Một số kinh nghiệm về tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp theo hướng giáo dục giữ gìn bản xắc văn hóa dân tộc và giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh trường THCS - Pdf 57

TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

MỤC LỤC
Nội dung
I. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. Nội dung
1. Cơ sở lí luận của SKKN
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
3. Các giải pháp giải quyết vấn đề
4. Hiệu quả của SKKN
III. Kết luận, kiến nghị
1. Kết luận
2. Kiến nghị


đối với văn hóa các dân tộc thiểu số.
Trên thực tế mỗi cá nhân đều thuộc về một dân tộc nào đó và mỗi dân tộc
đều có truyền thống vẻ vang, nền văn hóa mang bản sắc riêng của mình và nền văn
hóa này bình đẳng với các nền văn hóa của các dân tộc khác. Nó chứa đựng tinh
hoa về tinh thần và vật chất của dân tộc, được giữ gìn và phát huy qua nhiều thế hệ
bằng cả tinh thần, vật chất, thậm chí cả xương máu và là thiêng liêng đối với mỗi
dân tộc. Nó hết sức đa dạng và phong phú, từ lời ăn, tiếng nói, tập quán, phong tục
cho đến nếp sống, sinh hoạt, tín ngưỡng…qua đó toát lên bản sắc riêng của mỗi dân
tộc, mỗi cộng đồng người. Nếu để mất bản sắc tức là đánh mất chính mình và đó là
tổn thất to lớn đối với không chỉ các dân tộc thiểu số mà còn là đối với quốc gia,
đối với dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, song song với vấn đề
bảo vệ, phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc là là các yêu
cầu về giá trị sống, kĩ năng sống cho mỗi người đặt ra hết quan trọng. Trong chiến
lược xây dựng đất nước Đảng ta xác định rõ theo hướng “công nghiệp hóa- hiện
đại hóa” [1], tiến lên CNXH với nền văn hóa “ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc”[2]. Vì vậy việc giáo dục văn hóa truyền thống cùng với giá trị sống, kĩ năng
sống cho hế hệ tương lai của đất nước ngay trong các nhà trường phổ thông nói
chung, trường THCS nói riêng là hết sức cần thiết song song với hoạt động dạy học
các môn văn hóa theo chương trình. Đối với trường THCS Dân tộc Nội trú nói
chung, trường THCS Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc nói riêng, với đặc thù là trường
chuyên biệt, đối tượng học sinh đều là người dân tộc thiểu số cư trú tại các vùng,
Ghi chú: [1] Nghị quyết TW3, khóa VIII; [2] Nghị quyết TW5, khóa VIII.
2


khu vực có điều kiện kinh tế xã hội chưa phát triển, nhận thức và sự tự tin hòa nhập
với môi trường mới còn nhiều hạn chế thì việc giáo dục văn hóa truyền thống và
giá trị sống, kĩ năng sống càng cần thiết hơn hết và đòi hỏi được thực hiện một cách
khoa học, đồng bộ để mang laị hiệu quả cao, đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ của nhà

dục và Đào tạo.
3


yếu tố đặc thù của loại hình trường chuyên biệt DTNT. Thông qua đó giáo dục học
sinh hiểu biết, trân trọng và tự hào các giá trị văn hóa tốt đẹp; gạt bỏ các yếu tố lạc
hậu, tiêu cực trong văn hóa truyền thống các dân tộc. Đồng thời thông qua đó giáo
dục giá trị sống, kĩ năng sống phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số trong
nhà trường.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Phương pháp, kinh nghiệm tổ chức, quản lí các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở
trường THCS Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc nhằm thực hiện giáo dục giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa truyền thống đồng thời giáo dục giá trị sống, rèn kĩ năng sống cho
học sinh nhà trường.
4. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài này sử dụng các phương pháp:
-Nghiên cứu tài liệu xây dựng cơ sở lí thuyết
-Điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin
-Thống kê, xử lí số liệu điều tra
- Thực nghiệm đánh giá hiệu quả trong giai đoạn ngắn.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Có thể khẳng định Đảng và nhà nước ta rất chú ý đến vấn đề giữ gìn, phát
huy bản sắc dân tộc, tôn trọng bản sắc văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, mỗi cộng
đồng người. Tại Nghị quyết trung ương 5 khóa VIII (1998) đã nêu rõ “ xây dựng,
phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [4]. Để thực hiện
được điều đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân cùng chung tay, góp sức trong đó các
trường học có vai trò quan trọng trong giáo dục, tuyên truyền và định hướng văn
hóa cho thế hệ trẻ.
Đối với nghành Giáo dục- Đào tạo, chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT của Bộ
trưởng Bộ GDĐT “ Về phát động phong trào thi đua xây dựng Trường học thân

