MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài.
1
1.2. Mục đích nghiên cứu.
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.I. Cơ sở lí luận.
2
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
3
bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc
sống con người.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để
sống và phát triển.
Trong những năm gần đây tốc độ phát triển các khu công nghiệp, cùng
với tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu, nền kinh tế nước ta phát triển nhanh
chóng. Khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển giúp người lao động thủ công
thay thế bằng những máy móc, năng suất lao động tăng, nâng mức sống con
người ngày càng cao, mức sống của nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt.
Nhưng bên cạnh kết quả thu được cũng không ít tác hại riêng của nó, đó là
những chất thải công nghiệp đã gây ra ảnh hưởng môi trường và đã trở thành
nạn ô nhiễm. Hơn thế nữa, tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay ngày càng
cao bởi những trận động đất, những cơn sóng thần làm mất mát, thiệt hại về tiền
của và tài sản của con người, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế và khả năng hồi
phục sau những thiên tai ấy là rất lớn. Đứng trước tình trạng này, con người
phải có biện pháp làm trong sạch môi trường sống, bởi vì mục tiêu đào tạo con
người trong giai đoạn mới ở nước ta là phát triển con người toàn diện “Cao trí
tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
Chính vì thế nhà trường cần làm tốt việc giáo dục và bảo vệ môi trường. Bảo vệ
môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải
thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu
quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng
hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Đồng thời để bảo vệ môi trường có
hiệu quả thiết thực hơn nữa chúng ta cần phải thực hiện nhiều biện pháp khác
nhau, trong đó biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được xem là hiệu
quả tốt nhất cho học sinh Tiểu học. Bởi vì bậc Tiểu học là bậc học nền móng,
bậc phổ cập của hệ thống giáo dục quốc dân. Học sinh Tiểu học đang ở độ tuổi
định hướng và phát triển nhân cách. Giáo dục các em là cơ sở ban đầu làm nền
tảng cho việc hình thành đứa trẻ trở thành những công dân tốt cho đất nước. Kết
quả thực hiện mục tiêu giáo dục môi trường phải là sự kết hợp nhuần nhuyễn
- Đọc tài liệu.
- Nói chuyện các chuyên đề có nội dung liên quan đến giáo dục môi trường.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Môi trường cung
cấp các nguồn tài nguyên cần thiết phục vụ cho đời sống và sản xuất. là nơi
chứa đựng và phân huỷ các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống, là nơi
lưu trữ và cung cấp các nguồn thông tin.
Môi trường Việt Nam và trên thế giới đang bị ô nhiễm và bị suy thoái
nghiêm trọng gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của một bộ phận lớn cư
dân trên trái đất. Bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp bách, nóng bỏng không
chỉ ở Việt Nam mà cả trên toàn thế giới. Một thực tế đáng lo ngại hiện nay là
môi trường không chỉ ô nhiễm ở các nhà máy, các khu công nghiệp, bệnh viện,
đường xá mà ngay cả ở trong một số cơ quan, trường học,…cũng bị ô nhiễm.
Rác thải xuất hiện ở khắp các nơi, chỗ nào cũng có thể thấy rác, từ quán ăn,
chợ, trên đường, tại các trường học, bệnh viện cho đến các sông hồ,… có nhiều
nguyên nhân gây nên tình trạng này trong đó có nguyên nhân do sự thiếu hiểu
biết về môi trường. Do đó GDBVMT phải là một nội dung giáo dục quan trọng
nhằm đào tạo con người có kiến thức, có đạo đức về môi trường, có năng lực
phát hiện và xử lí các vấn môi trường trong thực tiễn
2
Giáo dục BVMT nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu
biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó (nhận thức); những khái
niệm cơ bản về môi trường và BVMT (kiến thức) ; những tình cảm, mối quan
tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường (thái độ, hành vi) ; những kĩ năng
giải quyết cũng như cách thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia (kĩ
nhỏ nên dễ nhớ nhưng cũng dễ quên, nếu không nhắc nhở thường xuyên, liên
tục thì khuôn viên, lớp học, nơi công cộng vẫn là nơi chứa đựng rác thải sinh
hoạt...
