SKKN một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ dạy môn địa lý nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học nga lĩnh - Pdf 57

TT
I
1
2
3
4
II
1
2

MỤC LỤC
Mở đầu
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng việc dạy học Địa Lý lớp 4 ở trường tiểu học Nga

TRANG
1
1
2
2
2
2
2
3

3

3.5
3.6

và nắm vững mối quan hệ của chúng .
Biện pháp 5: Sử dụng ca dao, tục ngữ trong giờ học Địa lý .
Biện pháp 6: Tổ chức hoạt động trò chơi học tập trong tiết

12
13

4
III

học Địa lý.
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kết luận

19
19


I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, mục tiêu và yêu cầu về nội dung,
phương pháp giáo dục được chỉ rõ trong điều 2, Luật Giáo dục năm 2005: “Mục
tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và
năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc” [1].

Xuất phát từ thực tế và yêu cầu cần thiết của xã hội hiện nay, là giáo viên
đang trực tiếp giảng dạy lớp 4, tôi muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
trong nhà trường, tìm lại sự yêu thích môn học, đáp ứng được mục của tiêu Giáo
dục & Đào tạo bản thân tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp
nâng cao chất lượng giờ dạy môn Địa lý nhằm gây hứng thú học tập cho học
2


sinh lớp 4 ở Trường Tiểu học Nga Lĩnh” với mong muốn mỗi tiết học địa lý
đều vui vẻ, thoải mái và có chất lượng.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nâng
cao chất lượng giờ học Địa lý lớp 4 nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh .
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Lý luận về dạy học phân môn địa lý.
- Thực tiễn áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng giờ học nói chung
và dạy học phân môn Địa lý nói riêng ở trường Tiểu học Nga Lĩnh.
- Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Nga Lĩnh – Nga Sơn.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành các phương pháp sau :
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và nghiên cứu một số tài liệu về
phương pháp dạy học phân môn Địa Lý.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn Khảo sát bằng bài kiểm tra và thông
qua các tiết học Địa Lý.
- Phương pháp thống kê: Thống kê, phân loại học sinh theo mức đạt được.
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp: Phân tích lý luận và thực
tiễn ứng dụng các biện pháp nâng cao chất lượng giờ học Địa Lý.
- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm một số biện pháp nâng cao
chất lượng giờ học Địa Lý để đúc rút kinh nghiệm.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

chiếu, máy in. Có đủ các loại bản đồ và các dụng cụ thực hành cần thiết trong
các tiết học, các tài liệu tham khảo về địa lý Việt Nam và thế giới.
2. Thực trạng việc dạy học Địa Lý lớp 4 ở Trường tiểu học Nga Lĩnh.
* Về phía giáo viên:
- Hầu hết các giáo viên đều có ý thức trong đổi mới phương pháp dạy học
nói chung và môn Địa lý nói riêng để phát huy được tính chủ động tích cực,
sáng tạo của học sinh làm cho tiết học địa lý nhẹ nhàng nhưng hiệu quả. Song
vẫn còn một số giáo viên vẫn chưa coi trọng phân môn địa lý. Chưa chịu khó
tìm tòi những phương pháp dạy hay, những hình thức tổ chức phong phú phù
hợp với nội dung trong từng tiết học. Do đó tiết học Địa lý còn khô cứng, buồn
tẻ dẫn đến chất lượng thấp.
- Khả năng dạy phân hoá đối tượng, tạo hứng thú cho học sinh của một số
giáo viên còn hạn chế. Việc đầu tư cho đồ dùng dạy học như tranh ảnh của các
giáo viên còn ít.
* Về phía học sinh
- Học sinh là con em nông thôn, nhiều học sinh có cuộc sống khó khăn, cha
mẹ đi làm ăn xa nên học sinh thiếu sự định hướng, kèm cặp.
- Học sinh còn quen với cách học đơn giản theo sách giáo khoa, khả năng tư
duy, suy luận để hình thành biểu tượng, khái niệm chưa nhiều nên chưa có được
thói quen suy nghĩ, động não một cách có hệ thống.
- Học sinh và phụ huynh còn coi nhẹ môn học Địa lí cho đây là môn phụ nên
chưa quan tâm, đầu tư cho môn học.
Qua khảo sát chất lượng học sinh môn địa lý vào thời điểm tháng 9/2017
của học sinh lớp 4A, có kết quả như sau:
Sĩ số
Học sinh
27 em