tộc khác). Do vậy tập quá sinh hoạt, lối sống, đặc điểm tâm sinh lí của các em rất
đa dạng và phức tạp. Các em học tập, ăn ở, sinh hoạt tập trung tại trường, sống tập
thể xa gia đình nên khá khó khăn trong việc hòa nhập, chấp hành nội quy, kỉ luật
của nhà trường.
Qua quá trình làm công tác quản lí trường DTNT tôi nhận thấy rằng hầu hết
học sinh người dân tộc thiểu số đều nhút nhát, e dè, ngại giao tiếp với người khác,
kể cả với thầy cô giáo. Vì vậy trong quá trình học tập các em cũng chưa thực sự
chủ động, linh hoạt; ngay cả khi chưa hiểu bài các em cũng ngại hỏi thầy cô hay
bạn bè, vì vậy hiệu quả học tập chưa cao.Với đặc điểm sống tập thể xa nhà, ăn ở tại
trường nên sau các giờ học chính khóa trên lớp các em còn có một lượng thời gian
chuyển tiếp giữa các buổi học khá nhiều. Vì vậy nếu không tổ chức các hoạt động
ngoài giờ có chủ đích theo kế hoach nhà trường thì sẽ dẫn đến tình trạng lộn xộn,
mất kỉ luật và dễ nảy sinh các vấn đề phức tạp ảnh hưởng đến học tập, rèn luyện và
nền nếp nhà trường. Vì vậy các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường DTNT không
đơn thuần chỉ là bộ môn HĐNGLL mà còn là toàn bộ các hoạt động của các em, kể
cả sinh hoạt cá nhân, vui chơi, hoạt động thể thao, tự học… sau các giờ lên lớp.
5


Thông qua tìm hiểu, khảo sát hầu hết các em đều thiếu hiểu biết về dân tộc
mình, đặc biệt là không nắm được các giá trị truyền thống của dân tộc, thậm chí
không phân biệt được đâu là văn hóa dân tộc mình, đâu là của dân tộc Kinh và dân
tộc khác. Bên cạnh đó các em còn ít và yếu các kĩ năng sống, chưa hiểu về các giá
trị sống để hướng tới nên trong học tập, sinh hoạt ảnh hưởng nhiều từ phong tục,
tập quá nơi các em sinh sống. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây khó
khăn cho việc nâng cao chất lượng dạy học ở trường.
Mặt khác, hầu hết các em có tâm lí tự ti khi giao tiếp, mặc cảm, dễ tự ái, ít sử
dụng ngôn ngữ dân tộc mình trong sinh hoạt, thậm chí có nhiều em ngại tiết lộ dân
tộc mình khi ra môi trường bên ngoài. Điều này dẫn đến nguy cơ mất bản sắc dân
tộc, phai nhạt văn hóa truyền thống và từ đó sẽ dẫn tới sự thờ ơ, vô cảm trong cuộc

trường THCS Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc thì Thời gian biểu là một lịch làm việc,
hoạt động khép kín, nối tiếp nhau một cách khoa học; vừa đảm bảo cho hoạt động
dạy học, rèn luyện hiệu quả; vừa đảm bào cho hoạt động quản lí, theo dõi của cán
bộ quản lí nhà trường thuận tiện. Mặt khác mọi hoạt động của học sinh đều được tổ
chức và vận hành bài bản, tránh chồng chéo hay quá tải đồng thời đặt học sinh vào
sự giám sát chặt chẽ của nhà trường.