Ở trường tiểu học Đông Hải 2 cũng vậy, như bao trường ở nông thôn
khác ý thức giữ gìn vệ sinh của học sinh cũng như một bộ phận lớn phụ huynh
chưa tốt, có thể nói là kém, ném giấy, rác thải sinh hoạt tùy tiện, dủ kiểu, đủ
loại. chỗ nào cũng có rác, kẹo cao su, lớp học nào cũng có giỏ đựng rác, dụng
cụ dọn rác... gây thiếu mỹ quan cũng như môi trường lớp học cũng như khuôn
viên trong và ngoài nhà trường.
2.2.1. Thuận lợi:
3
- Vị trí nhà trường: Trường nằm vị trí gần chợ, sát nhà dân và đường giao
thông. Cây xanh ngày càng được quan tâm, đầu tư, tăng về số lượng đảm bảo
môi trường trong lành.
- Được sự quan tâm của các cấp chính quyền lãnh đạo, Uỷ ban nhân dân,
Hội đồng nhân dân, trạm y tế phường về công tác giữ gìn, bảo vệ môi trường.
- Có những văn bản cụ thể về giáo dục và bảo vệ môi trường.
- Chương trình giáo dục được lồng ghép trong các môn học, các tiết học ở
tất cả các cấp học.
2.2.2. Khó khăn
- Ý thức của nhiều người dân và học sinh về môi trường và bảo vệ môi
trường chưa thật sự tự giác, sự hiểu biết của nhiều người dân về môi trường còn
hạn chế, chỉ biết cái lợi trước mắt, vô tư ném, vứt rác bừa bãi khi không còn sử
dụng.
- Hệ thống cống rãnh trong và ngoài khu vực trường chưa hoàn thiện,
nhiều hộ dân còn dùng phân tươi để trồng trọt, việc nuôi thả rông xúc vật còn
phổ biến...
- Cây xanh mới chỉ tạo được cảnh quan và môi trường trong lành còn cây
10/338
Rất ít
4%
29%
Từ những kết quả khảo sát như trên tôi thấy ngay sự quan tâm của học
sinh đến môi trương xung quanh là rất ít, chiếm tỷ lệ rất nhỏ, ý thức bảo vệ môi
trường kém, hành vi tự nhặt rác để vào nơi quy định gần như không có, một
thực tại đáng phải suy ngẫm. Phải làm gì và làm như thế nào, đó là vấn đề tôi
luôn suy nghĩ để nâng cao kết quả giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ đồng thời
nhắc nhở cả phụ huynh, làm cho họ có ý thức bảo vệ môi trường, hãy sống cho
mình và cả tương lai của con em mình sau này. Và đó cũng chính là lý do tôi
đưa ra một số biện pháp cơ bản sau đây để giải quyết tình trạng này.
2.3. Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học.
4
2.3.1. Công tác tuyên truyền.
Để nhiều người biết được ảnh hưởng của môi trường đến cuộc sống của
con người cũng như những việc làm gây ảnh hưởng tới môi trường thì biện
pháp đầu tiên tôi áp dụng đó là công tác tuyên truyền, qua học sinh sẽ tác động
đến phụ huynh, hình thức là: Qua các buổi chào cờ, các tiết học trên lớp, qua
các buổi ngoại khóa, cho học sinh biết về tầm quan trọng của môi trường xung
quanh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần của mỗi người. Bảo vệ môi
trường chính là bảo vệ sự sống của chúng ta và cũng chỉ bằng những việc làm
cụ thể đơn giản như:
+ Tiết kiệm điện, nước ở cơ quan cũng như ở nhà, tiết kiệm mọi lúc, mọi
nơi. Khuyến khích mọi người sử dụng những bóng đèn tiết kiệm năng lượng, tắt
điện vào giờ trái đất, tắt điện, quạt khi rời khỏi phòng, cơ quan, tránh để nước rò
thực hàng ngày lúc ở trường cũng như ở nhà, nơi công cộng góp sức mình trong
việc giữ gìn môi trường Xanh- Sạch-Đep.