Điểm 10 – 9
SL

nguyên nhân sau:
Một là: Giáo viên chưa đầu tư nghiên cứu nội dung chương trình, chưa hệ
thống kiến thức môn Địa lý lớp 4. Khi dạy trên lớp còn dạy tràn lan theo từng
bài, chưa có sự lô gich từ mạch kiến thức cũ sang mạch kiến thức mới.
Hai là: Giáo viên mới chỉ tổ chức cho học sinh thực hiện các câu hỏi, các bài
tập trong sách giáo khoa một cách đơn thuần theo hình thức hỏi đáp, chưa phát
4


triển chúng thành nhiều các hình thức tổ chức dạy học phong ohus như tổ chức
trò chơi, ca dao, tục ngữ…, để phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.
Ba là: Chưa khai thác triệt để tranh ảnh và các bảng số liệu. Đặc biệt, chưa
chú trọng đến việc sưu tầm tranh ảnh, băng hình để khắc sâu kiến thức cho học
sinh.
Bốn là: Tổ chức tiết học còn nặng nề, chưa linh hoạt trong quá trình tổ chức
nên chưa có tác dụng thúc đẩy học sinh trong quá trình hợp tác.
3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Để nâng cao chất lượng tiết học phân môn địa lý lớp 4 góp phần tích cực
trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, tôi xin đề xuất
một số giải pháp sau:
3.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu nội dung, chương trình, xác định mục tiêu bài
học môn Địa lý lớp 4.
Chương trình Địa lý lớp 4 giúp học sinh lĩnh hội được một số tri thức ban
đầu về địa lý Việt Nam, về một số nét tiêu biểu của từng vùng, miền, biển, đảo
và các dãy núi, giúp học sinh hiểu biết về môi trường xung quanh từ đó tạo điều
kiện cho học sinh dễ dàng hoà nhập, thích ứng với cuộc sống xã hội, với môi
trường. Vì thế để thực hiện tốt chương trình Địa lý lớp 4, giáo viên cần phải
nghiên cứu kỹ để hiểu nội dung chương trình, hiểu rõ mục tiêu của từng phần,
từng bài học, từng nội dung kiến thức. Từ đó có các phương án dạy học phù hợp
với từng bài cụ thể.

khắc sâu bài học. Ngoài ra, còn giúp giáo viên dễ dàng thiết kế các hình thức
học tập đa dạng và phong phú như: thao tác trên bản đồ, lược đồ bằng giáo án
điện tử, tổ chức các trò chơi học tập, đưa các câu ca dao tục ngữ vào bài học một
cách hợp lý để khai thác thông tin kiến thức, khắc sâu kiến thức cho học sinh,
rèn luyện kỹ năng hoặc bồi dưỡng nhận thức cho các em.
Vì thế để dạy tốt được phân môn Địa lý lớp 4 giáo viên cần nắm vững nội
dung chương trình, mục tiêu bài học từ đó làm chủ kiến thức trong quá trình dạy
và có những phương pháp và hình thức tổ chức phù hợp tạo được hứng thú cho
học sinh.
3.2. Biện pháp 2: Nâng cao chất lượng giờ học địa lí thông qua hoạt động
thao tác trên bản đồ, lược đồ.
3.2.1. Làm sống động các bản đồ, lược đồ trong SGK bằng giáo án điện tử:
Trong chương trình Địa lý lớp 4 có tất cả 16 bản đồ, lược đồ. Các bản đồ,
lược đồ này đều có màu sắc đẹp, phong phú về chủng loại. Tuy nhiên các bản đồ
và lược đồ đó đều là các tranh tĩnh. Nếu để học sinh khai thác một cách bình
thường trong SGK thì các em đều thấy rất khó và trừu tượng, không cụ thể và
tiếp thu kiến thức không sâu, hời hợt. Đặc biệt không tạo được hứng thú cho học
sinh trong quá trình khai thác kiến thức. Nhưng nếu các bản đồ và lược đồ này
được thiết kế bằng giáo án điện tử, lập các hiệu ứng phù hợp với trình tự tìm
hiểu nội dung kiến thức sẽ trở thành các bản đồ, lược đồ sống động. Điều đó sẽ
tạo được sự hứng thú, hấp dẫn cho học sinh, khi đó học sinh sẽ tiếp thu kiến
thức nhẹ nhàng, tự nhiên và nhớ kiến thức lâu hơn.
Ví dụ 1: Đối với bài 1: Dãy Hoàng Liên Sơn – SGK trang 70.
Khi học sinh thực hiện yêu cầu: Quan sát hình 1: Lược đồ các dãy núi
chính ở Bắc Bộ.
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4: Quan sát lược đồ trên máy chiếu
và lược đồ trong SGK.
+ Kể tên những dãy núi chính ở Bắc Bộ?
+ Chỉ vị trí của dãy Hoàng Liên Sơn trên bản đồ?
+ Chỉ đỉnh núi Phan - xi - păng trên lược đồ và cho biết độ cao của nó.

