Quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại trường tiểu học đông ngạc a, quận bắc từ liêm, thành phố hà nội - Pdf 57

VIN HN LM KHOA HC VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

H TH HNG

QUảN Lý CÔNG TáC CHủ NHIệM LớP TạI TRƯờNG
TIểU HọC ĐÔNG NGạC A, QUậN BắC Từ LIÊM
THàNH PHố Hà NộI

LUN VN THC S QUN Lí GIO DC

H NI - 2019


VIN HN LM KHOA HC VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

H TH HNG

QUảN Lý CÔNG TáC CHủ NHIệM LớP TạI TRƯờNG
TIểU HọC ĐÔNG NGạC A, QUậN BắC Từ LIÊM
THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Qun lý giỏo dc
Mó s: 8.14.01.14

LUN VN THC S QUN Lí GIO DC

NGI HNG DN KHOA HC: TS. TRNG XUN C

H NI - 2019


Tiểu kết chương 2............................................................................................... 57
CHƢƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM
LỚP CỦA GIÁO VIÊN TẠI TRƢỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG NGẠC A,
QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI................................................ 58
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp.............58
3.2. Các biện pháp quản lý cụ thể....................................................................... 60
3.3. Điều kiện thực hiện các biện pháp............................................................... 71
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp................................................................... 74
3.5. Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp phát
triển quản lý công tác chủ nhiệm lớp cho giáo viên trường tiểu học Đông
Ngạc A Thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục...........................75
Tiểu kết chương 3............................................................................................... 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ........................................................................ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................... 81
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
3
2
4
9
6
5
7
8
13
12

học, lớp học. Ở mỗi cấp học, ngành học người giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò
quan trọng trong đó có thể nói GVCN là người quyết định mọi sự phát triển và tiến
bộ của lớp, người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mọi hoạt động của học sinh (HS).
Không những thế, đội ngũ GVCN còn là một lực lượng hỗ trợ đắc lực cho Ban giám
hiệu. Ngoài việc trực tiếp giảng dạy ở lớp chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm trước hết
phải là nhà giáo dục, là người tổ chức hoạt động giáo dục, quan tâm tới từng học
sinh, chăm lo đến việc rèn luyện đạo đức, hành vi, những biến động về tư tưởng,
nhu cầu, nguyện vọng của các em. Đồng thời, người giáo viên chủ nhiệm lớp bằng
chính nhân cách của mình, là tấm gương tác động tích cực đến việc hình thành các
phẩm chất đạo đức, nhân cách của học sinh. Mặt khác, họ còn là cầu nối giữa tập
thể học sinh với các tổ chức – xã hội trong và ngoài trường, là người tổ chức phối
hợp các lực lượng giáo dục. Người giáo viên chủ nhiệm lớp là người đại diện cho
quyền lợi chính đáng của học sinh, bảo vệ học sinh về mọi mặt một cách hợp lý,
phản ánh trung thành mọi nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của học sinh với Ban giám
hiệu nhà trường, với các giáo viên bộ môn, với gia đình học sinh, với cộng đồng và
với các đoàn thể xã hội khác.
Trong công tác quản lý trường tiểu học, quản lý công tác chủ nhiệm có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng, nó chính là yếu tố quyết định tới chất lượng của nhà

1


trường, sự phát triển bền vững của giáo dục tiểu học. Tuy nhiên, công tác quản lý
chủ nhiệm trong trường tiểu học hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, cần nghiên cứu và
có những biện pháp quản lý phù hợp hơn.Trong nhà trường phổ thông nói chung và
Tiểu học nói riêng, các em còn rất nhỏ, vốn hiểu biết chưa nhiều, các em như “Tờ
giấy trắng” các em rất thơ ngây, hiếu động, dễ bị dụ dỗ, nghe theo. Mặt khác trong
học tập có một số em còn ham chơi, ít chú ý, học không tập trung, ý thức tự giác
chưa cao. Do đó nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm cũng rất lớn trong việc giáo dục
và hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Làm thế nào để có kết quả tốt nhất cho việc

học (động cơ học tập) cho người học, phát huy mạnh mẽ các chức năng tâm lý nhận
thức (trí nhớ, hứng thú…) để lĩnh hội kiến thức. Học sinh nỗ lực tổ chức hoạt động
học tập của mình, dành thời gian tối đa có thể cho việc học tập. [17].
Ở Việt Nam, nghiên cứu về công tác chủ nhiệm ở các nhà trường phổ thông

đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm trên cả 2 phương diện lý luận và
thực tiễn. Tác giả Nguyễn Thanh Bình quan tâm sâu sắc với một số công trình: “
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông”; “Một số vấn đề trong công tác chủ
nhiệm lớp ở trường phổ thông hiện nay” (Nhà XB ĐH SP HN 2011). Các
tác giả Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ “Những tình huống giáo
dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm” NXB ĐH QG HN, 2000, Hà Nhật
Thăng chủ biên. Một số tác giả đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh khác có liên
quan đến công tác chủ nhiệm như: Bùi Ngọc Diệp, Lê Minh Châu,… với “Giáo dục
kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học” NXB
GD 2010.
Hiện nay, vấn đề này càng được chú trọng nhiều hơn và trở thành mối quan
tâm của toàn xã hội, đặc biệt của các nhà nghiên cứu giáo dục, ý kiến của các nhà
nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung mà ta thấy trong các công trình
nghiên cứu của họ là: Khẳng định vai trò quan trọng của quản lý công tác chủ nhiệm
ở các cấp học, bậc học. Đây cũng là tư tưởng mang tính chiến lược về phát triển
giáo dục của Đảng ta: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp và quản lý giáo
dục đào tạo”. Hiện nay, quản lý công tác chủ nhiệm là một vấn đề mang tính thời sự
đã được quan tâm nghiên cứu và tiếp tục nghiên cứu để đổi mới nhằm nâng cao chất
lượng dạy học trong nhà trường.

3


Quản lý công tác chủ nhiệm là quản lý cơ bản, quan trọng nhất trong công
tác quản lý trường học tiểu học. Chính vì lẽ đó, vấn đề quản lý công tác chủ nhiệm


4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Quản lí công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên trường tiểu học
Luận văn được nghiên cứu tại Trường Tiểu học Đông Ngạc A trong năm học
2018-2019
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Giáo viên chủ nhiệm là người đóng vai trò quan trọng trong nhà trường, được
Hiệu trưởng phân công chịu trách nhiệm phụ trách một lớp. Giáo viên chủ nhiệm là
người thay mặt hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý toàn diện lớp học từ giáo dục
văn hóa cho đến giáo dục đạo đức nhân cách. Chính vì thế có thể nói giáo viên chủ
nhiệm là cầu nối đa chiều giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường với
tập thể học sinh lớp chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm lớp là thủ lĩnh, là linh hồn của lớp học, là người góp
phần không nhỏ hình thành và nuôi dưỡng nhân cách học sinh, những chủ nhân
tương lai của đất nước. Giáo viên chủ nhiệm như một nhà quản lý với các vai trò:
Người lãnh đạo lớp học, người điều khiển lớp học, người làm công tác phát triển lớp
học, người làm công tác tổ chức lớp học, thực hiện việc kiểm tra sự tu dưỡng và rèn
luyện của học sinh, Một người giáo viên chủ nhiệm giỏi sẽ góp phần xâ y dựng nên
một tập thể lớp giỏi, nhiều tập thể lớp giỏi sẽ xây dựng nên một nhà trường vững
mạnh.
Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa nhà trường - gia đình và xã hội. Nếu
thực hiện thành công công tác chủ nhiệm sẽ góp phần giáo dục học sinh sau này trở
thành thế hệ trẻ năng động, sáng tạo và tài năng. Giáo viên chủ nhiệm phải là người
lãnh đạo, điều khiển lớp học, bao quát toàn bộ các phương diện của lớp học, thực
hiện việc kiểm tra, đánh giá sự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm có nhiệm vụ giáo dục học sinh thông qua tập thể giúp
các em hiểu và giải quyết mối liên hệ giữa cá nhân với tập thể qua việc phân công
nhiệm vụ một cách kịp thời cân đối, giúp học sinh tự giải quyết những vấn đề gắn
liền với hoạt động xã hội, hoạt động tập thể như cắm trại, tham quan, sinh hoạt đội,