Ví dụ: Ở Môn : Tiếng Việt
5
Nội dung tích hợp GDBVMT trong môn Tiếng Việt lớp 1 bao gồm :
+ Giới thiệu về một số cảnh quan thiên nhiên, gia đình, trường học (môi
trường gần gũi với HS lớp 1) qua các ngữ liệu dùng để dạy các kĩ năng đọc
(Học vần, Tập đọc), viết (Chính tả, Tập viết), nghe - nói (Kể chuyện).
+ Giáo dục lòng yêu quý, ý thức bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp
qua các hành vi ứng xử cụ thể : bảo vệ cây xanh, giữ gìn vệ sinh môi trường và
danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước.
Nội dung tích hợp GDBVMT trong môn Tiếng Việt lớp 2 bao gồm :
+ Giới thiệu thiên nhiên và môi trường, cuộc sống xã hội (đặc biệt là cuộc
sống ở gia đình, nhà trường và ngoài xã hội) được đề cập đến qua các ngữ liệu
dùng để dạy kiến thức và kĩ năng, thể hiện ở các phân môn : Tập đọc, Kể
chuyện, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn. Giúp HS hiểu được ý
nghĩa của môi trường Xanh - Sạch - Đẹp đối với việc nâng cao chất lượng cuộc
sống con người
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường : không phá hoại môi trường tự
nhiên, trồng cây gây rừng và làm đẹp cảnh quan môi trường xung quanh; yêu
quý gia đình, bạn bè, quê hương đất nước.
Nội dung tích hợp GDBVMT trong môn Tiếng Việt lớp 3 bao gồm :
+ HS hiểu biết một số cảnh quan tươi đẹp của môi trường tự nhiên của
các địa phương trên đất nước ta qua các ngữ liệu dùng để dạy kiến thức và kĩ
năng, thể hiện ở các phân môn : Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập viết, Luyện
từ và câu, Tập làm văn.
HS thấy được tác hại của việc phá hoại môi trường : gây nên những
thiệt hại lớn qua các trận lũ, giông.
thức ăn, nước uống từ môi trường.)
Một số đặc điểm chính của môi trường
Môi trường và tài nguyên thiên nhiên
và tài nguyên thiên
Sự ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm không khí, nguồn nước.)
Bảo vệ, cách thức làm nước sạch, tiết
Biên pháp bảo vệ môi trường
kiệm nước; bảo vệ bầu không khí
Chủ đề về Môi trường và các nội dung tích hợp lớp 5
Con người và môi trường
- Mối quan hệ giữa con người với môi
trường: con người cần đến không
khí thức ăn, nước uống từ môi
trường.
Môi trường và tài nguyên thiên nhiên Một số đặc điểm chính của môi trường
và tài nguyên thiên nhiên.
Sự ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm không khí, nguồn nước.
Biên pháp bảo
Bảo vệ, cách thức làm nước sạch, tiết
vệ môi trường
kiệm nước; bảo vệ bầu không khí.
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Lịch sử và Địa lý
Môn
Bài
Lớp
- Bài: Nhà Trần và việc đắp đê; Chùa thời Lý; Kinh thành
Lớp 4:
Lịch Huế…
- Ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ thể hiện người có nếp sống,
sinh hoạt văn hóa, góp phần giữ gìn vệ sinh MT, làm
cho MT thêm sạch, đẹp, văn minh.
- Giữ gìn sách, vở, đồ dùng học tập cẩn thận, sạch đẹp là
3- Giữ gỡn sách vở
một việc làm góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên
đồ dùng học tập
nhiên, giữ gìn, bảo vệ môi trường, góp phần làm cho
môi trường phát triển bền vững.
- Gia đình chỉ có hai con là hạn chế gia tăng dân số, góp
4- Gia đình em
phần giữ gìn , ổn định và BVMT.
14- Bảo vệ cây và - Yêu quý và gần gũi với thiên nhiên, yêu thích các loài
hoa nơi công
cây và hoa.
cộng
- Không đồng tình với các hành vi, việc làm phá hoại cây
và hoa nơi công cộng.