Ảnh 1: Thời gian biểu trường THCS Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc
3.2. Xây dựng Nội quy phù hợp và mang tính đặc thù, chuyên biệt và
thực hiện Nội quy nghiêm túc, kiểm tra thực hiện thường xuyên:
Với đặc điểm là trường chuyên biệt vì vậy nội quy của nhà trường ngoài
những quy định chung như các trường phổ thông còn được xây dựng phù hợp với
đặc điểm học sinh dân tộc thiểu số. Đặc biệt Nội quy nội trú phải được soạn thảo cụ
thể, quy định chi tiết và dễ hiểu, dễ thực hiện đối với học sinh. Thông qua thực hiện
7


Nội quy sẽ giúp các em bước đầu hình thành cá kĩ năng sống, thực hiện các giá trị
sống và tạo thành nền nếp, thói quen làm cơ sở cho các hoạt động khác. Trong nội
quy nêu cụ thể quy từ ngôn ngữ (trong giờ học và các buổi hoạt động, sinh hoạt
chung thì dùng tiếng Việt; trong sinh hoạt hằng ngày khuyến khích sử dụng tiếng
dân tộc), đi đứng, ăn mặc (đồng phục, sắc phục dân tộc), xưng hô, xử lí các tình
huống thường gặp, mối quan hệ với các cá nhân khác …
Thường xuyên từng buổi Đoàn - Đội và bộ phận quản lí Nội trú kiểm tra việc
thực hiện Nội quy của các em, nhắc nhở, chấn chỉnh những trường hợp thực hiện
chưa tốt, tuyên dương kịp thời những việc làm tốt, đề xuất kỉ luật đối với các vi
phạm nặng nếu cần thiết.
Nhà trường chỉ đạo Ban thi đua xây dựng các tiêu chí thi đua phù hợp và dễ
thực hiện, tạo động lực thực hiện Nội quy, nền nếp cho học sinh (VD: Cộng điểm
thi đua cho các hành động, việc làm tốt, trừ điểm thi đua các vi phạm nội quy, các

các nội dung này, làm “mềm hóa”, tăng tính hấp dẫn, khơi gợi tìm tòi, sưu tầm, tìm
hiểu cũng như kích thích khả năng tư duy của các em. Mặt khác hoạt động này giúp
lấp đầy khoảng trống thồ gian nhàn rỗi chuyển tiếp giữa các hoạt động, giúp việc
quản lí nền nếp hiệu quả hơn. Mặt khác, thông qua tình huống ý thức các em năng
lên rõ rệt và đặc biệt là sự thấm nhuần các giá trị đạo đức, kinh nghiệm sống, kĩ
năng sống, giá trị sống từ các tình huống mang lại.
Ví dụ một số tình huống:
VD 1: Tình huống tuần 31, năm học 2012-2013: Em hãy dịch ra tiếng Việt
và cho lời bình (khoảng 100 từ) cho câu tục ngữ Mường sau đây: “ Pời phố tứng
pời nắng, vằng phố tứng vằng tâu, tể ngáy mai khâu cón xương trở lái”.
Giải đáp: - Dịch “ Chửi nhau đừng chửi nặng, mắng nhau đừng mắng đau,
để ngày mai sau còn thương nhau trở lại”.
- Học sinh bình: “…Câu tục ngữ là kinh nghiệm ứng xử trong đời
sống của người dân tộc Mường. Con người ai cũng có lúc mắc phải sai lầm hoặc
nóng giận, không kiểm soát được hành vi và ngôn ngữ thể khiến người khác bị tổn
thương lòng tự trọng. Vết thương đó sẽ làm rạn nứt tình cảm con người, đó là sợi
dây vô hình nối những sự ích kỉ lại với nhau, cái tôi con người được lúc trỗi dậy sẽ
gây ra xung đột. Sau mỗi lời nói nặng nề sẽ là một tấm lòng tự trọng bị tổn
thương. Vì thế chỉ cần chỉ ra lỗi lầm của người khác để họ sửa chữa, không nhất
thiết phải dùng lời nói “bới thật nặng, mắng thật đau”…”
- Bài học, kĩ năng sống rút ra: Kiểm soát cảm xúc bản thân.[7]
VD 2: Tình huống tuần 23, năm học 2013-2014: “Chuột Đen và chuột
Nâu cùng cố trèo vào một chĩnh gạo đầy. Chuột Nâu khỏe hơn nên trèo vào được
còn chuột Đen yếu hơn đành cam phận kiếm ăn bên ngoài. Một thời gian sau
chuột Nâu chết trong chĩnh gạo. Chuột Đen không hiểu tại sao chuột Nâu lại chết.
Lớp em có hiểu lí do chuột Nâu chết thì nói cho chuột đen biết với nhé”.
- Học sinh giải đáp: “… Chuột Nâu do tham lam đã chui vào chĩnh gạo đầy
hưởng thụ một mình. Càng ăn gạo càng ít đi. Khi gạo hết cũng là lúc chuột Nâu
xuống đến đáy chĩnh và nó không thể ra ngoài. Lâu ngày chuột chết vì đói khát
Ghi chú: [7]: Tư liệu GDKNS trường THCS Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc

tổ chức hội thi Khéo tay bạn gái (Thi nấu các món ăn đặc trưng của các dân tộc);
dịp Trung thu tổ chức thi đèn ông sao các em tự làm; dịp Tết cổ truyền tổ chức
Hội thi gói bánh chưng; dịp 22/12 thi học tập nền nếp, tác phong anh bộ đội cụ Hồ
(Thi phòng ở sạch đẹp, gọn gàng; thi gấp chăn màn, thi nghi thức Đội…); dịp 26/3
tổ chức thi các trò chơi dân gian (như bắn nỏ, ném còn…)
- Thông qua các hoạt động cụ thể, các em vừa có những hiểu biết cụ thể, sâu
sắc về văn hóa truyền thống, vừa được trải nghiệm bằng những hoạt động bổ ích, ý
Ghi chú: [8] Tư liệu GDKNS trường THCS Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc
10


nghĩa. Cũng thông qua các hoạt động này giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống đạt
hiệu quả cao bởi được thẩm thấu qua chính hoạt động của các em. Có thể thấy rất
rõ thông qua các hoạt động các em thể hiện rõ các kĩ năng như: Đoàn kết; hợp tác;
trung thực..;. nhiều kĩ năng sống được rèn dũa như: Kiên cường; giải quyết vấn đề
và ra quyết định; thương lượng, giải quyết xung đột; thiết lập và thực hiện mục
tiêu…
Đặc biệt, sau khi trải qua những hoạt động này sự tự tin, chủ động của các
em tăng lên rõ rệt. Thông qua đó từng bước giúp các em hoàn thiện kĩ năng tự nhận
thức giá trị bản thân, bỏ qua tự ti, ngại ngùng để chủ động, tích cực trong các hoạt
động nhận thức, học tập và giao tiếp.

Ảnh 2: Phục dựng (một phần)Tết cổ truyền dân tộc Mường
11


Ảnh 3: Trải nghiệm gói bánh chưng cổ truyền.

Ảnh 4: Luyện tập nghi thức Đội.
12

cao trong giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình; biết phân biệt
đâu là nét đẹp cần gìn giữ, phát huy, đâu là lạc hậu, tiêu cực cần gạt bỏ trong văn
hóa dân tộc mình. Đồng thời thông qua đó giúp các em hiểu rõ hơn các giá trị sống
mà nhân loại ngày nay đang hướng tới, rèn dũa những kĩ năng sống cần thiết cho
các em để sau này có thể hội nhập với xã hội, tạo dựng cuộc sống tốt đẹp.
Thông qua khảo sát 236 em học sinh nhà trường tại thời điểm hiện tại
(Tháng 12/2016) thu được kết quả như sau:
+ Đối với giáo dục giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc:
Tiêu
chí