*

Phương pháp phỏng vấn

*

Phương pháp đối chiếu

*

Phương pháp thực nghiệm khoa học

*

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

5.3. Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Phân tích số liệu bảng biểu, thống kê thông qua phiếu điều tra. Dùng một
số công thức toán học tính điểm trung bình và xếp thứ bậc để xử lý số liệu, đảm bảo
tính khách quan và chính xác của các số liệu.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hoạt động quản lý công tác chủ nhiệm tại trường tiểu học Đông Ngạc A hiện
nay còn nhiều bất cập và hạn chế về nội dung và phương pháp. Nếu tổ chức quản lý
công tác chủ nhiệm cho giáo viên trường tiểu học Đông Ngạc A bằng các biện pháp
quản lý phù hợp thì sẽ phát huy được năng lực quản lý công tác chủ nhiệm của giáo
viên, từ đó nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học tại trường tiểu học Đông Ngạc
A, thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

6


được chú trọng, Trong thời chiến việc giáo dục luôn được coi trọng, học trong mọi
hoàn cảnh, điều kiện không gian và thời gian. Đến nay, hệ thống giáo dục của nước
ta đã được thiết lập theo các cấp, các loại hình trường học theo chế độ học cả ngày,
học nửa ngày, học buổi tối cho các loại hình trường học như trường tiểu học, trung
học cơ sở thông thường, trường cao đẳng và đại học thông thường, trường học dành
cho công nhân, nông dân, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường công nghiệp kỹ
thuật, trường sư phạm, trường đào tạo nghề bậc trung học phổ thông, trường nghệ
thuật, trường thể thao, trường giáo dục đặc biệt, tất cả đều thuộc phạm trù của hệ
thống giáo dục quốc dân. Các loại hình giáo dục này về cơ bản đã hình thành nên
cục diện phối kết hợp giữa phân công và tương hỗ về cơ cấu, tạo dựng hình thái cơ
bản và cơ sở hiện thực cho hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta, bậc tiểu học có một vị trí hết sức
quan trọng, bởi đây là bậc giáo dục “nền móng” để xây dựng một “con người mới”.

8


Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi
của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy
định những trường hợp có thể học trước tuổi đối với học sinh phát triển sớm về trí
tuệ; học ở tuổi cao hơn tuổi quy định đối với học sinh ở những vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn, học sinh người dân tộc thiểu số, học sinh bị tàn tật,
khuyết tật, học sinh kém phát triển về thể lực và trí tuệ, học sinh mồ côi không nơi
nương tựa, học sinh trong diện hộ đói nghèo theo quy định của Nhà nước, học sinh
ở nước ngoài về nước; những trường hợp học sinh học vượt lớp, học lưu ban; việc

học tiếng Việt của trẻ em người dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một. [32]
1.1.1. Mục tiêu của Giáo dục Tiểu học
Giáo dục tiểu học là một phần của giáo dục phổ thông. Mục tiêu của giáo dục


tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương.
- Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.
- Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
- Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy

định của pháp luật.
- Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện

hoạt động giáo dục.
- Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các

hoạt động xã hội trong cộng đồng.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

1.1.3. Công tác chủ nhiệm lớp trong nhà trường Tiểu học
Điều lệ trường tiểu học (theo thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày
30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về ban hành Điều lệ trường TH
và thông tư số 50/2012/TT-BGDĐT ngày 18/12/2012 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT
về sửa đổi, bổ sung điều 40; bổ sung điều 40A của thông tư số 41/2010/TTBGDĐT
ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về ban hành Điều lệ trường
tiểu học Điều 2, Điều lệ Trường tiểu học cho rằng “Trường tiểu học là cơ sở giáo
dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản
và con dấu riêng”. Trường tiểu học là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học nền
tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Đây là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ
6 tuổi đến 14 tuổi thực hiện trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5. Bậc học này nhằm
giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các chức năng cơ bản để học sinh tiếp tục học

10

nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách. Xây dựng,

11


phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ giáo dục và đào tạo và nhiệm vụ
phát triển giáo dục của địa phương. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục. Quản
lý cán bộ, giáo viên. [6]
Nhân viên và học sinh. Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị
và tài chính theo quy định của pháp luật. Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá
nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục. Tổ chức cho cán bộ quản lý,
giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng.
Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.1.4. Công tác quản lý hoạt động dạy học của giáo viên tiểu học

Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là quá trình cán bộ quản lý
xác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra hoạt động dạy của giáo
viên và hoạt động học của học sinh nhằm đạt mục tiêu đề ra. Trong toàn bộ
quá trình quản lý nhà trường thì quản lý hoạt động dạy học của cán bộ quản lý
cấp Phòng và cấp trường là hoạt động cơ bản, nó chiếm thời gian và công sức
rất lớn, bởi vì nhiệm vụ hàng đầu của quản lý hoạt động dạy học là quản lý có
hiệu quả các thành tố cấu trúc của hoạt động dạy học, cần phải tạo điều kiện
và tác động cho sự cộng tác tối ưu giữa giáo viên và học sinh nhằm xác định
đúng mục tiêu, lựa chọn nội dung phù hợp kế hoạch, áp dụng hài hòa các
phương pháp, tận dụng các phương tiện và điều kiện hiện có, tổ chức linh hoạt
các hình thức dạy học, tìm ra phương thức kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học
đáng tin cậy. Quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc chấp hành các quy
định (điều lệ, quy chế, nội quy...) về hoạt động giảng dạy của giáo viên và
hoạt động học tập của học sinh, đảm bảo cho hoạt động đó được tiến hành tự
giác, có nề nếp, có chất lượng và hiệu quả cao.

xã hội hiện nay là hợp tác toàn cầu, đa phương, thừa nhận những sự khác biệt, cho
nên những con người mới phải tận dụng những cơ hội đó để cùng phát triển, cùng
đấu tranh giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống, trong đó có cả thảm họa
của thiên nhiên, chống lại những hoạt động đi ngược lại sự tiến bộ của nhân loại.
Giáo dục tiểu học đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình phát triển các

13


phẩm chất và năng lực của con người, đặc biệt đây là giai đoạn xây dựng nền móng
trí tuệ, tri thức, phẩm chất và năng lực cho học sinh, đối tượng của quá trình đổi
mới giáo dục.
Các định hướng chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo về giáo dục tiểu học hiện
nay chính là đổi mới phương pháp dạy học, hoạt động dạy học tiểu học theo hướng
lấy học sinh làm trung tâm. Hoạt động dạy học lấy học sinh làm trung tâm là thuật
ngữ dùng để miêu tả cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh nhằm tạo cơ
hội cho học sinh khám phá, tìm tòi các khái niệm và các thông tin mới với sự hỗ trợ,
khuyến khích và hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên phải luôn hướng vào học sinh,
dựa vào nhu cầu của học sinh trong suốt quá trình dạy học.
Đặc biệt định hướng chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo về giáo dục tiểu học
hiện nay còn đi sâu vào việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động dạy học, đưa ra nhiều mô hình quản lý hoạt động dạy học tiểu học
để bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên.
Tuy nhiên các mô hình còn rời rạc, chưa hệ thống, chưa phối hợp tạo thành
hệ thống các phương pháp quản lý hoạt động dạy học cụ thể để áp dụng đạt hiệu quả
trong đổi mới hoạt động dạy học ở tiểu học hiện nay. Các xu hướng chỉ đạo đổi mới
hoạt động dạy học tiểu học đã tập trung nghiên cứu đi sâu vào việc chuyển từ hoạt
động dạy học lấy kiến thức (lý thuyết) làm trọng tâm 40 sang hoạt động dạy học với
mục tiêu hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất học sinh, để từ đó làm cơ sở
cho việc đảm bảo chất lượng hoạt động dạy học tiểu học. Quan điểm này trùng khớp

nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo
để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất... Một người độc tấu vĩ cầm tự
mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.“Lao
động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt được mục
đích chung. Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của
xã hội. Trong quá trình lao động con người buộc phải liên kết lại với nhau, kết hợp
lại thành tập thể. Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp
tác trong lao động, phải có sự quản lý.”[36]
Chính vì vậy, công việc quản lý là một hoạt động xã hội có tổ chức dựa trên
sự phân công và hợp tác cụ thể để tiến hành một công việc nhằm đạt được một kết
quả như mục tiêu đặt ra. Có thể nói quản lý là một thuộc tính tất yếu gắn liền với tổ