- Thái độ ứng xử thân thiện với môi trường qua bảo vệ
các loài cây và hoa
Nội dung tích hợp GDBVMT trong môn Đạo đức ở lớp 2 bao gồm :
Tên bài
Nội dung tích hợp
- Sống gọn gàng, ngăn nắp làm cho MT nhà cửa và xung
3-Gọn gàng ngăn
quanh thêm sạch sẽ, góp phần làm sạch, đẹp môi trường,
nắp
bảo vệ môi trường.
- Chăm làm việc nhà phù hợp với lứa tuổi và khả như:
trường, lớp tổ chức
8
- Đoàn kết với thiếu nhi quốc tế trong các hoạt
Bài 9: Đoàn kết với
động bảo vệ môi trường, làm cho môi trường
thiếu nhi quốc tế
thêm xanh, sạch, đẹp.
- Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước là góp phần bảo
Bài 13: Tiết kiệm và bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên, làm cho môi trường thêm
vệ nguồn nớc
sạch đẹp, góp phần BVMT
Bài14: Chăm sóc cây
- Tham gia bảo vệ, chăm sóc cây trồng, vật nuôi là
trồng vật nuôi
góp phần phát triển, giữ gìn và bảo vệ môi trường.
Nội dung tích hợp GDBVMT trong môn Đạo đức ở lớp 4 bao gồm :
Tên bài
Nội dung tích hợp
Bài 3. Biết bày tỏ ý - Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến về những vấn đề có
kiến
liên quan đến trẻ em, trong đó có vấn đề môi trường.
- HS cần biết bày tỏ ý kiến với cha mẹ, với thầy cô giáo, với
chính quyền địa phương về môi trường sống của em trong gia
đình ; về môi trường lớp học, trường học ; về môi trường ở
cộng đồng địa phương,…
Bài 4:
Nội dung tích hợp
- Biết hợp tác với bạn bè và mọi người để bảo vệ môi trường gia đình, nhà trường, lớp học và địa phương.
- Tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi
trường là thể hiện tình yêu quê hương.
Một số di sản (thiên nhiên) thế giới của Việt Nam và một
số công trình lớn của đất nước có liên quan đến môi trường như: Vịnh Hạ Long, Phong Nha- Kẻ Bàng, Thuỷ
điện Sơn La, Thuỷ điện Trị An,..; Tích cực tham gia các
hoạt động bảo vệ môi trường là thể hiện tình yêu đất nước.
- Một số hoạt động của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường ở Việt Nam và trên thế giới.
- Một vài tài nguyên thiên nhiên ở nước ta và ở địa phương. Vai trò của tài nguyên thiên nhiên đối với cuộc sống
9
thiên nhiên
con người.
- Trách nhiệm của HS trong việc tham gia giữ gìn, bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên (phù hợp với khả năng).
Nội dung tích hợp giáo dục BVMT trong môn Mĩ thuật.
* Đối với lớp: 1 - 2
- Giáo dục học sinh yêu mến vẻ đẹp của hoa trái, cỏ cây, có ý thức bảo vệ vẻ
đẹp của thiên nhiên.
- Yêu mến các con vật, có ý thức bảo vệ các con vật.
- Yêu mến cảnh đẹp quê hương, có ý thức giữ gìn môi trường
* Đối với lớp: 3 – 4 - 5
- Giáo dục học sinh yêu mến các con vật, có ý thức chăm sóc bảo vệ các con
vật. (lớp 5 : là vật nuôi)
