qui tắc và luật chính tả này mà học sinh lớp tôi trở
nên sôi nổi học tập, em nào cũng thuộc những câu thơ về mẹo luật chính tả, lỗi
chính tả đã giảm đi đáng kể. Bên cạnh đó tôi còn hướng dẫn học sinh cần chú ý
tuần bình bầu ba bạn viết chữ đẹp nhất và ba bạn viết chữ tiến bộ nhất.
Việc nhận xét, đánh giá về chữ viết của học sinh không chỉ đặt ra trong giờ
chính tả mà còn đặt ra ở tất cả các môn học. Bất kể chấm bài môn gì, giáo viên
cũng nên xem chữ viết là một yêu cầu không thể thiếu được. Làm như vậy có tác
dụng khuyến khích các em, tạo ra ý thức thường xuyên luyện tập, rèn luyện ở tất
cả các môn học, ở mọi lúc, mọi nơi, ở trường cũng như ở nhà.
Khi đánh giá bài chính tả của học sinh phải kết hợp hai yêu cầu đó là:
+ Nhận xét về lỗi chính tả.
+ Nhận xét về chữ viết và trình bày.
Bên cạnh việc nhận xét, giáo viên chú ý động viên ghi nhận kịp thời
những em có tiến bộ ( dù nhỏ), có lời phê ngắn gọn thể hiện sự biểu dương hay
góp ý yêu cầu về chữ viết, chữ nào sai, giáo viên gạch chân và viết mẫu chữ đó
bên cạnh để học sinh so sánh đối chiếu, tự rút ra chỗ chưa được khắc phục, rút
kinh nghiệm. Nhưng với học sinh viết chữ đẹp cần nghiêm khắc với lỗi dù là
nhỏ để các em không có thái độ chủ quan.
Với những em chữ xấu chậm tiến bộ tôi gặp gỡ phụ huynh tìm hiểu
nguyên nhân kết hợp cùng gia đình động viên khuyến khích thường xuyên nhắc
nhở các em luyện viết thêm ở nhà ( luyện viết nét hay viết sai).
Cứ hai tháng tôi lại tổ chức cuộc thi viết chữ đẹp một lần và em nào đạt
giải tôi thưởng cho các em một cái bút hoặc quyển vở, để động viên khuyến
khích các em thi đua nhau viết chữ đẹp. Tuy phần thường rất ít ỏi song đối với
lứa tuổi các em rất thích khen nên đó là nguồn cổ động viên lớn để kích động
phong trào thi đua trong lớp làm cho chất lượng chữ viết của học sinh được tăng
lên rõ rệt.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Bằng những biện pháp trên, lớp tôi chủ nhiệm đến nay so với đầu năm đã đạt
được một số hiệu quả nhất định. Một số em viết chữ xấu, vở bẩn đã tiến bộ rõ
rệt. Còn những học sinh đã đạt Vở sạch – Chữ đẹp thì các em luôn luôn phát huy
trong các môn học hàng ngày một cách rất tích cực. Sau đây là kết quả của học
sinh lớp tôi đã đạt được:
cao 1 ly, 1 ly rưỡi, 2 ly, …
- Chữ viết không quá to hoặc quá nhỏ, độ rộng không bị chườm ly.
- Vị trí đặt bút và kết thúc con chữ đã đúng quy định.
- Viết các chữ có dấu thanh: quy trình viết liền mạch bằng cách lia bút theo
chiều từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, đánh dấu nguyên âm trước, dấu thanh
sau. Viết dấu thanh vừa phải, không quá dài, quá nhỏ hoặc quá cao …
- Hình thức trình bày bài viết đã được thống nhất đồng bộ cả lớp.
* Việc giữ vở của học sinh:
- Vở được bọc bìa, dán nhãn cẩn thận, không quăn góc vở.
- Giữ vở sạch sẽ, không bôi bẩn
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Từ những việc tôi đã làm như đã trình bày nhằm nâng cao chất lượng vở
sạch chữ đẹp cho học sinh lớp 5. Tôi nhận thấy rằng mình hết lòng vì học sinh
thì học sinh sẽ không phụ lòng mong mỏi của mình.
Là giáo viên phải có tâm huyết với nghề mình đã chọn, có ý thức vươn lên
làm tốt công việc của mình, yêu nghề, mến trẻ, tích cực học hỏi kinh nghiệm của
đồng nghiệp, luôn kiên trì bền bỉ trong công việc.
3.2. Kiến nghị
* Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo:
- Tổ chức giới thiệu và triển lãm các bài viết chữ đẹp của cán bộ, giáo viên và
học sinh vào những thời điểm thích hợp…
* Đối với Ban giám hiệu nhà trường:
- Cần khuyến khích động viên bằng nhiều hình thức để thúc đẩy phong trào viết
chữ đẹp trong toàn trường.
- Trang bị bàn ghế hợp lý hợp với tầm vóc của các em, bảng lớp có dòng kẻ rõ
ràng, không bị bóng, mọi vị trí có thể quan sát được dễ dàng.
- Có phần thưởng thích đáng cho những lớp có nề nếp chât lượng vở sạch chữ
đẹp tốt nhất.
* Gia đình:
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Trần Minh Hưởng- Phan Quang Thân- Nguyễn Hữu Cao.
Dạy và học TậpViết ở Tiểu học. Nhà xuất bản Giáo dục. 144 trang.
2. Sách Giáo khoa tiếng Việt lớp 5.
3. Vở tập viết, thực hành luyện viết lớp1, 2,3, 4,5.
17
DANH MỤC
CÁC ĐÈ TÀI KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ
XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD & ĐT VÀ CÁC CẤP CAO
HƠN XÉP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hoan
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên, trường Tiểu học Đông Hải 1 - TP Thanh Hóa
Cấp đánh giá
xếp
loại( Phòng,
Sở, Tỉnh,…)
Kết quả
đánh giá
xếp loại
( A, B,
hoặc C)
1998 -1999
3
Một số biện pháp nâng cao
chất lượng môn Tập làm văn
cho học sinh lớp 4,5
Huyện
A
2001 -2002
4
Một số kinh nghiệm hướng
dẫn học sinh lớp 4 làm việc
với bản đồ
Huyện
B
2014 -2015