chốt cho học sinh trên giáo án điện tử sẽ là biện pháp vô cùng hiệu quả. Bởi vì ở
đây hình ảnh sống động, cụ thể hóa. Ngoài ra học sinh được tìm hiểu kiến thức
qua những hình ảnh sống động này không những các em sẽ nhớ rất lâu kiến thức
mà còn nâng cao kỹ năng sử dụng bản đồ, giúp các em tự tin hơn, kích thích
hứng thú học tập cho học sinh và trong lớp ai ai cũng muốn thể hiện khả năng
học tập của mình.
3.2.2. Rèn kỹ năng đọc và chỉ bản đồ, lược đồ.
Trong mỗi tiết học của môn Địa Lý các em đều phải sử dụng bản đồ, lược
đồ. Bản đồ, lược đồ được sử dụng như là nguồi cung cấp kiến thức, là đối tượng
để học sinh chủ động, tự lực khai thác kiến thức Địa Lý. Vì thế học sinh phải
7


biết đọc các kí hiệu trên bản đồ, lược đồ, hiểu được ý nghĩa màu sắc được biểu
thị trên bản đồ, lược đồ, xác định được các yếu tố Địa Lý trên bản đồ.
Để học sinh có kỹ năng đọc và chỉ bản đồ tốt, ngay từ đầu năm học, trong
mỗi tiết học Địa lý có sử dụng bản đồ, sơ đồ, yêu cầu các em nêu ký hiệu trên
bản đồ, lược đồ, nêu ý nghĩa màu sắc được biểu thị trên bản đồ, lược đồ, xác
định hướng của bản đồ. Sau đó mới thực hiện chỉ bản đồ theo nội dung yêu cầu
bài học. Khi thao tác với bản đồ các em cần nắm được:
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bản đồ.
Tức là đọc tên bản đồ, để biết nội dung sử dụng cung cấp kiến thức gì cho bài
học. Bước này không khó, giáo viên cần lưu ý khi tự vẽ thêm bản đồ thì phải có
tên bản đồ (có thể viết trên hoặc viết ở dưới)
Bước 2: Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên bản đồ.
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách đọc bảng chú giải, những kí hiệu ứng
với các thông tin gì .
Ví dụ: Đường đứt khúc chỉ ranh giới giữa các tỉnh, cây dù chỉ bãi biển,
chấm tròn chỉ thành phố …..
Bước 3 : Tìm vị trí Địa lí của đối tượng trên bản đồ.