15


chức xã hội nhưng chỉ khi tổ chức xã hội tiến lên đến một trình độ nhất định thì
công việc quản lý mới được tách ra thành chức năng riêng của hoạt động lao động
xã hội; “Xã hội càng phát triển về trình độ và quy mô sản xuất, về văn hóa, khoa
học, kỹ thuật công nghệ, thì trình độ quản lý, tổ chức, điều hành và công nghệ quản
lý cũng càng được nâng lên và phát triển không ngừng”.
Như vậy“quản lý là một trong những hoạt động vừa khó khăn, phức tạp; vừa
là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, suy thoái
hay thịnh vượng của một tổ chức, một quốc gia, thậm chí là toàn cầu. Sự phát triển
xã hội dựa vào nhiều yếu tố: sức lao động, tri thức, nguồn vốn, tài nguyên, năng lực
quản lý. Trong đó năng lực quản lý được xếp hàng đầu.”
“Quản lý là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều dạng nhưng có thể gộp
thành 3 dạng chính: Quản lý các quá trình của thế giới vô sinh (nhà xưởng, ruộng
đất, tài nguyên, hầm mỏ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, sản phẩm...). Quản lý
các quá trình diễn ra trong cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi). Quản lý các quá trình

rộng là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Quá trình đó bao gồm các hoạt
động giáo dục và có tính giáo dục của bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội, của hệ
thống giáo dục quốc dân. Quản lý giáo dục theo nghĩa h p bao gồm: quản lý các hoạt
động GD - ĐT diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, toàn quốc) và quản
lý các hoạt động GD - ĐT diễn ra trong các cơ sở giáo dục.

Các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục đã đưa ra nhiều quan niệm về quản
lý giáo dục như sau:
Theo các nhà khoa học nước ngoài: M.I. Kôndakốp: “ Quản lý giáo dục là
tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở
các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống… nhằm đảm bảo việc giáo dục
cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ
trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung của xã hội cũng như các quy
luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm
trí của trẻ em …” [33].
Bush T: “ Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và
hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới các đối tượng quản lý giáo dục theo
cách sử dụng các nguồn lực càng hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra” [44].
Khuđôminski: “Quản lý giáo dục là tác động hệ thống có kế hoạch, có ý

17


thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các
khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản xã hội chủ nghĩa
cho thế hệ trẻ”[37].
Dựa trên khái niệm khoa học và tổng kết thực tiễn giáo dục Việt Nam, nhiều
tác giả trong nước đã khẳng định: Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục nói chung là
thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là
đưa nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu ĐT theo nguyên lý GD” [4].

những tác động có mục đích, kế hoạch, hợp quy luật để vận hành cả một hệ thống
hoạt động theo đúng yêu cầu đặt ra cho giáo dục. Quản lý giáo dục được thể hiện rõ
nhất ở hoạt động giáo dục trong nhà trường. Với sự thống nhất trên, có thể hiểu:
Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của người quản lý giáo dục
trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản
lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được mục tiêu mà giáo dục đề ra.Quản lý giáo
dục không những là nhân tố quyết định đến sự phát triển của giáo dục mà còn là yếu
tố quan trọng tác động đến chất lượng giáo dục và đào tạo.
Như vậy, quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà
quản lý trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch
nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động này có tính khoa học đến nhà
trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch trong việc dạy
và học theo mục tiêu đào tạo chung.
Quản lý nhà trường có thể chia làm hai cấp độ là cấp vĩ mô và cấp vi mô. Quản
lý giáo dục cấp vĩ mô là quản lý cả hệ thống giáo dục bao gồm tất cả các thành tố của
hệ thống, trong đó quản lý nhà trường là trọng tâm. Quản lý nhà trường là quản lý cấp
vi mô. Dựa trên khái niệm khoa học và tổng kết thực tiễn giáo dục Việt Nam, khi nói về
quản lý nhà trường cũng có nhiều tác giả khẳng định: Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà
trường là tổ chức hoạt động dạy học. Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện
được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN mới quản lý được giáo
dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện
thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước" [13].

Trần Kiểm: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng
trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý
giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối
với thế hệ trẻ và từng học sinh" [23].
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status