SL
%

Sử dụng thành thạo Nắm được các phong Phân biệt được nét đẹp
ngôn ngữ dân tộc mình
tục, tập quán tiêu truyền thống và tiêu
biểu của dân tộc mình cực, lạc hậu trong văn
hóa dân tộc

236
100

233/236
98,7

220/236
93,2
14


pháp nêu trên đem lại hiệu quả cao trong giáo dục văn hóa và giá trị sống, kĩ năng
sống; góp phần nâng cao chất lượng học tập và giáo dục đạo đức cho học sinh,
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và ổn định nền nếp của nhà trường. Đề tài
này không chỉ áp dụng đối với trường THCS Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc mà còn có
thể áp dụng cho hệ thống các trường THCS Dân tộc Nội trú cũng như các trường
THCS ở các vùng dân tộc thiểu số khác.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận: Sau khi nghiên cứu và áp dụng đề tài này bản thân tôi nhận thấy
- Nâng cao hiểu biết của bản thân cũng như của đội ngũ nhà giáo trong
trường về vai trò và tầm quan trọng của giáo dục giữ gìn bản sắc văn hóa, giá trị
sống, kĩ năng sống cho học sinh. Từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cán
bộ, giáo viên về hoạt động giáo dục này trong nhà trường.
- Hiệu quả của hoạt động giáo dục nêu trong đề tài nâng cao rõ rệt. Giúp các
em học sinh tự tin, tự hào về dân tộc mình, biết bảo vệ, phát huy các giá trị tốt đẹp
của bản sắc truyền thống. Đồng thời giúp các em có những kĩ năng sống cần thiết
và vươn tới các giá trị sống cao đẹp của nhân loại.
- Việc thực hiện đề tài một cách đồng bộ sẽ có tác dụng thúc đẩy tinh thần
học tập, tạo động lực phấn đấu để các em học sinh chủ động, tích cực trong quá
trình nhận thức, học tập và tư duy. Qua đó nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục
của nhà trường.
2. Kiến nghị:
- Đối với BGH nhà trường: Cần bám sát đề tài để xây dựng kế hoạch chỉ đạo
sát với yêu cầu và đặc thù nhà trường. Thường xuyên trao đổi, góp ý, rút kinh
nghiệm trong quá trình thực hiện. Hiệu trưởng nhà trường bố trí nguồn kinh phí
phù hợp để thực hiện các hoạt động đạt yêu cầu.
- Đối với giáo viên thực hiện các hoạt động: Thường xuyên nghiên cứu tài
liệu để nâng cao hiểu biết về giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống cho học sinh
15



2. Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GDĐT “ Về phát động phong
trào thi đua xây dựng Trường học thân thiện – Học sinh tích cực”
3. Thông tư số 01/2016/TT-BGDĐT ngày 15/01/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo về Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTNT.
4.Sổ tay Hiệu trưởng trường PTDTNT- Đỗ Ngọc Bích(Chủ biên)- NXB Giáo dục
1998.
5. Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số - Vụ giáo
dục dân tộc (Tài liệu lưu hành nội bộ).
6. Một số tư liệu về hoạt động giáo dục GTS- KNS của nhà trường và đồng nghiệp.
KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
1. THCS - Trung học cơ sở
2. DTNT- Dân tộc nội trú
3. SKKN- Sáng kiến kinh nghiệm
4. CNXH- Chủ nghĩa xã hội
5. VD Ví dụ
6. PTDTNT- Phổ thông dân tộc nội trú
7. HĐNGLL- Hoạt động ngoài giờ lên lớp

17


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Văn Cương
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng; Trường THCS Dân tộc Nội trú Ngọc
Lặc
TT
Tên đề tài SKKN

chức các hoạt động ngoài
giờ lên lớp theo hướng
giáo dục giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc và giá trị
sống, kĩ năng sống cho
học sinh ở trường THCS
Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status