8


- Bài Người dân ở đồng bằng Nam Bộ, quan sát, nhận xét trang phục của
người dân ở dồng bằng Nam Bộ…
Bước 5 : Xác lập mối quan hệ địa lí đơn giản giữa các yếu tố tự nhiên
Ví dụ: Khi học sinh chỉ được vị trí nước ta, phía Đông giáp biển Đông,
đường bờ biển kéo dài như thế thì sẽ thuận lợi để phát triển ngành nào? (đánh
bắt thủy hải sản). Đó chính là mối quan hệ giữa vị trí địa lí và hoạt động sản
xuất.
Như vậy, nếu chúng ta rèn cho học sinh được kỹ năng đọc và chỉ bản đồ
một cách thành thạo thì các em sẽ rất thích học tiết địa lý. Các tiết học trở nên
nhẹ nhàng không căng thẳng. Dưa trên những thông tin trên bản đồ, lược đồ các
em xác định được chính xác kiến thức cần cung cấp. Với những kiến thức này sẽ
khắc sâu đối với các em.
3.3. Biện pháp 3: Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua khai
thác tranh ảnh, video.
3.3.1. Hình thành khái niện, biểu tượng địa lí thông qua khai thác tranh ảnh có
sẵn trong SGK.
Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí là một trong những mục đích của
việc dạy Địa Lý. Vì thế bước này rất quan trọng. Vậy muốn hình thành biểu
tượng, khái niệm Địa Lý cho học sinh, yêu cầu các em phải nắm được các dấu
hiệu của đối tượng Địa Lý mà các em quan sát được từ thực tế, từ băng hình,
tranh ảnh để các em tìm ra những dấu hiệu, bản chất của đối tượng Địa Lý nhằm
đưa ra khái niệm đúng về đối tượng.
Ví dụ 1: Để hình thành khái niệm Sông ngòi và hệ thống đê ngăn lũ khi
dạy bài Đồng bằng Bắc Bộ
Điều đầu tiên cho học sinh xác định Sông Hồng, Sông Thái Bình và một
số sông khác của đồng Bằng Bắc Bộ trên lược đồ .
Sau đó cho học sinh quan sát hệ thống đồng bằng, đê, mương qua tranh

Quan sát dãy núi Hoàng Liên Sơn qua tranh, nêu các đặc điểm của đỉnh,
sườn, thung lũng, độ cao.

Học sinh tự rút ra kết luận
+ Đỉnh núi nhọn như răng cưa.
+ Sườn rất dốc.
+ Thung lũng hẹp và sâu
+ Dãy núi Hoàng Liên Sơn cao, có đỉnh Phan – xi – păng rất cao.
Từ kết quả trên, yêu cầu học sinh đưa ra khái niệm về dãy núi Hoàng Liên
Sơn: “Dãy núi Hoàng Liên Sơn là dãy núi nằm giữa sông Hồng và sông Đà,
cao, đồ sộ, có nhiều đỉnh nhọn, sườn dốc, thung lũng hẹp, sâu. Đỉnh Phan – xi –
10


păng cao nhất nước ta”.
Như vậy, với biện pháp này giáo viên sẽ giúp học sinh nắm vững các kiến
thức thông qua hệ thống tranh, ảnh trong sách giáo khoa một cách dễ dàng. Các
em khai thác được những kiến thức cần phải lĩnh hội, từ đó giúp các em hình
thành tốt hơn khái niệm, biểu tượng Địa lý của bài học đó.
3.3.2. Củng cố khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua khai thác tranh ảnh, băng
hình sưu tầm.
Nếu hình thành biểu tượng, khái niệm Địa lý cho các em đơn thuần chỉ là
những hình ảnh trong SGK thì kiến thức cung cấp cho học sinh chưa phong phú,
chưa tạo được hứng thú tìm tòi, khám phá cho học sinh. Vì thế khi hình thành
biểu tượng, khái niệm Địa Lý ngoài tìm hiểu nội dung kiến thức tranh ảnh trong
SGK giáo viên cần sưu tầm một số tranh ảnh, những đoạn clip phục vụ cho nội
dung kiến thức mà các em cần tìm hiểu hoặc cần củng cố, làm phong phú thêm
nội dung bài học cũng là cho các em dễ hiểu, dễ tiếp thu bài học.
Ví dụ: Khi dạy bài Một số dân tộc ở Tây Nguyên:
Sau khi học sinh tìm hiểu về trang phục lễ hội xong giáo viên sẽ trình