- Phê phán những hành động săn bắt động vật trái phép.(lớp 5 : dùng mìn,
2.3.5. Thông qua việc tổ chức giờ ăn, ngủ của học sinh bán trú.
Đây là hoạt động nhằm hình thành các nền nếp, thói quen trong sinh hoạt
hàng ngày có tính giáo dục cao, vì ở nhà, đặc biệt là nông thôn, phụ huynh đi
làm không ổn định thời gian, việc chăm sóc con cái nhiều khi không được chu
đáo dẫn đến việc ăn, ngủ, sinh hoạt, học hành của các em thiếu đi nền nếp. Ăn,
ngủ học hành chưa khoa học, vì vậy, khi các em tham gia bán trú ngoài việc học
sinh được dần đưa vào nền nếp ăn theo tiêu chuẩn, ngủ đúng giờ, còn được rèn
luyện thêm về tính tự lập, giữ vệ sinh cá nhân ( quần áo phải sạch sẽ, rửa tay
trước khi ăn, rửa mặt khi ngủ dậy, biết dọn bàn sau khi ăn, không ném rác bừa
bãi hoặc biết ném rác đúng nơi quy định...) hoặc trong khi ăn không nói chuyện,
biết tiết kiệm trong bữa ăn, rửa miệng sau khi ăn, không xả nước nhiều, thức
dậy đúng giờ....tóm lại: việc giáo dục BVMT cho học sinh bán trú rất thuận lợi,
các em được hưởng nhiều giáo dục khoa học cần thiết cho mỗi cá nhân và là
điều kiện phát triển cho ý thức tốt sau này.
2.3.6. Thông qua hoạt động tham quan, du lịch, hoạt động ngoại khóa.
Hàng năm nhà trường thường tổ chức cho các em đi xem tại nhà hát,
thăm cảnh quan tại địa phương, đây là hoạt động rất bổ ích cho các em nhưng
cũng rất khó khăn trong quản lý cho thầy, cô, vì còn nhỏ nên các em rất hiếu
động, tò mò lại được đi chơi nên các em rất thích. Bởi vì địa điểm đến là nơi
công cộng nên trước khi đi các thầy cô đã hướng dẫn các em những việc không
nên làm, những điều không nên nói, không nói tục, không ăn quà vặt, không
đùa nghịch, không nói to..., khi đến nơi thầy cô hướng dẫn cho các em quan sát
khung cảnh xung quanh, nhận xét về cảnh quan môi trường nơi đến để các em
biết so sánh, học tập, làm theo như ( trong rạp hát không ồn ào, không ăn quà
vặt, không xô đẩy nhau, ngồi ngay ngắn...); trên xe ôtô phải biết nhường nhau
chỗ ngồi, không xô đẩy, không làm mất vệ sinh...); trong công viên: không bẻ
cành, không ngắt hoa, không chạy lộn xộn, không ném rác bừa bãi, thấy cái đẹp
để nhận xét, học tập..., khi đến đề chùa biết giũ trật tự nơi tôn nghiêm...
vực đảm nhiệm của mỗi lớp, bồn hoa, cây xanh được phân công chăm
sóc...hàng tuần được đội cờ đỏ ghi chép và được cô giáo TPT nhận xét vào thứ
6 hàng tuần, xếp loại chi đội, sao theo quy định và được biểu dương trước cờ
vào sáng thứ 2 đầu tuần.
2.3.10. Giáo dục học sinh thông qua hoạt động nêu gương.
Hoạt động nêu gương cũng là một trong những hoạt động để tôi thực
hiện nhiệm vụ GDBVMT cho trẻ một cách có chiều sâu, giúp cho trẻ có ý thức
bảo vệ môi trường một cách hiệu quả nhất.Vào những buổi chào cờ, giờ thể dục
giữa giờ tôi hoặc cô giáo tổng phụ trách đội biểu dương những việc làm tốt
trong tuần của cá nhân hay tập thể lớp việc làm này được thực hiện liên tục nên
tác dụng có hiệu quả khích lệ các em, giáo viên chủ nhiệm cũng có tránh nhiệm
hơn trong việc giáo dục BVMT lớp học, khuôn viên nhà trường.