khí đốt

Sản phẩm:
Cát trắng

Đánh bắt và nuôi
trồng thuỷ sản
Sản phẩm: Cá

Sản phẩm:
Tôm, bào
ngư…

Khi đã hoàn thành sơ đồ trên yêu cầu các nhóm trình bày nội dung kiến
thức vừa học.
Về việc khái thác dầu mỏ và khí đốt, tính tới nay, nước ta đã khai thác
được hơn 100 triệu tấn dầu và hàng tỉ mét khối khí phục vụ cả trong nước và
xuất khẩu. Hiện nay ta đã xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất thuộc tỉnh
Quảng Ngãi. Ngoài dầu khí, nước ta còn khai thác cát trắng để làm nguyên liệu
cho công nghiệp thuỷ tinh ở ven biển Khánh Hoà, Quảng Ninh. Vùng biển nước
ta rất giàu hải sản, có hàng nghìn loài cá, có hàng trăm loài tôm, những loài cá,
loài tôm ngon, nổi tiếng có giá trị như cá chim, cá thu, cá nhụ, tôm hùm, tôm
he…Hoạt động đánh bắt và khai thác hải sản nước ta diễn ra khắp vùng biển kể
từ Bắc vào Nam, nhiều nhất là ở các tỉnh ven biển từ Quảng Ngãi đến Kiên
Giang.
Từ những ý trên, yêu cầu mỗi cá nhân học sinh điền vào sơ đồ để các em
thấy được nguồn hải sản không phải là vô tận, vì thế ta phải có biện pháp bảo vệ
nguồn hải sản của nước ta.
12


như:
+ Bến Tre biển cá sông tôm,
Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng.
+ Bánh tráng Mỹ Lồng,
Bánh phồng Sơn Đốc,
Măng cụt Hàm Luông.

+ Bến Tre nước ngọt lắm dừa,
Ruộng vườn mầu mỡ, biển thừa cá tôm.
Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn,
Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày.

Bà Hiền, Tân Thủy hằng hà cá tôm.
Bắp thì Chợ Giữa, mắm bày ven bãi Giồng Khoai, …
Ví dụ 2: Để dạy bài Đồng Bằng Nam Bộ giáo viên có thể sử dụng một số
câu ca dao, tục ngữ như:
+ Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai,
Hết củi đã có Tân Sài chở vô!
13


Biên Hoà bưởi chẳng đắng the
Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh
Ai qua Phú Hội, phước Thiền (Thành)
Bâng khuâng nhớ mãi sầu riêng Long Thành
Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm
Xoài ngon, mít ngọt, chuối, thơm bạt ngàn
Ví dụ 3: Để dạy bài Thành phố Hà Nội giáo viên có thể sử dụng một số
câu ca dao, tục ngữ như:
*Thứ nhất Hội Gióng, Hội Dâu

Với việc thiết kế một số trò chơi làm thay đổi hình thức hoạt động học
tập, giúp học sinh rèn luyện củng cố tiếp thu tri thức đồng thời phát triển vốn
14


kinh nghiệm mà các em đã được tích luỹ thông qua hoạt động chơi. Sẽ tạo được
hiệu quả cao trong tiết dạy Địa lý.
Trong chương Địa lý lớp 4 với dạng bài nhằm củng cố kiến thức, luyện
tập kĩ năng sau bài hình thành kiến thức mới thì có thể tổ chức một số dạng như
sau:
*Trò chơi 1: "Chọn ô số"
Bài 21: Thành phố Hồ Chí Minh
- Mục đích: Củng cố và mở rộng kiến thức về Thành phố Hồ Chí Minh
Rèn luyện trí nhớ, khả năng quan sát, phát triển kỹ năng trình bày
cho học sinh.
- Thời gian chơi: 5 phút
- Chuẩn bị: 6 bức tranh về Thành phố Hồ Chí Minh có đánh số thứ tự từ 1 – 6
ứng với 6 bức tranh ẩn dưới 6 ô số được chiếu trên màn hình.

1

1

2

3

4

5

tranh mà các em đang được quan sát trên màn hình. Nếu nói đúng thì được 10
điểm, nếu nói sai hoặc chậm thì đội thứ hai được trả lời, nếu đúng thì cũng được
10 điểm. trong cả hai trường hợp trên thì đội thứ hai được quyền chọn ô tiếp
theo.
Trò chơi kết thúc khi tất cả các ô số đều được chọn. Đội nào nhiều điểm hơn
thì đội đó thắng cuộc.
Với trò chơi này giáo viên sẽ củng cố, mở rộng được một số địa danh, các
khu du lịch ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn rèn trí nhớ, khả năng phát
triển tư duy, và tăng khả năng nhạy bén cho học sinh. Kích thích hứng thú học
tập của các em.
Lưu ý: Trò chơi này có thể vận dụng vào các bài nói về thành phố như bài:
Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đà lạt, Thành phố cần Thơ, Thành phố Hà
Nội…
*Trò chơi 2: "Giải mã các ô màu"
Bài 13: Hoạt động sản xuất của người dân đồng bằng Bắc Bộ.
- Mục đích: Biết những việc phải làm trong quá trình sản xuất lúa gạo
Củng cố kiến thức về quy trình sản xuất lúa gạo.
Phát triển tinh thần hợp tác trong công việc.
- Thời gian chơi: 8 phút
16


- Chuẩn bị: 8 bức tranh có đánh số thứ tự từ 1 – 8 ứng với 8 bức tranh ẩn dưới
8 ô màu chiếu trên màn hình.

- Cách chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 đội chơi. Các đội bắt thăm để dành
quyền ưu tiên trước.
Đại diện của đội thứ nhất đứng tại chỗ chọn một màu bất kỳ có trên màn
hình, giáo viên kích vào ô màu học sinh lựa chọn sẽ xuất hiện hình ảnh tương
ứng, sau đó nhóm thảo luận công việc tương ứng thể hiện trong tranh mà các

cho đội mình.
Người trực tiếp chơi của mỗi đội ngồi vào 2 bàn đầu của dãy mình, giáo
viên phát cho mỗi đội một chiếc chuông nhỏ.
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát kĩ lược đồ treo trên bảng. Khi trò
chơi bắt đầu, giáo v iên vừa nói vừa chỉ trên bản đồ : “ Chúng ta đang ở ô số…”,
người chơi của đội nào rung chuông trước sẽ được quyền trả lời. Nếu trả lời
đúng thì được 10 điểm, nếu nếu nói sai hoặc chậm thì đội thứ hai được trả lời,
nếu đúng thì cũng được 10 điểm.
- Khi các ô số ghi trên lược đồ được giải mã hết thì trò chơi kết thúc. Đội nào
nhiều điểm hơn thì đội đó thắng cuộc.
** Các ô số ghi trên bản đồ và đáp án:
1. Quần đảo Hoàng Sa
2. Quần đảo trường Sa
3. Sông Hậu
4. Sông Tiền
18


5 Sông Đà
6. Sông Hồng
7. Thủ đô Hà Nội
8. Thành phố Hải phòng
9. Thành phố Huế
10. Thành phố Hồ Chí Minh
Qua trò chơi này giáo viên giúp học sinh củng cố cách định vị trí một số
đối tượng địa lý đã học trên bản đồ tự nhiên Việt Nam. Rèn kĩ năng nghe, quan
sát và phản xạ nhanh cũng như sự tự tin giao tiếp trước lớp.
*Trò chơi 2: "Hái hoa dân chủ"
Bài 23: Ôn tập
- Mục đích: Củng cố kiến thức về các thành phố lớn ở nước ta.