2.3.11. Thông qua phương tiện công nghệ thông tin .
Trong giai đoạn hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công
tác giảng dạy là vô cùng quan trọng, sử dụng công nghệ thông tin giúp cho trẻ
có tư duy trực tiếp để phát huy tính tích cực của trẻ, trẻ hứng thú bao nhiêu thì
kết quả đạt được càng lớn. Nếu lựa chọn đề tài để dạy trẻ trên mọi tiết học mà
chỉ có tranh ảnh hoaqwcj giảng giải không thì trẻ rất dễ bị nhàm chán, chất
lượng giáo dục học sinh chắc chắn sẽ không cao. Chính vì vậy mà tôi luôn chỉ
đạo cho giáo viên sưu tầm hình ảnh gây ảnh hưởng tới môi trường để các em
quan sát, thấy được tác hại của mọi hoạt động của con người tới môi trường
sống như thế nào qua đó để các em biết tránh, không làm những việc có ảnh
hưởng tới sức khỏe bản thân cũng như của người khác, mặt khác qua những
hình ảnh trên khắp thế giới ( những ống khói của những khu công nghiệp, khí
12
thải từ những phương tiện giao thông, những chai thuốc trừ sâu vứt bừa bãi sau
khi sử dụng, những bãi rác có ở khắp mọi nơi, những cánh rừng bị chặt phá,
cảnh động vật bị săn bắt, nổ mìn đánh bắt cá, những con sông đen ngòm, những
chất thải tùy tiện,
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi thực hiện một số biện pháp đã nêu trên tôi đã thực hiện khảo sát
lại học sinh trong toàn trường ( Tính đến hết tháng 3 năm 2018) và đã có kết
quả như sau:
2.4.1. Kết quả đạt được.
Số
Nội dung khảo sát
Kết quả đạt được
13
TT
Số lượng
Tỉ lệ(%)
1 Sự quan tâm của học sinh đến môi trường
xung quanh.
200/338
59%
2 Biết được ảnh hưởng của môi trường đến
318/338
94%
sức khỏe con người
3 Thái độ của HS về vấn đề môi trường
300/338
88%
4 Hành vi cải tạo môi trường
260/338
77%
5 Ý thức bảo vệ môi trường của HS
được điều này các trường Tiểu học cần phát triển hơn nữa, xứng đáng với tầm
cao chiến lược của đất nước ta là đào tạo con người phát triển toàn diện,
Học sinh bậc Tiểu học còn nhỏ hầu hết là con em địa phương, ý thức về
vệ sinh môi trường còn hạn chế, ý thức tự giác chưa cao nên để nâng cao dần
nhận thức và giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường phải đi từ những việc
14
làm rất nhỏ, rất cụ thể từ biết giữ gìn vệ sinh chung, biết thu gom rác bỏ đúng
nơi quy định, biết chăm sóc bảo vệ cây xanh, biết vệ sinh lớp học… chắc chắn
cùng với sự lớn dần của các em sẽ ý thức ngày càng rõ về môi trường và biết
tham gia bảo vệ môi trường. “Mỗi người cần có trách nhiệm bảo vệ môi trường
ngay từ trong ý thức”.
- Giáo dục bảo vệ môi trường là hình thành cho các em những hiểu biết
về môi trường sống của con người. Các em có những kỹ năng. Thói quen bảo vệ
môi trường và có thái độ tình cảm tốt biết yêu quý, gần gũi với thiên nhiên…
tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường ở lớp học, ở trường và ở
gia đình.
- Các thầy cô giáo nắm chắc nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, tích
cực năng nổ trao đổi kinh nghiệm, cải tiến và vận dụng linh hoạt các phương
pháp giảng dạy. Có ý thức tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào
các bài dạy trong chương trình quy định và trong các hoạt động ngoài giờ lên
lớp. Phối hợp với các bậc phụ huynh tuyên truyền phổ biến kiến thức, kỹ năng
giáo dục bảo vệ môi trường tại cộng đồng.
- Ban giám hiệu nhà trường đẩy mạnh triển khai việc thực hiện chuyên đề
đến 100% giáo viên. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc nhắc nhở trong mọi hoạt
động. đặc biệt là hướng dẫn các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường. Chú
trọng việc xây dựng môi trường “xanh – sạch – đẹp” và an toàn.
- Các tổ chức đoàn thể, chính quyền các cấp cần thực hiện đúng và
nghiêm khắc đối với việc giáo dục và BVMT. Nếu thực hiện tốt những điều
...........................................................
Cao Ngọc Nam
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÁO DỤC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Người thực hiện: Cao Ngọc Nam
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường TH Đông Hải 2
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý
THANH HÓA NĂM 2018
16
17