Câu hỏi 1: Dòng sông nào chảy qua thành phố Huế? (Sông Hương).
Câu hỏi 2: Huế được công nhận là di sản văn hoá thế giới vào năm nào? (1999).
Câu hỏi 3: (Bông hoa may mắn)
Câu hỏi 4: Thành phố Đà Nẵng giáp với những tỉnh nào? ( Thừa thiên Huế và
Quảng Nam).
Câu hỏi 5: Bảo táng Chăm nằm ở thành phố nào? (Đà Nẵng).
Câu hỏi 6: "Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai vô tới đó thì không muốn về".

19


"Gạo trắng nước trong" cho biết Cần Thơ có thế mạnh gì?( nhiều lúa gạo và tôm
cá).
Câu hỏi 7: Thành phố Hồ Chí Minh còn có tên gọi gì khác vào trước năm 1975?
(Sài Gòn, Gia Định).
* Lưu ý: Trò chơi này có thể vận dụng vào tất cả các bài ôn tập hoặc những
bài cần củng cố kiến thức sau mỗi bài học.
Như vậy, việc đưa các trò chơi vào dạy học phân môn Địa lý rất phù hợp
với tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học, vì lứa tuổi này các em rất thích được chơi.
Nên các trò chơi thực sự thu hút và lôi cuốn học sinh tham gia học tập bởi hình
thức trực quan đẹp, nội dung phong phú gây sự tò mò, ham học hỏi đối với học
sinh.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng biện pháp nâng cao chất lượng giờ
học phân môn Địa lý lớp 4 ở Trường tiểu học Nga Lĩnh đã cho thấy kết quả rất
tốt. Đó là ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc giáo dục về phương pháp, về kiến
thức mà còn đảm bảo được tính vừa sức cho học sinh. Các em đã yêu thích,
hứng thú học các tiết Địa Lý. Bên cạnh đó kỹ năng đọc, chỉ bản đồ, phân tích

15

55,6

10

37,0

2

%
7,4

Từ kết quả trên cho thấy hiệu quả học tập môn Địa lí được nâng lên, chất
lượng cao hơn hẳn. Tỉ lệ học sinh đạt điểm 9; 10 cao, không còn học sinh dưới
điểm 5, học sinh ở mức điểm 5; 6 ít. Các em không còn cảm thấy lúng túng,
thiếu tự tin khi gặp những bài tập thực hành. Ngoài ra việc học tập theo cách
trên còn giúp tư duy các em linh hoạt và mạnh dạn tự tin hơn.
III. KẾT LUẬN
Qua thời gian nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng một số biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả giờ dạy môn Địa lý ở lớp 4 đã có những thành công nhất
định. Tôi thấy đây là một việc cần thiết trong quá trình dạy và học của mỗi giáo
viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Qua thực tế dạy học
ở trường, Bản thân rút ra được bài học kinh nghiệm sau:
20


- Trước hết phải khảo sát chất lượng tìm ra những ưu điểm của học sinh
trong lớp để phát huy. Thấy rõ những hạn chế trong việc học tập, lĩnh hội để có
định hướng phụ đạo hợp lí.

Nga Sơn, ngày 10 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết

Lê Thị Thủy

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Giáo dục năm 2005
2. Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục đào tạo và Nghị
quyết Đại hội XII Đảng cộng sản Việt Nam.
3. Một số tài liệu khác có liên quan đến đề tài trên mạng Enternet.
4. Tài liệu dạy học Địa Lý dành cho giáo viên tiểu học
5. Phương pháp giảng dạy Địa Lý nói chung và Phân môn Địa Lý lớp 4 nói
riêng.
6. Sách giáo khoa Địa Lý lớp 4.

22


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN.
Họ tên tác giả: Lê thị Thủy
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Nga Lĩnh

Lịch Sử lớp 5 ở Trường
tiểu học Nga Lĩnh.

23


SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIỜ DẠY MÔN ĐỊA LÝ NHẰM GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP
CHO HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA LĨNH

Người thực hiện: Lê Thị Thủy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Nga Lĩnh
SKKN lĩnh vực (môn): Địa lý

24


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status